Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4: SỐ NĂM NUÔI HEO CỦA NÔNG HỘ

Bảng 4: SỐ NĂM NUÔI HEO CỦA NÔNG HỘ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mặc khác, nếu có bán được thì khơng lời do chi phí đầu tư sản xuất ra heo con

giống cao mà khi bán không được giá.

Qua số liệu điều tra cho thấy người chăn ni có thể chia ra thành 3 nhóm

như sau:

- Nhóm 1: Có lượng heo ni dưới 10 con trong năm;

- Nhóm 2: Có lượng heo từ 10 đến dưới 50 con trong năm;

- Nhóm 3: Có lượng heo nuôi trên 50 con trong năm.

Bảng 5: QUI MƠ CỦA HỘ CHĂN NI HEO

STT



NHĨM HEO NI



SỐ HỘ



TỶ TRỌNG (%)



1



Từ 1 đến 9



2



3,4



2



Từ 10 đến 49



47



78,3



3



Từ 50 đến 400



11



18,3



Nguồn: Điều tra trực tiếp nông hộ chăn nuôi heo năm 2007



Qua bảng 5, số hộ ni heo ở nhóm 2 chiếm 78,3%, nhóm 3 là 18,3% và

còn lại là nhóm 1. Điều này cho thấy số lượng ni ở nhóm 2 là khá phổ biến ở

huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ, quan niệm của nhóm này là ni heo thịt

nhằm mục đích tận dụng lao động gia đình (chiếm 100%), tiết kiệm tiền (chiếm

90%), tăng thu nhập phụ thêm kinh tế gia đình (chiếm 83,3%), kiếm lời (chiếm

78,3%), và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và thức ăn thừa chiếm (chiếm

43,3%)

Mặc khác, trong năm 2005 giá heo tương đối cao (ảnh hưởng của dịch

cúm gia cầm) nên hầu hết các hộ nuôi heo điều tăng số đầu heo lên và lại có lợi

thế là con giống nhà nên các hộ để con giống lại nuôi kết quả là trong năm 2006

giá giảm mạnh do ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân như cung lớn hơn cầu,

nhiều bệnh lạ xuất hiện ở heo.



31



3.2.3.2 Q trình chăn ni heo thịt của nơng hộ

Qua thông tin thu thập từ hộ nuôi heo thịt các hộ ni trung bình khoảng 2

lứa/năm, chu kỳ mỗi lứa là 5 tháng. Vì sau mỗi lứa heo cần có thời gian để tu bổ

sửa, vệ sinh lại chuồng trại. Trọng lượng xuất chuồng bình quân cho mỗi con heo

thịt năm 2006 là 94 kg/con. Mức trọng lượng này tuy không cao nhưng vẫn đảm

bảo được về thể trọng, tỷ lệ nạc và được người tiêu dùng ưu chuộng nhiều hơn.

Mặt khác, ở mức thể trọng này heo thịt bắt đầu tăng dần khả năng tích lũy mỡ

nên việc bán heo ở mức trọng lượng này là thích hợp.

Cũng từ vấn đề này ta thấy được, hộ nuôi heo có xu hướng ưu chuộng

những giống heo có tỷ lệ nạc nhiều (heo lai ngoại) vì ở giống heo này thời gian

nuôi ngắn lại mà mức tăng trọng vẫn vậy và tỷ lệ nạc ở heo thịt chiếm cao hơn so

với heo nội (heo địa phương). Để làm rỏ hơn, tôi đã lấy thông tin thực tế từ 60 hộ

chăn nuôi heo thịt tại huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ để xem việc chọn

giống heo nuôi của hộ như thế nào ta có kết quả như sau:

Bảng 6: GIỐNG HEO THƯỜNG NUÔI

GIỐNG HEO



SỐ MẪU



TỶ TRỌNG (%)



Giống heo địa phương



17



28,3



Giống heo lai



43



71,7



Giống ngoại 100%



0



0,0



Tổng



60



100



Nguồn: Điều tra trực tiếp nông hộ chăn nuôi heo năm 2007



Phần lớn hộ chọn giống heo lai để ni chiếm 71,7% vì ở giống heo này

dễ ni (chiếm 86,7%), ít bệnh (chiếm 81,7%), mau lớn (chiếm 76,7%) năng suất

đạt chiếm (70%), dễ bán sản phẩm nên được hộ ni heo ưu chuộng. Bên cạnh

đó, giống heo địa phương vẫn được người dân nuôi chiếm 28,3% phần lớn đối

với những hộ chọn giống heo địa phương là do heo con giống nhà giá heo con

giống rẻ, năng suất không chênh lệch mấy so với heo lai. Đối với giống heo

ngoại 100% khơng được hộ chọn ni vì giá heo giống của nó cao, một khác do

cơ sở giống xa nơi hộ nuôi heo và kỹ thuật nuôi đối với giống heo này không

biết. Qua bảng 7, ta sẽ hiểu rỏ hơn về việc hộ chọn giống heo đang ni.

