Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1986

TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1986

Tải bản đầy đủ - 0trang

lớn. Đó cũng chính là điều kiện cho các nơng trường quốc doanh ở miền

Tây Nghệ An ra đời và phát triển.

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

Về cơ bản, những đồn điền lớn do người Pháp thiết lập đều tập trung

ở các huyện thuộc vùng trung du miền núi như: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ

Châu, Đô Lương và Anh Sơn. Huyện Nghĩa Đàn có mức độ tập trung các

đồn điền của người Pháp nhiều nhất vì nơi đây có diện tích đất đỏ lớn nhất

của tỉnh, thuận lợi phát triển chăn nuôi và kinh doanh cây công nghiệp.

Điều đó thể hiện sự độc quyền của tư bản Pháp trong việc kinh doanh đồn

điền.

Miền Tây Nghệ An đã tiếp nhận các lực lượng lao động từ các vùng

miền khác nhau, như: Lực lượng bộ đội đội miền Nam tập kết ra Bắc để

xây dựng vùng kinh tế mới xã hội chủ nghĩa và lực lượng lao động ở các

địa phương sau này thành các lực lượng chủ đạo trong các nông trường.

2.1.3.Chủ trương xây dựng và phát triển nông trường của Đảng

Trước thời kì đổi mới, Đảng đã xác định một cách cụ thể về vị trí, vai

trò của hệ thống nông trường quốc doanh trong các nghị quyết Đại hội của

Đảng, như: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng

Lao Động Việt Nam (1960); Ngày 13/1/1961, Ban Bí thư ban hành Thơng

tư số 14-TT/TW; Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của

Đảng năm 1976; Nghị quyết của Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ V

(1982).

2.2. Q trình ra đời và hệ thống tổ chức

2.2.1. Q trình ra đời

Nơng trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An được hình thành từ ba

nguồn: Quốc hữu hóa các đồn điền của thực dân Pháp, của tư bản hoặc của

10



địa chủ phong kiến Việt Nam; Các Liên đồn sản xuất nơng nghiệp do cán

bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc; Những nông trường quân đội được

thành lập theo chủ trương chuyển ngành hàng loạt bộ đội sang làm kinh tế.

2.2.2. Hệ thống tổ chức

Cơ cấu tổ chức nông trường quốc doanh về cơ bản đều học tập theo

mơ hình của Liên Xô: đứng đầu là giám đốc, giúp việc cho giám đốc là các

phó giám đốc và phòng ban; các nông trường chia thành các khu vực sản

xuất, gồm các đội và tổ. Nhìn chung, cơ cấu tổ chức nơng trường Liên Xô

tinh giản hơn so với nông trường ở Việt Nam. Tuy cơ cấu tổ chức của các

nông trường trên phạm vi cả nước nói chung, ở miền Tây Nghệ An nói

riêng vào thời điểm đó còn cồng kềnh, có tính chất phân tán, chưa tập

trung, nhưng phù hợp với hồn cảnh đất nước đang có chiến tranh.

2.3. Hoạt động của nông trường giai đoạn 1956 – 1975

2.3.1. Khai hoang, lao động sản xuất

Trong những năm 1956 - 1965, các nông trường quốc doanh ở miền

Tây Nghệ An xây dựng, phát triển và thực hiện các nhiệm vụ chính trị do

Đảng và Nhà nước giao trong thời bình. Các nơng trường khơng ngừng

khai hoang mở rộng diện tích gieo trồng với các loại cây trồng như cây

công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, và các loại cây công nghiệp khác

như thuốc lá, vừng, bông, lạc, cây lương thực như lúa, ngô và cây ăn quả

như cam, dứa, qt. Nơng trường quốc doanh khơng chỉ hình thành vùng

chun canh về cây trồng, mà còn trở thành vùng tập trung chăn nuôi quy

mô lớn.

Giai đoạn 1965 - 1975, nông trường chuyển tất cả các hoạt động từ

thời bình sang thời chiến. Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An là

vị trí quan trọng thường xuyên bị đánh phá. Do vậy nhiệm vụ của các nông

11



trường trong giai đoạn này là vừa sản xuất, vừa chiến đấu và sẵn sàng

chiến đấu. Trong thời điểm này, các nông trường thực sự trở thành nơi dự

trữ sức người, sức của, thành những cơ sở chiến đấu cho cả hai miền Nam

- Bắc. Mặc dầu chiến tranh diễn ra ác liệt, nhưng các nơng trường vẫn

hồn thành các nhiệm vụ nhà nước đề ra, nhiều nông trường vượt mức kế

hoạch.

