Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

33



Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương từ năm 1997, nằm trong

vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam, là trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn hố, xã

hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của khu vực miền

Trung - Tây Nguyên và cả nước. Đà Nẵng là một trong 5 thành phố trực thuộc

Trung ương ở Việt Nam, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải

Phòng và Cần Thơ. Đà Nẵng là thành phố lớn thứ 3 Việt Nam sau TP Hồ Chí Minh

và Hà Nội về mức độ đơ thị hóa.

Thành phố Đà Nẵng nằm ở miền Trung Việt Nam với khoảng cách gần như

chia đều giữa thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đà Nẵng còn là trung tâm



34



của 3 di sản văn hóa thế giới là Cố đơ Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ

Sơn. Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông

giáp Biển Đông. Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, trên trục giao thông Bắc – Nam

về đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không và điểm cuối của Hành

lang Kinh tế Đông Tây trải dài từ Việt Nam, Lào, Thái Lan và Burma (Myanmar)

Thành phố có diện tích 1.256,53 km² gồm 06 quận (Hải Châu, Thanh Khê,

Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Cẩm Lệ) và 02 huyện Hòa Vang, huyện đảo

Hồng Sa.

b. Địa hình

Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng dun hải, vừa có đồi núi.

Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía tây và tây bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy

dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp. Địa hình đồi núi

chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn (>40 0), là nơi tập

trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành

phố. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là

vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các

khu chức năng của thành phố. Ở khu vực cửa sơng Hàn và sơng Cu Đê địa hình đáy

biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sơng).Khu vực cửa vịnh

ra ngồi khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đơng bắc. Khoảng cách

các đường đẳng sâu khá đều đặn.

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai cụm đảo chính là cụm Lưỡi Liềm ở phía tây và

cụm An Vĩnh ở phía đơng. Cụm Lưỡi Liềm nằm về phía tây, có hình cánh cung hay

lưỡi liềm, bao gồm các đảo là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang

Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tơn cùng các mỏm đá, bãi ngầm. Cụm đảo An

Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn của quần đảo Hoàng Sa và cũng là các đảo san

hô lớn nhất của biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo

Trung, đảo Bắc, đảo Nam và cồn cát Tây. Nhiều thực thể trong quần đảo biểu hiện



35



dạng vành khuyên cổ của các rạn san hơ vòng Thái Bình Dương, vốn dĩ là kết quả

phát triển của san hô cộng với sự lún chìm của vỏ Trái Đất. Hình thái địa hình các

đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hơ vùng

nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm

san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao

dưới 10 m.

c. Khí hậu

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao

và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt

đới ở miền Bắc và nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở

phía nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12

và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng

không đậm và không kéo dài.

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7,

8, trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng

vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C. Độ

ẩm khơng khí trung bình là 83,4%. Lượng mưa trung bình hàng năm là

2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 5501.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23–40 mm/tháng. Số

giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung

bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165

giờ/tháng. Mỗi năm, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc

áp thấp nhiệt đới. Năm 2006, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng của bão Xangsane - cơn bão

mạnh nhất đổ bộ vào Đà Nẵng trong 100 năm qua, gây thiệt hại nặng nề cho thành

phố.

Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng từ 2.400 đến

2.600 giờ/năm. Nhiệt độ khơng khí tối thấp trung bình ở vùng biển quần đảo là 22°-



36



24 °C trong tháng 1, tăng dần và đạt cực đại trung bình 28.5°-29 °C trong tháng 6

và tháng 7. Chế độ gió vùng quần đảo Hồng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng

của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Gió tây nam chiếm ưu thế vào mùa

hè; gió đơng bắc chiếm ưu thế trong mùa đơng. Lượng mưa trung bình năm ở

Hồng Sa là khoảng 1.200-1.600 mm. Độ ẩm tương đối trung bình 80-85% và hầu

như khơng biến động nhiều theo mùa.

