Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể này theo quy định của luật

Hôn nhân và Gia đình.

Điều 15 Luật HN&GĐ 2014 đã có quy định quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và

con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không

đăng ký kết hôn như sau: Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau

như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền,

nghĩa vụ của cha mẹ và con. Điều 16 Luật HN&GĐ 2014 đã có quy định về

Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với

nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau: 1. Quan hệ tài sản,

nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà

không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong

trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự

và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc giải quyết quan hệ tài

sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ

và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động

có thu nhập.

Trong trường hợp hai người nam và nữ này sống chung, có tài sản chung thì

sẽ được xử lý theo Bộ luật dân sự tại thời điểm đó, khơng áp dụng chế độ tài sản

hay nguyên tắc xử lý tài sản chung vợ chồng vì giữa họ khơng tồn tại quan hệ vợ

chồng. Mọi tranh chấp phát sinh giữa hai người này cũng như giữa hai người

này với những chủ thể khác sẽ được lựa chọn hình thức, cách thức xử lý khác

nhau tùy theo quy định của Bộ luật dân sự.

b) Đối với trường hợp việc sống chung như vợ chồng khơng có đăng ký kết

hôn được công nhận

Đối với trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng khơng có đăng ký kết

hôn mà vẫn được công nhận quan hệ vợ chồng thì sẽ phát sinh hậu quả pháp lý

giống như đối với quan hệ vợ chồng thực hiện theo đúng thủ tục đăng ký kết

hôn.

Thứ nhất, phát sinh quan hệ vợ chồng với nội dung là quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng với nhau. Khi đó quan hệ vợ chồng được thực hiện theo quy định tại



chương III Quan hệ giữa vợ và chồng Luật HN&GĐ 2014 (hoặc Chương III

Nghĩa vụ và quyền của vợ chồng Luật HN&GĐ 2000 đối với thời gian trước

1/1/2015).

Thứ hai, phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ với các thành viên

khác trong gia đình. Một là, phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con, nội dung

quan hệ này được điều chỉnh bởi quy định tại Chương V Quan hệ giữa cha mẹ

và con Luật HN&GĐ 2014 (Hoặc Chương IV Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

con Luật HN&GĐ 2000 đối với thời gian trước 1/1/2015). Quan hệ vợ chồng là

một trong những nội dung có liên quan mật thiết với vấn đề quan hệ giữa cha mẹ

và con, đặc biệt trong các nội dung như: xác định cha, mẹ, con; Quyền và nghĩa

vụ giữa cha mẹ và con… Hai là, phát sinh quan hệ với các thành viên khác trong

gia đình. Trên cơ sở xác định được nam nữ có quan hệ vợ chồng thì trong mối

quan hệ với các chủ thể khác mới xác định được mối quan hệ khác giữa các

thành viên trong gia đình. Ví dụ như: quan hệ ông bà nội, ông bà ngoại với cháu;

quan hệ giữa anh chị em; quan hệ giữa cơ dì chú cậu bác ruột với cháu. Đặc biệt

là đối với quan hệ của người thân trong gia đình bên chồng, phải căn cứ trên

quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ con để xác định các quan hệ này.

Thứ ba, phát sinh những vấn đề khác có liên quan đến quan hệ vợ chồng hợp

pháp như: chấm dứt hôn nhân, cấp dưỡng, thừa kế… Chấm dứt hôn nhân được

quy định tại Chương IV Luật HN&GĐ 2014 (chương VII Ly hôn Luật HN&GĐ

2000), theo đó quy định vợ hoặc chồng hoặc cả hai người có quyền u cầu tòa

án giải quyết ly hơn. Vậy thì, chủ thể ở đây phải là những người đang trong quan

hệ vợ chồng, nghĩa là có quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Cấp dưỡng được quy định tại Chương VII Luật HN&GĐ 2014, theo đó có quy

định nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh giữa cha mẹ và con; giữa ông bà và cháu,

giữa cơ dì cậu chú bác và cháu ruột; giữa vợ và chồng… Vậy thì trên cơ sở sự

cơng nhận quan hệ vợ chồng của pháp luật đối với việc sống chung như vợ

chồng mà khơng có đăng ký kết hơn trực tiếp làm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng

giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con đồng thời gián tiếp làm phát sinh nghĩa vụ

cấp giữa giữa anh chị em ruột; ơng bà và cháu; cơ dì chú bác cậu ruột và cháu



ruột trên cơ sở phát sinh những quan hệ giữa các chủ thể này. Thừa kế được quy

định thành một chương riêng trong Bộ luật dân sự, mà theo đó có các vấn đề có

liên quan đến việc công nhận quan hệ vợ chồng như: Xác định những người

thuộc hàng thừa kế; Những trường hợp được thừa kế không theo di chúc… trên

cơ sở xác định quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa các thành viên khác trong gia

đình trên cơ sở quan hệ vợ chồng.

Thứ tư, Phát sinh trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước đối với quan hệ vợ

chồng được công nhận. Theo quy định tại Điều 4 Luật HN&GĐ 2014 về Trách

nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình đã chỉ ra những nội

dung trách nhiệm của Nhà nước. Khi Nhà nước đã công nhận quan hệ vợ chồng,

nghĩa là nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của những chủ thể

này trên tư cách là chủ thể của luật Hôn nhân và Gia đình. Đồng thời, nghĩa vụ

cùng đi liền với quyền, Nhà nước sẽ có những yêu cầu nhất định đối với quan hệ

vợ chồng này theo quy định của pháp luật như: Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy

định của pháp luật về Hơn nhân và Gia đình; Tn thủ pháp luật, chính sách của

Nhà nước và xã hội về kế hoạch hóa gia đình…

II. Thực trạng và kiến nghị về vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn

1. Thực trạng nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết

hôn- quan điểm khác nhau từ các chuyên gia và từ dư luận xã hội



 Thực trạng nam nữ sống chung như vợ chồng mà khơng đăng ký kết hơn

Tình hình nam nữ chung sống như vợ chồng mà khơng có đăng ký kết hơn

qua các giai đoạn khác nhau có những đặc điểm khác nhau. Đối với những

người nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn từ

trước khi có Luật HN&GĐ 2000 là việc nam nữ sống chung như vợ chồng mặc

dù khơng có đăng ký kết hơn nhưng vẫn được gia đình hai bên thừa nhận, được

mọi người cơng nhận mối quan hệ đó. Theo Thơng tư liên tịch 01/2001/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP Ngày 3/1/2001 Hướng dẫn thi hành Nghị quyết số

35/2000/QH10 có chỉ ra: d. Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ

chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hơn theo quy định của Luật Hơn nhân và



gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức lễ

cưới khi về chung sống với nhau;Việc họ về chung sống với nhau được gia đình

(một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;Việc họ về chung sống với nhau được

người khác hay tổ chức chứng kiến; Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm

sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Qua đó cho thấy việc nam nữ

sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ở thời kỳ này không phải

là hành vi trái pháp luật, trái đạo đức mà sở dĩ không đăng ký là do chưa có quy

định về đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay, khi luật Hôn nhân và gia

đình đã có quy định rõ về u cầu đăng ký kết hơn thì bản chất của việc nam nữ

sống chung mà không đăng ký kết hôn là khác hoàn toàn với giai đoạn trước.

Vào giai đoạn này, sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hơn chính

là vi phạm pháp luật và việc sống chung này thường khơng do gia đình hai bên

đồng ý, khơng tổ chức lễ cưới, mọi người xung quanh không công nhận họ là vợ

chồng và họ không đặt ra mục đích xây dựng gia đình khi sống chung như vậy.

Hiện tượng này ngày nay còn được giới trẻ gọi là “sống thử”.

Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà khơng có đăng ký kết hơn

chủ yếu xãy ra ở giới trẻ và đa số là sinh viên, người lao động xa nhà, sống ở

thành thị. Hiện tượng sống chung nam nữ như vợ chồng, tổ chức sinh hoạt

chung và coi nhau như vợ chồng thường diễn ra ở những khu trọ của những

người ngoại tỉnh. Theo thống kê của khoa xã hội học Đại học Mở TP. Hồ Chí

Minh, năm 2010, có khoảng 1/3 các bạn trẻ sống thử trước hôn nhân. Đối với

một nghiên cứu nhỏ của một trường đại học ở Hà Nội thì trong số 691 sinh viên

được hỏi, có 6.5% sinh viên “sống thử”. Và theo như những chia sẻ của Lan,

sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Nơng Lâm TP. Hồ Chí Minh, cho biết: “Ở

xóm trọ của em, gần một nửa các bạn sống thử trước hơn nhân”.

Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà khơng có đăng ký kết hôn

ngày một tăng. Đứng trước sự lên án của dư luận xã hội, lúc đầu, việc bất chấp

quy định của pháp luật để sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hơn

còn ít, thì càng ngày, cùng với sự phát triển của xã hội và sự tự do trong lối sống

của giới trẻ, việc sống chung này ngày càng phổ biến. Chung sống như vợ chồng



không chỉ xãy ra giữa những người độc thân mà còn giữa những người độc thân

với những người đã có gia đình, thậm chí giữa những người đã có gia đình với

nhau. Tình trạng sống chung như vợ chồng mà khơng đăng ký kết hơn ngày

càng có nhiều biến thể và rất khó kiểm sốt.

 Quan điểm của chun gia và dư luận xã hội về vấn đề nam nữ sống

chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Tiến sĩ triết học, chuyên gia nghiên cứu gia đình trẻ và trẻ em Nguyễn Linh

Khiếu có quan điểm về vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng và không đăng

ký kết hôn hiện nay như sau: Hiện tượng các bạn trẻ sống chung là sự học theo

phương Tây vào những năm 60-65 của thế kỷ trước. Chuyên gia khẳng định việc

sống chung như vợ chồng trong giới trẻ hiện nay dù khơng có đăng ký kết hơn là

kết quả của sự vận động xã hội, là xu hướng tất yếu của giới trẻ hiện đại, không

cưỡng lại được. Tiến sĩ nghệ thuật học, giảng viên Khoa Báo chí, ĐH Khoa học

xã hội và nhân văn, bà Nguyễn Thị Minh Thái và Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị

Hoài Đức, Giám đốc Trung tâm sức khỏe phụ nữ và gia đình, cùng có quan điểm

giống nhau cho rằng việc nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký

kết hôn phần lớn do tâm lý tò mò, muốn trãi nghiệm, muốn được sống thử như

thử một cái mới của giới trẻ.

Dư luận xã hội khi nhắc đến vấn đề nam nữ sống chung mà khơng có đăng

ký họ thường có thái độ khơng đồng tình. Qua một diễn đàn do Báo Tiền phòng

online thực hiện với câu hỏi "Có hay khơng mốt "sống thử" trong SV Việt Nam"

đã thu hút được sự quan tâm và chia sẻ của rất nhiều các bạn trẻ. Đa số các ý

kiến không đồng ý với hiện tượng này và có các chia sẻ: Bạn Nguyễn Minh Tâm

Email: sweethaert202003@yahoo.com cho rằng sống thử không những ảnh

hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc mà còn vi phạm pháp luật, ảnh