2.3.2. Tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu

Các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An không chỉ cung

cấp vật lực, mà còn cung cấp nguồn nhân lực cho chiến trường, làm tròn

nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam đánh Mỹ.

Ngoài ra, trong chiến đấu các nông trường luôn nêu cao tinh thần tự

giác đấu tranh. Địa bàn các nông trường vừa trở thành căn cứ hậu phương

của tỉnh Nghệ An, vừa trở thành các trận địa bắn máy bay, bảo vệ giao

thông vận tải, nơi sơ tán của các cơ sở sản xuất công nghiệp trong tỉnh,

điểm dừng chân của con đường vận tải chi viện cho miền Nam. Lực lượng

phòng khơng bảo vệ các địa phương khơng chỉ có dân qn, mà còn có lực

lượng bộ đội tự vệ. Các lực lượng này phối hợp chiến đấu tạo nên hệ thống

phòng khơng nhân dân dày đặc, đánh địch ở mọi tầng cao và chiến đấu

khắp mọi vùng.

2.3.3. Đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, công nhân nông

trường

Bên cạnh hoạt động sản xuất, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến

đấu, các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An còn quan tâm đến

đời sống cán bộ, cơng nhân nơng trường trên các phương diện, như: trình

độ văn hóa, vấn đề sức khỏe, nhà ở, văn nghệ, thể dục thể thao, trong hồn

cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc chăm lo đời sống

12



vật chất và tinh thần cho cơng nhân lao động đã có chủ trương và biện

pháp cụ thể, nhiều nghị quyết chuyên đề của Ban chấp hành, nhưng trong

thực tế vẫn còn ít đơn vị thực hiện được việc tổ chức làm ăn tập thể để giải

phóng sức lao động, nhất là lao động nữ, nên sức sản xuất làm ra của cải

rất thấp.

2.4. Hoạt động nông trường giai đoạn 1975 - 1986

2.4.1. Nông trường quốc doanh miền Tây Nghệ An trước yêu cầu

nhiệm vụ mới

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xn năm 1975

đã giải phóng hồn tồn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nhưng tình hình

thực tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khắn: cơ sở vật chất bị tàn phá; bị bao

vấy cấm vận; viện trợ các nước xã hội chủ nghĩa giảm sút; thiên tai liên

tiếp diễn ra; việc cung ứng vật tư, tiền vốn cho các đơn vị thuộc kinh tế

quốc doanh bị cắt giảm; nhà nước cũng khơng có đủ hàng để trao đổi với

nông dân để thu mua nông sản theo giá kế hoạch.

Trên cả nước, hệ thống nông trường quốc doanh cũng được đầu tư xây

dựng rộng khắp. Tuy nhiên, nhìn chung, kết quả tổng thể của các nông

trường quốc doanh trong cả nước đưa lại chưa tương xứng với sự đầu tư to

lớn của nhà nước

2.4.2. Nông trường quốc doanh miền Tây Nghệ An khơi phục sản

xuất sau chiến tranh

Trước hồn cảnh khó khăn, các nơng trường quốc doanh ở miền Tây

Nghệ An đã thanh lí các vườn cây già cỗi, thay thế bằng các vườn cây mới

đảm bảo năng suất sản lượng ổn định và kinh doanh có hiệu quả. Các loại

cây như cà phê, cao su, cam vẫn là cây trồng chủ lực của các nơng trường.

Diện tích trồng các loại cây công nghiệp lâu năm không giảm sút mà được

13



mở rộng. Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, thuốc lào, đậu

tương, vừng lạc… cũng được chú trọng.

Có thể nói trong những năm đầu tiên sau khi đất nước thống nhất,

các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An đã có nhiều nỗ lực trong

khắc phục hậu quả chiến tranh. Tuy nhiên, một số hạn chế trong cơ chế

quản lí đã xuất hiện và bộc lộ ngày một rõ nét. Điều này đưa đến tình trạng

khủng hoảng của các nông trường ở miền Tây Nghệ An và những bước đi

đầu tiên nhằm thích ứng với cơ chế quản lí kinh tế mới trên cả nước.

2.4.3. Khó khăn của các nơng trường và những tín hiệu chuyển

đổi mơ hình quản lý

Tại các nơng trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An, mặc dù được

đánh giá là hoạt động khả quan hơn so với một số nông trường khác trên

cả nước, song khó khăn cũng ngày một nặng nề. Tại các nông trường như

Nông trường Đông Hiếu, Nông trường Cờ Đỏ, Nông trường 1/5 trong giai

đoạn này vườn cây lâu năm bị giảm sút cả về diện tích, năng suất và chất

lượng sản phẩm; nhiều đàn gia súc bị chết; sản xuất khơng có hiệu quả.