d. Đất đai, thổ nhưỡng

Về mặt địa chất, Đà Nẵng nằm ở rìa của miền uốn nếp Paleozoi được biết

đến với tên gọi Đới tạo núi Trường Sơn - nơi mà những biến dạng chính đã xảy ra

trong kỷ Than đá sớm. Cấu trúc địa chất khu vực Đà Nẵng gồm có năm đơn vị địa

tầng chủ yếu, lần lượt từ dưới lên là: hệ tầng A Vương, hệ tầng Long Đại, hệ tầng

Tân Lâm, hệ tầng Ngũ Hành Sơn và trầm tích Đệ tứ. Trong đó các hệ tầng A

Vương, Long Đại, Tân Lâm có thành phần thạch học chủ yếu là đá phiến và cát kết.

Hệ tầng Ngũ Hành Sơn chủ yếu là đá vơi hoa hóa màu xám trắng. Trầm tích Đệ tứ

bao gồm các thành tạo sơng, sơng - biển, biển, biển - đầm lầy có tuổi từ Pleistocen

sớm đến Holocen muộn, chủ yếu là cát, cuội, sỏi, cát pha, sét pha,...Vỏ Trái Đất tại

lãnh thổ thành phố Đà Nẵng bị nhiều hệ thống đứt gãy theo phương gần á vĩ tuyến

và phương kinh tuyến chia cắt, làm giảm tính liên tục của đá, giảm độ bền của

chúng, nhất là tạo nên các đới nứt nẻ tăng cao độ chứa nước. Đây là hiểm hoạ trong

khi xây dựng các cơng trình.

e. Sơng ngòi

Hệ thống sơng ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía tây, tây bắc và tỉnh Quảng

Nam. Có hai sơng chính là sơng Hàn với chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích

lưu vực khoảng 5.180 km² và sông Cu Đê với chiều dài khoảng 38 km, lưu vực

khoảng 426 km². Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sơng khác: sơng n,

sơng Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc,...



37



Nước ngầm của vùng Đà Nẵng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai

thác là nguồn nước ngầm tệp đá vơi Hồ Hải – Hồ Q ở chiều sâu tầng chứa nước

50–60 m; khu Khánh Hồ có nguồn nước ở độ sâu 30–90 m; các khu khác đang

được thăm dò.

Vùng biển Đà Nẵng có chế độ thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều không

đều. Hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lên và hai lần nước xuống,

độ lớn triều tại Đà Nẵng khoảng trên dưới 1m. Dòng chảy ở vùng biển gần bờ có

hướng chủ đạo là hướng đơng nam với tốc độ trung bình khoảng 20–25 cm/s. Khu

vực gần bờ có tốc độ lớn hơn so với khu vực ngoài khơi một chút.

f. Hệ thống giao thông

Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc

- Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng khơng. Thành phố

còn là điểm cuối trên Hành lang kinh tế Đông - Tây đi qua các nước Myanma, Thái

Lan, Lào và Việt Nam.

Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển, Cảng Tiên Sa (Đà

Nẵng) là một cảng biển lớn của miền Trung. Cảng Đà Nẵng có độ sâu trung bình từ

15 – 20 m, có khả năng tiếp nhận các tàu lớn có trọng tải đến 28.000 tấn. Đến tháng

12 năm 2012, cảng đã đạt 4.092.373 tấn, tăng 15,14% so với cùng kỳ năm 2011.

Thành phố cũng đang xúc tiến xây dựng cảng Liên Chiểu và đưa vào sử dụng vào

năm 2025. Trong tương lai, khi cảng Liên Chiểu với công suất 20 triệu tấn/năm

được xây dựng xong thì hệ thống cảng Đà Nẵng được nối liền với cảng Kỳ

Hà, cảng Dung Quất ở phía nam sẽ trở thành một cụm cảng liên hồn lớn, giữ vị trí

quan trọng trên tuyến hàng hải Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Sân bay quốc tế Đà Nẵng là một trong ba sân bay quốc tế lớn nhất Việt Nam