hưởng đến tương lai sau này; Bạn Hà Nam, đại học Cơng nghiệp thành phố Hồ

Chí Minh, Email: havnam@yahoo.com cho rằng như vậy là thiếu bản lĩnh. Bạn

Trần văn Quân Email: tranquan175@yahoo.com cho rằng giới trẻ cần tạo cho

mình một cuộc sống lành mạnh, trong sáng để góp phần tạo nên một xã hội văn

minh theo đúng nghĩa. Bạn Vũ Văn Nhượng Email: huongvs36@yahoo.com là



giáo viên Đại học sư phạm Thái Nguyên, có chia sẻ rằng thấy sinh viên sống với

nhau như vợ chồng và có thai đó là 1 điều tơi khơng thể tin được. Bạn Hồng

Trọng Nhiên Email: hoang_trong_nhien@yahoo.com cho rằng "Sống thử" là

sống bng thả và ích kỷ! Bạn Đỗ Thị Tiến Email: salat832003@yahoo.com cho

rằng việc sống chung mà không đăng ký kết hôn là tự tin khơng đúng chỗ. Tuy

nhiên cũng có một số ít cho rằng có thể chấp nhận được đối với hiện tượng này,

cụ thể như: Bạn Nguyễn Đức Quân, lưu học sinh tại Trung Quốc cho rằng họ có

thể chịu trách nhiệm về bản thân, sống khá tình cảm với nhau. Một đọc giả ở địa

chỉ Email: mailp@walla.com chia sẽ rằng “Hãy để chúng tôi tự chịu trách

nhiệm với mình!”. Bạn Thạch Lâm Email: bolaovelang@yahoo.com cho rằng

chỉ cần cẩn thận, không để xãy ra hậu quả xấu là được.

2. Quan điểm cá nhân về việc nam nữ sống chung như vợ chồng mà

không đăng ký kết hôn



 Nguyên nhân và hậu quả

Nguyên nhân của tình trạng sống chung như vợ chồng mà không đăng

ký kết hôn

Sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn, nếu như loại trừ ngun

nhân luật hơn nhân và gia đình chưa có quy định về việc đăng ký kết hơn, thì

hiện nay, hiện tượng này diễn ra bất chấp quy định của pháp luật có thể chỉ đến

một số nguyên nhân như sau:

Nguyên nhân chủ quan từ phía những người nam nữ sống chung như vợ

chồng:

Thứ nhất, do cuộc sống xa nhà, thiếu thốn tình cảm, khó khăn trong vấn đề

kinh tế, chi tiêu. Khi sống xa nhà, chính sự thiếu thốn tình cảm đã đẩy những

cặp nam nữ yêu nhau đến với sự lựa chọn sống chung. Họ thấy rằng khi sống

chung sẽ có nhiều thời gian bên nhau hơn, có thể quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ,

chia sẻ với nhau nhiều hơn. Đối với vấn đề kinh tế, chi tiêu, khi sống chung với

nhau, một phần hai người sẽ cùng đỡ đần cho nhau, một phần khi chi tiêu chung

thì sẽ góp phần tiết kiệm hơn.



Thứ hai, do bị ảnh hưởng bởi trào lưu, sự tò mò và nhận thức nơng cạn của

bản thân. Do suy nghĩ thiếu sâu sắc và có phần lệch lạc, nhiều bộ phận giới trẻ

cho rằng việc “sống thử” chính là suy nghĩ theo hướng mới hơn, hiện đại hơn và

phương Tây hơn. Họ thấy việc những người khác sống chung như vợ chồng như

vậy hoàn tồn vơ hại và có hứng thú với việc đó. Họ khơng tính đến những hậu

quả, những tiêu cực của việc sống chung như vậy mà chỉ quan tâm đến sự ham

thích của bản thân.

Nguyên nhân khách quan từ phía những chủ thể có liên quan:

Thứ nhất, do gia đình quan tâm chưa đúng mực đến con cái và không có khả

năng quản lý con cái. Bên cạnh đa số trường hợp con đi học xa, bố mẹ không thể

ở bên để quan tâm cũng như nhắc nhở, uốn nắn cho con khi có những suy nghĩ

lệch lạc, việc bố mẹ mãi lo kiếm tiền, lo kinh doanh, làm việc đã đẩy con của họ

tới việc lựa chọn “sống thử”. Chính bố mẹ tạo cho con cái cảm giác thiếu thốn

tình cảm, chính bố mẹ bng lỏng để cho con có những suy nghĩ khơng đúng

đắn.

Thứ hai, sự quan tâm, giáo dục, tuyên truyền của những cơ quan, đơn vị có

liên quan chưa thực sâu sắc và hiệu quả. Trường học là môi trường giới trẻ tiếp

xúc nhiều nhất, tuy nhiên chính trường học, nơi có trách nhiệm giáo dục toàn

diện cho học sinh sinh viên lại chưa làm tốt cơng tác quản lý cũng như giáo dục

của mình.

