Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Thực hiện quyền kiến nghị và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện

2 Thực hiện quyền kiến nghị và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện

Tải bản đầy đủ - 0trang

chính năm 2010) nên Viện kiểm sát cũng khơng có căn cứ để kiến nghị về việc

trả lại đơn khởi kiện. Mặt khác, Viện kiểm sát chỉ có thể kiểm sát việc trả lại đơn

khởi kiện khi Tòa án gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát,

trường hợp Tòa án khơng gửi thơng báo cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát

không thể thực hiện chức năng kiểm sát vì Luật không quy định Viện kiểm sát

được quyền kiểm sát trực tiếp tại Tòa án về việc xem xét và thụ lý đơn khởi

kiện. Khắc phục những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tại đoạn 2, khoản 2, Điều

123 Luật Tơ tụng hành chính năm 2015 đã quy định cụ thể đơn khởi kiện và tài

liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và

lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

Hướng dẫn thi hành Luật tô tụng hành chính năm 2015, Thơng tư liên tịch sơ

03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC cũng đã quy định cụ thể về quyền hạn của

Viện kiểm sát khi kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Để đảm bảo

hiệu quả, chất lượng hoạt đợng kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, Điều 21

Thông tư liên tịch sô 03/2016/TTLT – VKSNDTC – TANDTC quy định: Trường

hợp Viện kiểm sát cần xem xét kiến nghị trả lại đơn khởi kiện hoặc sau khi nhận

được thông báo mở phiên họp giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn

khởi kiện thì Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một sô

hoặc toàn bộ bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo. Trong thời hạn 24

giờ kể từ khi nhận được văn bản cần sao chụp, Viện kiểm sát trả lại văn bản cho

Tòa án. Theo những quy định trên, thì việc kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện của

Tòa án thuận lợi hơn vì Viện kiểm sát được quyền yêu cầu Tòa án cho sao chụp bản

sao đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện. Việc

tiếp cận được với các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện sẽ giúp cho công

tác kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện được chặt chẽ và có căn cứ pháp luật hơn

Như vậy, quyền kiến nghị đôi với việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính

là một quyền hạn đặc trưng của Viện kiểm sát khi thực hiện kiểm sát hoạt động

của thẩm phán đôi với việc trả lại đơn khởi kiện; vừa là phương thức kiểm soát

quyền lực cũng vừa thể hiện tính thơng nhất trong việc thực hiện mục tiêu giải

quyết vụ án hành chính giữa các cơ quan trong bợ máy nhà nước, đảm bảo viêc



giải quyết vụ án hành chính tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật, hướng

các chủ thể trong quan hệ tô tụng đó thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn cũng

như các quyền và nghĩa vụ được Luật Tơ tụng hành chính ghi nhận.

3.2.2 Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi

kiện

Khi kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, một nội dung quan trọng ảnh hưởng

đến hiệu quả của việc trả lại đơn khởi kiện là việc giải quyết khiếu nai, kiến nghị

về việc trả lại đơn khởi kiện; kết quả của việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị là

cơ sở trực tiếp quyết định một chủ thể có quyền khởi kiện vụ án hành chính để

yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích của mình hay không. Cùng với quyền kiến

nghị của Viện kiểm sát về việc trả lại đơn khởi kiện, Luật Tô tụng hành chính

cũng quy định quyền tự bảo vệ quyền lợi của mình cho người khởi kiện, theo đó

khi cho rằng việc trả lại đơn khởi kiện của thẩm phán không đúng căn cứ pháp

luật, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện của mình, người khởi kiện có

quyền khiếu nại đôi với tòa án để yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết. Khi nhận

được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, tòa án phải tiến hành giải

quyết khiếu nại, kiến nghị đó trong thời hạn luật định và Viện kiểm sát thực hiện

hoạt động kiểm sát đôi với việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị đó.

Luật Tơ tụng hành chính quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, kiến

nghị về việc trả lại đơn khởi kiện bằng việc mở phiên họp, theo đó tòa án giải

quyết khiếu nại, kiến nghị bằng việc mở phiên họp, phiên họp xem xét, giải

quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp,

trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp…

Như vậy, vai trò của Viện kiểm sát đôi với việc trả lại đơn khởi kiện có ý nghĩa

rất quan trọng bằng việc ghi nhận sự tham gia phiên họp giải quyết khiếu nại,

kiến nghị. Không chỉ tham gia phiên họp giải quyết kiến nghị của mình mà đôi

với việc giải quyết khiếu nại, Viện kiểm sát cũng tham gia để thực hiện kiểm sát

việc trả lại đơn khởi nói chung, kiểm sát phiên họp giải quyết khiếu nại về việc

trả lại đơn khởi kiện nói riêng. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát kiểm sát

việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, người khởi kiện… và phát biểu ý kiến