(sau Nội Bài và Tân Sơn Nhất). Đường hàng khơng Đà Nẵng có thể nối trực tiếp

với Singapore, Bangkok, Đài Bắc, Quảng Châu, Hồng Kông, Seoul, Tokyo,... Từ

khi được đầu tư nâng cấp và xây mới nhà ga vào năm 2010, Sân bay quốc tế Đà



38



Nẵng với 36 quầy thủ tục và các tiện nghi hiện đại khác đã đảm bảo phục vụ 4 triệu

lượt khách/năm và từ 6-8 triệu lượt khách/năm từ năm 2015 trở đi, tiếp nhận

400.000 - 1.000.000 tấn hàng/năm. Tổng Công ty Cảng hàng khơng Việt Nam đã có

kế hoạch nghiên cứu mở rộng nhà ga để đạt mức 10 triệu hành khách/năm vào năm

2020. Hiện nay, bên cạnh các đường bay nội địa đến các thành phố lớn của Việt

Nam, sân bay này mới chỉ có một số ít các đường bay quốc tế. Chính phủ Việt Nam

hy vọng sẽ phục vụ các chuyến bay quốc tế nhiều hơn trong các năm tiếp theo.

Tuyến đường sắt huyết mạch Bắc - Nam chạy dọc thành phố với tổng chiều

dài khoảng 30 km. Trên địa bàn thành phố hiện nay có năm nhà ga, trong đó Ga Đà

Nẵng là ga chính của thành phố, hàng ngày tất cả các chuyến tàu ra Bắc vào Nam

đều dừng tại đây với thời gian khá lâu để đảm bảo cho lượng khách lớn lên xuống

tàu. Cơ sở hạ tầng tại ga được đầu tư hiện đại; mơi trường an ninh và vệ sinh được

đảm bảo. Ngồi các chuyến tàu Bắc - Nam, Ga Đà Nẵng còn có thêm những chuyến

tàu địa phương đáp ứng lượng khách rất lớn giữa các tỉnh, thành Đà Nẵng - Hà Nội,

Đà Nẵng - Huế, Đà Nẵng - Quảng Bình, Đà Nẵng - Vinh, Đà Nẵng - Quy Nhơn, Đà

Nẵng - TP. Hồ Chí Minh.

Thành phố Đà Nẵng kết nối với các địa phương trong nước thông qua hai

đường quốc lộ: Quốc lộ 1A, nối Đà Nẵng với các tỉnh ở hai đầu Bắc, Nam và Quốc

lộ 14B nối Đà Nẵng với các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên của Việt

Nam. Việc đưa vào sử dụng hầm đường bộ Hải Vân khiến cho thời gian lưu thông

được rút ngắn và giảm tại nạn giao thông trên đèo Hải Vân. Mới đây, ngày

30/4/2017, hầm chui phía tây cầu Sơng Hàn chính thức thơng xe sau 7 tháng thi

cơng. Cơng trình giúp giải bài tốn ùn tắc giao thơng nút giao tây cầu sông Hàn nhất

là trên các tuyến đường Trần Phú và Lê Duẩn; đồng thời tạo cơ sở hạ tầng phục vụ

tổ chức Tuần lễ cấp cao APEC 2017 tại thành phố Đà Nẵng.

Đà Nẵng cũng đã có những bước tiến trong giao thông nội thị. Hạ tầng giao

thông nội ơ được xây dựng khá hồn chỉnh với mạng lưới giao thông tiếp nối với



39



các đường vành đai của thành phố khiến cho Đà Nẵng là một trong ít đơ thị ở Việt

Nam ít khi phải đối mặt với tình trạng tắc đường. Nhiều con đường cũ đã được mở

rộng và kéo dài. Đường Hoàng Sa - Võ Nguyên Giáp - Trường Sa chạy dọc bờ biển

theo hướng nam nối Đà Nẵng với Hội An được mệnh danh là "con đường 5☆" của

Đà Nẵng vì là nơi tập trung hàng loạt khu nghỉ dưỡng cao cấp 4☆ và 5☆ đạt tiêu

chuẩn quốc tế. Nhiều cây cầu đã và đang xây dựng bắc qua Sông Hàn như cầu

Thuận Phước, cầu sông Hàn, cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu Trần Thị Lý, Cầu

Rồng,...không chỉ tạo nên những cảnh quan đẹp phục vụ du khách tham quan thành

phố mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc điều tiết giao thông.