Thứ ba, xã hội không quan tâm đến bộ phận giới trẻ hiện nay, có thái độ thờ

ơ, bàng quan với lối sống của họ. Mặc dù quan điểm của mỗi người về việc sống

thử là mỗi khác nhau, tuy nhiên họ chưa thể hiện rõ điều đó và họ khơng thể

hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Đơn cử như đối với những người

cho thuê phòng trọ, mặc dù họ biết việc “sống thử” của những người thuê phòng

của mình xong họ cố tình làm lơ và chấp nhận như thế dù răng họ biết như vậy

là không tuân thủ pháp luật… Hay bạn bè, thầy cô của những người “sống thử”

lựa chọn cách là im lặng hoặc làm ngơ thay cho việc báo với gia đình hay những

chủ thể có liên quan để xử lý, giáo dục, thuyết phục.

Hậu quả tình trạng sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn



Việc chung sống như vợ chồng khơng đăng ký kết hơn và khơng có ý định

kết hôn để lại những hậu quả rất nghiêm trọng không chỉ đối với chính những

người này mà còn với cả gia đình, xã hội.

Đối với cá nhân những người này: Phân tâm trong học tập, làm việc, kết quả

giảm sút; Nguy cơ mắc phải các bệnh truyền nhiễm; Nguy cơ mang thai ngoài ý

muốn; Dễ dẫn đến việc sứt mẻ tình cảm, làm tổn thương nhiều mối quan hệ khác

như gia đình, bạn bè; người thân quen… Một trong những hậu quả thấy rõ nhất,

gặp rất nhiều và để lại hậu quả nặng nề là hậu quả mang thai ngoài ý muốn.

Chính do mang thai ngồi ý muốn đã dẫn đến hiện tượng nạo phá thai không

ngừng tăng lên ở giới trẻ mà phần lớn là các sinh viên. Theo thống kê của bộ y

tế thì trong số các ca nạo phá thai ở nước ta hiện nay 25% là phụ nữ chưa lập gia

đình, 20% nữ vị khơng thể sinh con mà hậu quả của những lần phá thai để lại.

Và chính việc phá thai há thai sẽ mang đến những hậu quả về mặt thể lý và tâm

lý sau: Về mặt thể lý: Tăng nguy cơ bị các bệnh phụ khoa, sản khoa; Tổn thất ở

các cơ quan khác… Về mặt tâm lý: Mặc cảm tội lỗi, khuynh hướng tự tử; Cảm

giác mất mát, buồn rầu, thương tiếc, hối hận; Mất tự tin, giảm sự tôn trọng bản

thân; Xói mòn bản năng làm mẹ; Mất ham muốn tình dục…

Đối với xã hội: Gia tăng những tệ nạn xã hội; Khó khăn trong quản lý hành

chính, gây mất trật tự trị an…; Sự ảnh hưởng đến mỗi cá nhân cản trở sự phát

triển chung của một lớp người trong xã hội… Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,

những tệ nạn xã hội ngày càng tăng, việc quả lý hành chính xã hội khó khăn ở

những thành phố lớn thì việc nam nữ sống chung không đăng ký kết hôn càng

gây nhiều khó khăn hơn cho cơng tác phòng chống tệ nạn xã hội và quản lý hành

chính. Bên cạnh đó, khi đất nước ngày càng phát triển, đứng trước nhiều thách

thức và cần sự chung sức của toàn xã hội thì chính sự suy thối của bộ phận giới

trẻ, sự lũng đoạn ở những người trong độ tuổi lao động này là một tổn thất

khơng hề nhỏ.



 Bình luận về vấn đề sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Trước tiên, cá nhân tôi khẳng định là khơng đồng tình với việc nam nữ sống

chung mà không đăng ký kết hôn. Không xét đến bộ phận nhỏ những cặp vợ



chồng sống với nhau từ trước 3/1/1987 mà đã được khuyến khích đi đăng ký, chỉ

xét đến việc nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn mà

giới trẻ gọi là “sống thử” thì hồn tồn khơng thể chấp nhận được. Bản thân tôi

đồng ý với quan điểm của các chuyên gia rằng: hiện tượng này mang lại nhiều

tiêu cực hơn là tích cực, tiêu cực lớn nhất và cũng là đầu tiên khi xét đến tâm lý

đó là sự chai sạn về cảm xúc, tình cảm; xét đến vấn đề xã hội thì xã hội sẽ mất đi

những tế bào là gia đình nếu như những người trẻ chỉ muốn sống như vợ chồng

mà khơng có bất cứ một sự ràng buộc chắc chắn và bền vững nào.