32



Bảng 7: LÝ DO CHỌN GIỐNG HEO ĐANG NI

LÝ DO



TẦN SỐ



TỶ LỆ (%)



XẾP HẠNG



Mau lớn



46



76,7



3



Dễ mua heo con giống



28



46,7



5



Giá con giống rẻ



27



45,0



6



Dễ ni



52



86,7



1



Ít bệnh



49



81,7



2



Nạc nhiều năng suất cao



42



70,0



4



Lý do khác



08



13,3



7



Nguồn: Điều tra trực tiếp nông hộ chăn nuôi heo năm 2007



Giống heo mà hộ chọn nuôi chủ yếu từ heo nái nhà (chiếm 56,7%), mua ở

chợ (chiếm 35%), phận còn lại hộ mua con giống của người hàng xóm.

Hầu hết các hộ đều muốn chọn nuôi những giống heo đủ tiêu chuấn xuất

khẩu ở các cơ sở cung cấp giống vì ở giống heo này sản phẩm khi xuất chuồng

bán được giá cao, ổn định, không bị thương lái ép giá bảo giống xấu, tỷ lệ nạc

thấp v.v..

3.2.3.3 Về thức ăn chăn nuôi heo

Thức ăn sử dụng nuôi heo ngày càng phong phú, đa dạng. Ngoài những

loại thức ăn theo truyền thống (tận dụng các phụ phẩm và phế phẩm nông sản

như gạo tấm, cám, bắp, hèm rượu, bả đậu nành, thức ăn thừa...), người ni heo

còn sử dụng khá phổ biến các loại thức ăn công nghiệp (thức ăn viên, thức ăn

đậm đặc, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh). Các loại thức ăn này có nhiều chủng loại

tương ứng với nhiều mức giá khác nhau nên việc chọn mua cũng dễ dàng.

Nguồn thức ăn nuôi heo dễ mua. Có nhiều nguồn cung cấp thức ăn gia súc

ở địa phương và hầu hết được giao tận nơi chăn nuôi. Thực tế, có 75% số hộ điều

tra mua thức ăn tổng hợp ở chợ và được giao tận nhà cho hộ chăn nuôi. Phần lớn,

người nuôi heo không lo thiếu vốn mua thức ăn vì họ có thể lựa chọn phương

thức thanh tốn phù hợp với khả năng tài chính của mình (như mua chịu, trả ngay

tiền mặt, ứng trước...). Vấn đề quan tâm của hộ chăn nuôi là giá cả thức ăn khá

cao nên làm cho hiệu quả chăn ni còn thấp.

33



3.2.3.4 Về thú y

Mạng lưới thú y trên địa bàn huyện ngày nay được mở rộng xuống tận xã.

Người chăn nuôi ở đây đã ý thức được thiệt hại do dịch bệnh gây ra nên 100%

đều chích ngừa cho heo đầy đủ loại bệnh thông thường (dịch tả, tụ huyết trùng,

thương hàn....). Khi heo bị bệnh thì hộ tự trị bệnh là chủ yếu (chiếm 90%) do họ

dựa vào kinh nghiệm, hướng dẫn của cán bộ thú y, đọc sách vì có thể tiết kiệm

được phần nào chi phí thú y, chỉ những hộ mới ni hay một số bệnh lạ thì hộ

mới thuê thú y trị. Trong q trình chăn ni, heo thường mất các loại bệnh chủ

yếu như bệnh thương hàn (23,3%), bệnh tiêu chảy (chiếm 18,3%), và một số

bệnh như ecoly, bệnh phù đầu..

3.2.3.5 Về phương thức chăn nuôi

Trong số 60 hộ điều tra 100% đều sử dụng chuồng trại để ni. Diện tích

chuồng hiện đang sử dụng cho ni heo trung bình là 83,18 m2 và mật độ chuồng

cho một con heo bình quân là 2,39m2/con.