2.1.2. Đặc điểm về kinh tế

Đà Nẵng có ngành kinh tế khá đa dạng bao gồm cả công nghiệp, nông

nghiệp cho tới dịch vụ, du lịch, thương mại, trong đó dịch vụ, du lịch chiếm tỷ trọng

lớn trong cơ cấu nền kinh tế thành phố. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng

tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp và giảm tỷ trọng nơng nghiệp. Tỷ trọng nhóm

ngành dịch vụ trong GDP năm 2011 là 51%, công nghiệp - xây dựng là 46% và

nông nghiệp là 3%. Đến năm 2020, ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng trong GDP từ 6265%, công nghiệp-xây dựng 35-37%, nông nghiệp 1-3%.

Lực lượng lao động của thành phố năm 2005 là 386.487 người đến năm 2010

đã tăng lên 462.980 người, chiếm 49,14% dân số. Đây là nguồn cung đảm bảo cho

nền kinh tế phát triển, nhất là chất lượng lao động ngày một tăng; tỷ lệ lao động qua

đào tạo từ 37% năm 2005 tăng lên 50% năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề

tăng từ 25,5% năm 2005 lên 37% năm 2010. GDP của thành phố Đà Nẵng năm

2010 đạt 10.400 tỷ đồng. Năm 2012, đạt 14.230 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm

2011. GDP bình quân đầu người năm 2011 ước đạt 2283 USD, gấp 2,2 lần so với

năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung của Việt Nam. Tổng vốn đầu tư

phát triển trên địa bàn năm 2012 ước đạt hơn 26 nghìn tỷ đồng. Sau 15 năm ln

vượt chỉ tiêu thu ngân sách thì vào năm 2012, Đà Nẵng hụt thu ngân sách hàng



40



nghìn tỷ đồng và đang phục hồi trở lại. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2015 là

14.789 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 12.233,5 tỷ đồng đạt 133,2% dự toán Trung

ương, 129,6% dự toán địa phương và bằng 133,3% so với năm 2014.

Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng đầu Việt Nam

liên tiếp trong ba năm 2008, 2009 và 2010, 2013, 2014, 2015, đồng thời đứng đầu

về chỉ số hạ tầng và xếp thứ tư về môi trường đầu tư. Trong bảng xếp hạng PCI của

Việt Nam năm 2012, Đà Nẵng xếp ở vị trí thứ 12 trên 63 tỉnh, thành. Năm 2013, Đà

Nẵng đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng. Năm 2011, Đà Nẵng có 36 dự án đầu

tư trực tiếp nước ngồi (FDI) mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn

đăng ký là 318,9 triệu đô la Mỹ. Năm 2012, con số này là 33 dự án với tổng số vốn

đăng ký 124,09 triệu đô la Mỹ, giảm hơn 60% so với năm 2011.

2.1.3. Đặc điểm về văn hóa – xã hội

a. Dân số, dân trí và lao động

Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, thành phố Ðà Nẵng có

684.846 người. Trong đó, dân số trong độ tuổi lao động xã hội toàn thành phố là

413.460 người, chiếm 57,7% dân số. Tính đến năm 2011, dân số toàn thành phố Đà

Nẵng đạt gần 951.700 người, mật độ dân số đạt 740 người/km². Trong đó dân số

sống tại thành thị đạt gần 828.700 người, dân số sống tại nơng thơn đạt 123.000

người. Tính đến năm 2015, dân số Đà Nẵng sinh sống ở thành thị là 897.993 người

và ở nơng thơn là 130.845 người, ngồi ra thành phố còn tiếp nhận thêm lượng dân

cư từ các tỉnh, thành là sinh viên, công nhân lao động, người nước ngoài... đến thành

phố học tập và làm việc nên tỷ lệ dân nhập cư ngày càng tăng. Dân số nam của

thành phố đạt 505.965 người, trong khi đó nữ đạt 522.873 người. Tỷ lệ tăng tự

nhiên dân số phân theo địa phương tăng 1,27%.