Nói đến nguyên nhân đến với việc “sống thử” khơng có ngun nhân nào là

chính đáng và hợp lý. Nếu nói do gia đình ít quan tâm, nhà trường quản lý lơi

lỏng và xã hội thờ ơ mà các bạn chọn việc “sống thử” như một cách tối ưu để

tìm kiếm sự quan tâm, chăm sóc, u thương thì hồn tồn khơng đúng. Việc

sống xa nhà có thể thiếu thốn tình cảm và cần sự quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là

đối với việc đi học xa, đi làm ăn xa, khác văn hóa, khác lối sống thì càng cần

hơn sự chia sẻ. Nhưng những chia sẻ này hồn tồn có thể đến từ những người

cùng giới với nhau, không nhất thiết cứ phải là nam nữ mà là một nam một nữ;

các bạn nam nữ khác giới cũng hồn tồn có thể quan tâm, yêu thương và giúp

đở nhau một cách tận tình dù khơng sống chung. Ngun nhân để tiết kiệm chi

phí càng khó chấp nhận vì đây là vấn đề có rất nhiều hướng giải quyết khác

nhau. Mỗi người có thể đi làm thêm, cơ hội việc làm ở những thành phố, những

khu đại học là rất lớn; ngoài ra, muốn tiết kiệm chi phí các bạn có thể ghép ở

chung cùng những bạn bè cùng giới. Nguyên nhân nữa là vì muốn có nhiều thời

gian ở cạnh nhau, vì tò mò, hiếu kỳ và vì chạy theo trào lưu. Lý do này càng khó

chấp nhận khi mà chính từ những suy nghĩ này đã có sự sai lệch trong suy nghĩ

và dẫn đến hành động sai lầm. Sự tò mò, hiếu kỳ hay vì chạy theo trào lưu, các

bạn đã đi quá xa. Suy nghĩ rằng tuổi trẻ thì được phép sai, “cứ sai đi vì cuộc đời

cho phép” hay dám đam mê dám sa ngã chỉ là những lời ngụy biện cho lối sống

buông thả, lệch lạc của giới trẻ hiện nay. Đứng trước những cám dỗ đó, mỗi cá

nhân cần bình tĩnh, cần cẩn thận và sáng suốt đưa ra lựa chọn. Việc các bạn đánh

giá sai sẽ dẫn đến hành động sai, hành động sai rồi đưa ra những lý do sai lệch



khác để ngụy biện hay chính là tự ru ngủ bản thân là không hợp lý. Ở tuổi các

bạn, ở vị trí các bạn là tuổi sống đúng với giá trị của bản thân, là học tập, làm

việc, là cống hiến, những suy nghĩ sai lệch kia chỉ xuất phát từ sự ích kỷ của cá

nhân.

Từ những ngun nhân khơng hề chính đáng như vậy mà việc “sống thử” lại

dẫn đến những hậu quả không hề nhỏ, hậu quả khơng chỉ cho gia đình và xã hội

mà trước tiên là cho chính những người trong cuộc. Đối với bạn nữ, việc mang

thai ngoài ý muốn và nạo phá thai để lại những hậu quả có thể nhìn thấy rõ và cả

những hậu quả về lâu dài nữa. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm

là những vết thương khó có thể lành được. Chính những bạn nữ sẽ là người có

cảm giác bị trở mặt bị phản bội, dần mất niềm tin vào tình cảm, vào những lời

hứa hẹn và cả mất niềm tin vào tương lại. Từ đó dẫn đến thờ ơ, vơ cảm, sống

khơng có niềm tin và bất cần. Những suy nghĩ, cảm giác này càng làm xấu đi

cuộc sống của họ và ảnh hưởng lớn đến tương lai phía trước. Không chỉ đối với

bạn nữ, bạn nam cũng nhận lẫn những hậu quả không hề nhỏ. Việc một bạn nam

đã từng chung sống như vợ chồng với người khác trước hôn nhân sẽ bị đánh giá

bởi người đến sau và khó chấp nhận điều này. Khi bị cự tuyệt vì một q khứ

khơng đẹp thì thường dẫn đến tâm lí chán nản, bng thả… dễ dẫn đến những tệ

nạn xã hội khác. Đồng thời, xuất hiện một biến thể tâm lý ở các bạn nam do

sống chung như vợ chồng trước hôn nhân là bạn nam rơi vào thế bị động hay nói

cách khác là quen vói thói ỉ lại mà tỏ ra thụ động trong công việc.

Với quan điểm cá nhân tôi cần lên án việc nam nữ sống chung như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn, đặc biệt là trong sinh viên. Một là, sống chung như

vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như là một hành động coi thường pháp luật.

Hai là, với những ngun nhân hồn tồn có thể khắc phục được mà lựa chọn

sống chung như vợ chồng để giải quyết để lại quá nhiều hệ quả. Ba là, nam nữ

sống chung khơng hướng đến mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc làm mất

thuần phong mỹ tục, làm suy thoái đạo đức và giá trị tốt đẹp về tinh thần. Bốn

là, tùy tiện sống chung giữa nam nữ cổ động cho lối sống thiếu trách nhiệm của



giới trẻ đối với xã hội, là sự thể hiện và động viên cho lối sống ích kỷ, nó tạo

điều kiện cho sự xói mòn nhân cách con người mới.

3. Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng sống chung như vợ chồng

mà khơng đăng ký kết hơn



 Hồn thiện pháp luật, tăng cường sự điều chỉnh của pháp luật.

Thứ nhất, yêu cầu đăng ký kết hôn đối với mọi trường hợp nam nữ kết hôn

với nhau. Để tạo điều kiện cho sự thống nhất trong quản lý dân cư, hộ tịch, với

những quan hệ vợ chồng cần được đăng ký đúng theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, việc yêu cầu đăng ký kết hôn đối với mọi trường hợp (kể cả những

trường hợp kết hơn trước khi Luật HN&GĐ 2014 có hiệu lực) nhằm đảm bảo

cho sự thống nhất trong quản lý cũng như trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Thứ hai, cần có quy định cụ thể về vấn đề xác định cha của đứa trẻ do người

phụ nữ sinh ra trong giai đoạn sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết

hôn. Mặc dù nội dung xác định cha, mẹ, con đã được quy định trong Mục 2

Chương V Quan hệ giữa cha, mẹ và con tuy nhiên những nội dung này không

bao quát được vấn đề con sinh ra trong giai đoạn sống chung mà không đăng ký

kết hơn. Chính điều này dẫn đến thiệt thòi cho bà mẹ và cũng là khiếm khuyết

về tinh thần, về điều kiện phát triển cho trẻ em. Đồng thời, khi có quy định này

sẽ hạn chế được tình trạng nạo phá thai, người mẹ bỏ rơi trẻ sơ sinh…

 Loại trừ những nguyên nhân.

Thứ nhất, tăng cường vai trò, trách của gia đình, nhà trường và của tồn xã

hội đối với vấn đề này. Một là đối với gia đình, các gia đình phải là chủ thể đầu

tiên và quan trọng giáo dục con cái về giới tính, sinh sản; đồng thời gia đình cần

có các biện pháp nhắc nhở, kiểm soát, giáo dục các bạn trẻ nhận ra sai lầm của

việc “sống thử”… Hai là đối với nhà trường, cần tăng cường giáo dục, tuyên

truyền về vấn đề giới tính và sưc khỏe sinh sản nhằm nâng cao nhận thức cho

học sinh, sinh viên. Đồng thời, cần bổ sung đội ngũ giáo viên có chất lượng,

chun mơn, am hiểu tâm lí học sinh, sinh viên để từ đó đễ dàng tuyên truyền,

phổ biến về vấn đề này; những giáo viên phải là những người gần gủi với sinh

viên, nắm bắt được những vấn đề phát sinh trong đời sống của sinh viên, cần có



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×