Ngồi ra, nhiều nơng hộ còn trang bị thêm máy móc và thiết bị như: máy

trộn thức ăn, máy xây bắp, hệ thống điện thắp sáng, làm túi hoặc hầm biogas để

xử lý chất thải... số hộ có làm biogas chiếm 12% số hộ điều tra. Số hộ không sử

dụng biogas do không đủ tiền làm túi ủ (27%), do số lượng heo ít khơng đủ làm,

sợ hơi, khó sử dụng, sợ chất lượng không đảm bảo, (Trong 60 hộ chỉ có 41 hộ trả

lời ở lý do tại sao hộ không sủ dụng túi biogas để xử lý phân heo)

Hộ áp dụng phương thức sản xuất trong gia đình chủ yếu là mơ hình trồng

lúa, ni heo là chủ yếu (chiếm 36,7%) và kế đến là mơ hình trồng lúa, nuôi heo,

nuôi cá là chủ yếu (chiếm 30%), hộ đã biết kết hợp hình thức canh tác lại với

nhau một phần tăng thu nhập cho hộ phần còn lại giảm sự ơ nhiễm mơi trường.

Đa phần thì các hộ không muốn thay đổi hệ thống canh tác như hiện tại chiếm

88,3%, nếu có thì chuyển sang mơ hình trồng lúa, nuôi heo, nuôi cá.

Nguồn nước được sử dụng chăn nuôi heo ở đây chủ yếu là nước giếng

khoan được bơm bằng mô-tơ điện (chiếm 85%) nên những bệnh mà heo mất phải

do ô nhiễm nguồn nước là không đáng kể; kế đến là nước sông, ao hồ (chiếm

13,3%) và có số ít hộ sử dụng nước máy (chiếm 1,7%).

3.2.3.6 Mục đích trong chăn ni heo của nơng hộ

34



Qua điều tra thực tế, mục đích ni heo của hộ chủ yếu là tận dụng lao

động gia đình có 100% ý kiến đồng tình, phụ thêm kinh tế gia đình vì ni heo là

cơng việc nhẹ nhàng, thời gian chăn sóc lại ngắn nên cả người già và trẻ em đều

có thể tham gia được có 90% hộ chấp nhận ý kiến này. Kế đến là kiếm lời, tận

dụng các phế phẩm nông sản và tiết kiệm tiền và các mục đích khác.

Như vậy, cách nghĩ của các hộ chăn nuôi chỉ xem nuôi heo là nguồn thu

nhập phụ của gia đình, chưa phải là nguồn thu nhập chính trong gia đình nên

khơng trách khỏi tình trạng ni heo nhỏ lẻ, phân tán và khó khăn trong việc

truyền đạt kỹ thuật chăn ni cho nơng hộ.

Bảng 8: MỤC ĐÍCH NI HEO CỦA NƠNG HỘ

MỤC ĐÍCH



TẦ

N SỐ



TỶ TRỌNG

(%)



XẾP

HẠNG



Tiết kiệm tiền



54



90,0



2



Kiếm lời



47



78,3



4



Tặng dụng phế phụ phẩm



26



43,3



5



Lấy phân heo bón ruộng



06



10,0



7



Cung cấp thịt cho gia



01



1,7



8



Tận dụng lao động gia



60



100,0



1



Tăng thu nhập phụ thêm



50



83,3



3



10



16,7



6



đình

đình

cho gia đình

Mục đích khác



Nguồn: Điều tra trực tiếp nơng hộ chăn ni heo năm 2007



3.2.4. Tình hình tiêu thụ sản phẩm heo thịt của nông hộ

35



Theo kết quả điều tra, tình hình tiêu thụ heo hơi của nơng hộ chăn nuôi tại

huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ như sau:

Bảng 9: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HEO THỊT



KHOẢN MỤC



ĐƠN VỊ TÍNH



Số heo xuất chuồng



NHĨM



Con



3.006



Trọng lương bình qn



kg/con



94



Tổng sản lượng bán



Kg/năm



300.665



đ/kg



16.110



Giá bán

Doanh thu



1.000đ/năm



4.834.713



Nguồn: Điều tra trực tiếp nông hộ chăn ni năm 2007



Qua bảng phân tích trên ta thấy được, số heo thịt bán ra trong năm 2006 là

3.006 con tương đối cao do trong năm 2005 đa số hộ ni heo có lời nên muốn

ni thêm để tăng thu nhập cho gia đình nhưng giá bán ra trong năm 2006 tương

đối thấp 16.110đồng/kg đều nay gây nhiều trở ngại cho hộ ni vì chi phí đầu tư

của hộ trung bình cho 1 kg heo hơi là 16.412đồng/kg.