Dân số Đà Nẵng tăng trưởng ở mức từ 2,5% và 3% trong hầu hết các năm từ

năm 2005 tới 2011, cao hơn trung bình toàn quốc là 1% đến 1,2%. Cá biệt tỷ lệ tăng

trưởng đã tăng lên 3,6% trong năm 2010 trước khi trở lại 2,68% trong năm 2011.



41



Đây là tốc độ tăng trưởng nhanh thứ ba trong cả nước sau Bình Dương (4,41%)

và Đồng Nai (3,5%). Tỷ lệ tăng dân số của thành phố năm 2015 là 1,1%. Di cư là

yếu tố chủ đạo trong tăng trưởng dân số của thành phố ít nhất là từ năm 2009. Tăng

trưởng dân số tự nhiên của thành phố cao hơn một chút so với mức trung bình của

cả nước. Tuổi thọ trung bình đạt 77,4 tuổi đối với nữ và 72,4 hoặc 74,8 tuổi đối với

nam. Trong tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở mức 9,9 trẻ sơ

sinh tử vong trên 1.000 trẻ.

b. Tập quán, văn hố

Đà Nẵng là vùng đất có vị trí địa lý thuận lợi, là một trong những cửa ngõ

quan trọng ra biển. Ngày 01 tháng 01 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành

thành phố trực thuộc Trung ương. Đó là về mặt hành chính, còn về mặt văn hóa

dân gian thì vùng đất “trước sơng, sau núi, biển kề một bên này” cũng nằm trong

dòng văn hóa, văn nghệ dân gian, mang hơi thở của vùng đất, con người xứ

Quảng.

Vùng đất Đà Nẵng dựa trên nền tảng của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa

Champa rực rỡ từ xa xưa đã hiện hữu trên mảnh đất này. Những thế kỷ về sau,

Đà Nẵng trở thành thương cảng sầm uất, đã thu hút một bộ phận là thương nhân

người Hoa, người phương Tây,… đến giao thương bn bán. Thêm vào đó, tộc

người Katu ở phía tây trên vùng núi cao cũng mang những nét văn hóa độc đáo,

tất cả đã cùng giao lưu, hòa quyện vào nhau tạo nên bản sắc riêng của văn hóa

Đà Nẵng. Vì thế, khi nói đến giá trị văn hóa dân gian của Đà Nẵng thì chúng ta

hiểu rằng, nó khơng chỉ riêng của người Kinh ở Đà Nẵng thơi mà còn bao gồm

cả các tộc người khác cùng chung sống trên mảnh đất này từ thuở khai hoang,

dựng nghiệp cho đến nay, họ đã đồng tâm hiệp lực chiến đấu, bảo vệ và xây

dựng, tạo nên diện mạo đặc trưng cho mảnh đất Đà Nẵng.

Văn hóa dân gian Đà Nẵng là sự lắng đọng trong các lễ hội, trong phong

tục tập quán, tâm lý truyền thống được kết tinh từ lao động sáng tạo, lối suy



42



nghĩ, lối sống và cách ứng xử của các tộc người cùng cộng cư qua những giai

đoạn thăng trầm của lịch sử. Nó còn thể hiện ở văn hóa ẩm thực đó là mỳ

Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, bún chả cá... với những hương vị rất riêng