Lương thực khan hiếm, cơng nhân ăn mì hạt, mì bột, có những lúc phải

luộc sắn phát cho công nhân. Trong sinh hoạt, nhà ở dành cho cơng nhân

vơ cùng khó khăn.

Thực trạng khủng hoảng trong tất cả các ngành kinh tế, cơ chế quan

liêu ngột ngạt đã dẫn đến tình trạng “bung ra ngoài sản xuất” trong các

ngành. Đổi mới trở thành nhiệm vụ cấp bách của các nông trường, để giải

quyết vấn đề tồn tại hay khơng tồn tại.



14



CHƯƠNG 3

NƠNG TRƯỜNG QUỐC DOANH Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

3.1. Yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý và hoạt động của nông

trường quốc doanh miền Tây Nghệ An giai đoạn 1986 - 1997

3.1.1. Yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) là đại hội mở đầu quá

trình đổi mới toàn diện đất nước, trọng tâm và trước hết là đổi mới về kinh

tế. Sau Đại hội nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển đổi về cơ chế quản

lý, từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp đã từng bước chuyển

sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Những thay

đổi trên đây đã tác động đến tình hình sản xuất nơng nghiệp nói chung, các

nơng trường quốc doanh nói riêng.

Việc chuyển đổi các nơng trường quốc doanh trên phạm vi cả nước

nói chung, ở miền Tây Nghệ An nói riêng trở thành một vấn đề bức thiết,

vừa phù hợp với nhu cầu thực tiễn, vừa khắc phục những hạn chế và phát

huy những thế mạnh sẵn có của nông trường. Sự chuyển đổi của các nông

trường diễn ra trên các lĩnh vực: hệ thống tổ chức, cách thức quản lý và

hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.1.2. Tổ chức bộ máy

Hệ thống tổ chức nông trường quốc doanh trong giai đoạn này so với

hệ thống tổ chức nông trường quốc doanh thời kỳ bao cấp đã có sự chuyển

biến. Bộ máy quản lý gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả. Các khu vực sản xuất

nay đã được thay thế bởi các đội sản xuất, để ban lãnh đạo dễ quản lý. Các

phòng ban và bộ phận lao động trực tiếp đã phối hợp cơng việc có hiệu

quả hơn. Hệ thống tổ chức nông trường chuyển đổi phù hợp với cơ chế

15



mới của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh những ưu điểm, hệ thống tổ chức

của nơng trường còn tồn tại những hạn chế nhất định, như: chi phí gián

tiếp còn lớn làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, đã có sự phân cơng

nhiệm vụ giữa các phòng ban, nhưng cơng việc nghiên cứu tìm kiếm thị

trường chưa được phân định rõ ràng.

3.1.3. Phương thức quản lý “khoán”

Năm 1989, Nông trường Tây Hiếu 1 là nông trường tiên phong thực

hiện phương án khoán trên vùng đất Phủ Quỳ. Trong khi đó các nơng trường

còn lại như Nơng trường 3/2, Nơng trường 1/5, vẫn chưa có thay đổi trong

việc sử dụng phương thức khốn.

Năm 1995, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 01/ CP, các nông

trường đã áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm phù hợp với điều kiện

kinh tế của nơng trường. Trong đó, Nơng trường Tây Hiếu 1 được đánh giá là

nông trường sớm áp dụng chính sách khốn. Nơng trường 3/2 mặc dù thực

hiện muộn hơn, nhưng trong q trình sản xuất, nơng trường đã vận dụng

nhiều cách khoán khác nhau nhằm để ưu tiên cho người lao động.

3.1.4. Hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thực hiện quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, các nơng trường ở miền

Tây Nghệ An nói riêng đã chủ động tính tốn, rà sốt lại phương hướng,

nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Nhờ xác định đúng đắn và cụ thể hơn về cơ

cấu cây, con, đi vào thâm canh, chuyên canh và kinh doanh tổng hợp “lấy

ngắn nuôi dài”, gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm

nên sản xuất hàng hóa của nhiều nông trường đã tăng lên khá rõ rệt, đảm

bảo hoạt động tiệu thụ với khách hàng, tăng doanh thu để chủ động vốn

sản xuất kinh doanh.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1986

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×