Nơng hộ bán heo hơi chủ yếu cho lái heo hay gọi là thương lái (chiếm

93,3%), những khách hàng này từ nơi khác đến là chủ yếu (chiếm 21%) và lái

heo ở trọng huyện chiếm 20%, khách hàng trong xã chiếm 13%. Điều này cho

thấy, kênh phân phối sản phẩm heo thịt trên địa bàn huyện khá đa dạng.

Lý do mà hộ bán heo cho họ là giá cả hợp lý (chiếm 93,3%) vì trong chăn

ni giá cả quyết định lợi nhuận của hộ, kế đến là việc trả ngay bằng tiền mặt

(chiếm 73,3%) do các lái heo từ mọi nơi đến mua không biết chỗ ở cụ thể nên

phải lấy tiền mặt mới đảm bảo. Do mối quen mua bán lâu năm (chiếm 55%), cân

đo chính xác cũng là lý do để hộ bán heo cho họ (chiếm 50%) vì qua quen biết

nên giữa hộ chăn nuôi và người mua dễ liên lạc, dễ trao đổi thông tin và dễ

thương lượng trong việc bán sản phẩm hơn. Ngoài ra, việc người mua có mặt

ngay khi cần bán, cân đo sản phẩm chính xác (khơng gian lận) trong q trình

mua cũng là những lý do để nông hộ chọn bán (chiếm 46,7%).



36



Khi cần bán, các nông hộ thường liên hệ với thương lái bằng cách gọi điện

thoại chiếm (58,3%), người mua tự liên hệ (chiếm 23,3%), một số thương lái biết

chu kỳ nuôi sẽ tự liên hệ với người bán chỉ (chiếm 18,4%)

Phương thức thanh toán khi bán heo chủ yếu là băng tiền mặt, có đến

88,3% các hộ chăn ni được trả ngay bằng tiền mặt khi bán sản phẩm. Vì bán

heo chủ yếu cho những người lạ nên hộ bằng lòng bán khi trả ngay bằng tiền

mặt, việc mua chịu kéo dài đôi ngày chiếm tỷ lệ rất thấp là 5,6%, những người

này chủ yếu là những người quen biết, trong xóm.

Bảng 10: GIÁ HEO HƠI ĐỢT 1, 2 NĂM 2006 VÀ ĐỢT 1 NĂM 2007

ĐỢT



GIÁ TRUNG BÌNH (đ/kg)



- ĐỢT 1 - 2006



16.504



- ĐỢT 2 - 2006



15.717



- ĐỢT 1 - 2007



17.919

Nguồn: Điều tra trực tiếp nơng hộ chăn ni năm 2007



Hình 2: Giá heo hơi qua các đợt

Qua bảng 10 và hình 2 ta thấy, giá mua heo biến động nhiều nguyên nhân

là do cung - cầu về sản phẩm thịt heo trên thị trường khơng cân bằng, lúc thì

cung vượt cầu làm cho giá giảm, lúc thì cung khơng đủ đáp ứng nhu cầu nên giá

tăng. Trong năm 2006, giá bán ở đợt 1 là 16.504 đồng/kg là tương đối vì ở mức

giá này có thể đảm bảo cho người ni heo có lời (chi phí là 16.412đồng/kg)

nhưng khơng cao lắm, đến đợt 2 năm 2006 giá giảm mạnh do hộ thấy ni heo

có lãi nên mở rộng qui mơ chăn nuôi, kết quả là làm cho cung nhiều hơn cầu và

mặc khác chịu ảnh hưởng của bệnh lở mòm long móng nên khơng tránh khỏi tình

trạng giá heo hơi giảm mạnh chỉ còn 15.717 đồng/kg. Cũng theo quy luật cung

37



cầu đầu năm nay, giá heo tăng 17.919 đồng/kg vì do qui mơ ni của hộ giảm

xuống và có một số hộ ni ra khỏi ngành vì cho rằng ni heo khơng có lời.