không lẫn với những sản vật của nơi khác. Lễ hội cũng là nét đặc trưng của văn

hóa Đà Nẵng, bao gồm nhiều yếu tố dân tộc, lịch sử, phong tục, tâm lý, tín

ngưỡng tơn giáo,... mặc dù so với những nơi khác thì khơng gian lễ hội hẹp hơn,

thời gian ngắn hơn, song cũng khá đa dạng và phong phú. Có các lễ hội truyền

thống như: lễ hội đình làng, lễ hội Cầu ngư, lễ hội Quán Thế Âm,... Văn hóa Đà

Nẵng còn là sức sống, sức sáng tạo của người dân được thể hiện ở kinh nghiệm,

tri thức được tích lũy trong quá trình lao động và đấu tranh bền bỉ với thiên

nhiên, với kẻ thù. Tri thức và năng lực sáng tạo đó còn biểu hiện qua hàng ngàn

câu ca dao, tục ngữ, hàng trăm sản phẩm độc đáo của làng nghề truyền thống

như: đồ mỹ nghệ Non Nước, guốc mộc Xuân Dương, nước mắm Nam Ô, thuốc

lá Cẩm Lệ, bánh tráng Túy Loan,... Tất cả đã nói lên tài hoa và sự khéo léo, tinh

xảo của người dân Đà Nẵng.

Văn hóa dân gian nơi đây còn có các làn điệu dân ca, hát hò khoan, bài

chòi, lý, hò vè độc đáo, chân chất đồng hành cùng các câu hát đồng dao, hát bả

trạo, các trò diễn dân gian như múa lân, múa sư tử, các vũ đạo có đường nét kinh

điển của nghệ thuật Tuồng truyền thống mà người xưa gọi là hát Bội. Bên cạnh

đó, âm nhạc dân gian vùng biển Đà Nẵng cũng rất phong phú, đa dạng, thắm

đượm tinh thần nhân văn sâu sắc, phản ánh cuộc sống khó khăn vất vả nhưng

khơng kém phần lạc quan yêu đời của những cư dân giàu ý chí, dũng cảm và đầy

khát vọng. Những con người sống trên vùng đất được mệnh danh là địa linh

nhân kiệt, nơi mà lịch sử dân tộc luôn giao cho họ sứ mệnh nặng nề, thiêng liêng

để luôn vững vàng và chống chọi nơi đầu sóng ngọn gió, những con người ln

trực tiếp đối mặt với bao hiểm nguy đe dọa từ Biển Đơng.



43



Ngồi ra, những yếu tố của văn hóa, văn nghệ dân gian như lễ hội, kiến

trúc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu, trò diễn dân gian,... là nguồn lực, tài

nguyên và là linh hồn là nguồn lực của du lịch, phát triển kinh tế.

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC BẢO HIỂM XÃ

HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2012-2016

2.2.1. Thực trạng về cơ cấu nguồn nhân lực bảo hiểm xã hội

Thành lập ngày 16/02/1995, BHXH Việt Nam trải qua 03 giai đoạn phát

triển (1995-2001, 2002-2007, 2008 đến nay), mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng

việc Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức. Trong đó, giai đoạn từ năm 2008 đến nay, có thể nói, có nhiều

đổi mới và chuyển biến mạnh mẽ trong quy mô nguồn nhân lực.

BHXH Việt Nam được tổ chức theo hệ thống ngành dọc, gồm 03 cấp từ

Trung ương đến địa phương, theo đó:

- Ở Trung ương là cơ quan BHXH Việt Nam với 16 tổ chức giúp việc

Tổng Giám đốc và 08 đơn vị sự nghiệp trực thuộc;

- Ở cấp tỉnh, có 63 BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Ở cấp huyện có 707 BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh (đối với

BHXH huyện có khối lượng công việc lớn được thành lập các tổ nghiệp vụ để

giúp Giám đốc BHXH huyện thực hiện các lĩnh vực công tác).

Về mặt số lượng, năm 1995 – khi Ngành BHXH mới thành lập, số lượng

công chức, viên chức chỉ có 4.864 người; đến tháng 06/2015, tồn Ngành đã có

18.816 cơng chức, viên chức và hợp đồng lao động; như vậy, đã tăng gấp 05 lần

sau 20 năm hoạt động. Số công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là

3.523 người, chiếm 18,72% tổng biên chế Ngành.

a. Cơ cấu nguồn nhân lực bảo hiểm xã hội theo trình độ đào tạo

chun mơn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×