đôi với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có liên

quan đến trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của Viện kiểm sát và đương sự tại phiên

họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định: giữ nguyên việc trả lại đơn

khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp biết hoặc nhận lại

đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục

chung. Nếu khơng nhất trí với kết quả gải quyết kiến nghị của Tòa án cùng cấp,

Viện kiểm sát có quyền kiến nghị lần thứ hai đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp

trên trực tiếp để xem xét, quyết định lần cuôi.

Việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị thực hiện theo quy định của Điều 124

Luật tô tụng hành chính. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết

định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, trường

hợp thấy quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị không đúng thì thực hiện quyền

kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày kể

từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án

Tòa án cấp trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các sô quyết định: giữ

nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn

khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thu lý vụ án. Quyết

định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên mợt cấp trực tiếp

là quyết định cuôi cùng.

4. Những vướng mắc trong thực tiễn kiểm sát

Có thể nói, Luật Tô tụng hành chính năm 2015 đã có mợt sơ quy định thay đổi,

tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Viện kiểm sát khi tiến hành công tác kiểm sát việc

trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Tuy nhiên, việc quy định mở phiên họp giải quyết

khiếu nại, kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện là một quy định hoàn toàn mới nên

trong thực tiễn thi hành vẫn không tránh khỏi những hạn chế, vướng mắc như:

Thứ nhất, về việc Tòa án thơng báo cho Viện kiểm sát về ngày mở phiên họp: Tại

khoản 3 Điều 124 Luật tô tụng hành chính năm 2015 quy định trong thời hạn 05

ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải

quyết khiếu nại, kiến nghị. Và tại khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch sô 03 quy

định Tòa án thơng báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về ngày mở



phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện

ngay sau khi quyết định mở phiên họp.

Tuy nhiên, quyết định mở phiên họp của Thẩm phán có được thể hiện bằng

văn bản hay không? được ban hành trước khi mở phiên họp bao lâu và có được

gửi cho Viện kiểm sát hay không? thì cả Luật và Thông tư không quy định rõ. Vì

vậy, việc quy định Tòa án thơng báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát về ngày

mở phiên họp ngay sau khi quyết định mở phiên họp là rất mơ hồ, thiếu căn cứ nên

thực tế đã xảy ra có nhiều trường hợp Tòa án thơng báo cho Viện kiểm sát trước khi

mở phiên họp chỉ có 01 ngày thì không đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ khiếu nại và

thực hiện các thao tác nghiệp vụ để tham gia phiên họp.

Thứ hai: Luật tơ tụng hành chính năm 2015 và Thơng tư liên tịch sơ 03 khơng

quy định Tòa án phải gửi cho Viện kiểm sát bản sao đơn khởi kiện và tài liệu

chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện mà Viện kiểm sát phải gửi văn

bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp bản sao đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ và

việc sao chụp tại liệu chứng cứ phải được thực hiện tại trụ sở Tòa án. Việc quy

định như trên làm cho Viện kiểm sát khơng chủ đợng mà phải phụ tḥc vào Tòa

án vì có trường hợp khi Kiểm sát viên liên hệ để sao chụp tài liệu, chứng cứ thì

cùng lúc đó Tòa án cũng đang nghiên cứu, hoặc thẩm phán, thư ký được phân

công vắng mặt hoặc bận công tác khác thì Kiểm sát viên không sao chụp được

hồ sơ sẽ dẫn đến không đảm bảo thời hạn để Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến

nghị hoặc tham gia phiên họp giải quyết khiếu nại.

Thứ ba: Nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, giải

quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện đã được hướng dẫn cụ

thể tại Điều 26 Thông tư liên tịch sô 03. Tuy nhiên, bản phát biểu của Kiểm sát

viên tại phiên họp có phải gửi cho Tòa án để lưu vào hồ sơ giải quyết khiếu nại,

kiến nghị hay không thì không được quy định.

Thứ tư: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện là một trong những khâu quan

trọng trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, đến nay

Viện kiểm sát nhân dân tôi cao chưa có hệ thông biểu mẫu sổ sách theo dõi. Vì

vậy, trong quá trình kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện trong thời gian qua việc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực hiện quyền kiến nghị và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×