3.3 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHĂN NI HEO THỊT CỦA NƠNG HỘ

3.3.1 Chi phí chăn ni heo thịt của nơng hộ

Trong qua trình chăn ni heo để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi cần xác

định và phân tích từng khoản mục chi phí đều này giúp hộ kết hợp các nguồn đầu

vào trong quá trình sản xuất có hiệu quả. Chi phí trong chăn ni gồm các khoản

sau:

- Các biến phí: chi phí con giống, chi phí thức ăn (gạo, tấm, cám, thức ăn

tổng hợp, rau, khác…), chi phí thú y, chi phí điện nước, chi phí lao động thuê,

chi phí khác, tính chi phí trung bình cho mỗi con heo thịt sau đó lấy chi phí này

chia tiếp cho trọng lượng trung bình cho mỗi con heo thịt ta được biến phí trên

kg heo hơi.

- Các định phí: chi phí chuồng trại, máy móc, định phí khác, tính định phí

phân bổ cho một năm, sau đó lấy định phí này chia cho số lứa heo ni trong

năm ta có được định phí chăn ni heo cho một lứa và lấy định phí này chia cho

số con trong một lứa, ta được định phí trên con. Ta lấy định phí này chia trọng

lượng bình qn của một con heo thì ta sẽ được định phí trên kg heo hơi.

- Chi phí lao động: Theo người chăn nuôi cho biết 01 ngày công lao động

giá từ 20.000 đồng/ngày đến 35.000 đồng/ ngày. Giá bình quân quy ra tiền được

tính như sau: chi phí lao động nhà chia cho số heo ni trong 1 lứa ta được chi

phí lao động cho 01 con, sau đó lấy chi phí này chia cho trọng lượng bình quân

của 01 con ta có được chi phí lao động trên kg heo hơi.



Bảng 11: CHI PHÍ CHĂN NI HEO THỊT

38



TỪ LÚC NI CHO ĐẾN XUẤT CHUỒNG

(Tất cả chi phí được quy về tính trên 1 kg heo hơi được xuất chuồng)

Đơn vị tính: đồng/kg

KHOẢN MỤC

Chi phí giống



TRUNG BÌNH



NHỎ



LỚN



ĐỘ LỆCH



NHẤT



NHẤT



CHUẨN



2.561,94



1.500,00



4.800,00



833,99



11.085,21



3.600,00



15.953,62



2.170,58



248,55



0,00



3.200,00



410,81



43,50



0,00



100,00



21,23



2.312,51



500,00



5.562,38



1.272,51



Chi phí máy móc



160,51



0,00



923,08



143,41



Chi phí lao động



798,29



0,00



2.333,33



533,97



17.210,51



5.600,00



32.872,41



5.386,50



Chi phí thức ăn

Chi phí thú y

Chi phí điện nước

Chi phí chuồng trại



Tổng



Nguồn: Điều tra trực tiếp nơng hộ chăn ni năm 2007



Hình 3: Tỷ trọng chi phí ảnh hưởng đến sản lượng heo

Kết quả ở bảng 11, ta thấy chi phí thức ăn có giá trị bình qn là

11.085,21 đồng/kg chiếm tỷ trọng 65% (hình 3). Trong thời gian qua, giá thức ăn

có sự gia tăng thường rất đặt. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận

của người chăn ni. Chi phí lao động được chỉ ra trong phần này chủ yếu là chi

phí cơng lao động nhà qui ra tiền, tuy nhiên trong quá trình tính tốn lợi nhuận

thì nó khơng được đưa vào, mục tiêu ở đây là nhằm theo dõi ngày công lao động

của hộ. Đây là một loại chi phí được xem là khá cao trong thời gian chăn ni

bình qn chi phí lao động là 798,29 đồng/kg. Còn về chi phí lao động th gần

như khơng có bởi vì phần lớn người nuôi theo quan niệm lấy công làm lời.

39



Do đặc thù của chăn nuôi nông thôn, nên về chuồng trại một số hộ có sẵn

từ trước mà được người ni bỏ tiên ra xây dựng, hiện tại là họ tận dụng lại, hoặc

một số hộ có sửa chữa chút ít, một số còn lại xây dựng hồn tồn mới. Chi phí

chuồng trại ở đây được tính từ các chi phí xây dựng, sửa chữa và khấu hao qua

thời gian. Chi phí này chiếm tỷ lệ tương đối cao là 13%. Việc chi phí chuồng trại

chiếm tỷ lệ tương đối cao là do hộ chăn nuôi lâu năm đầu tư chuồng trại cố định

và muốn thời gian sử dụng trong chăn ni được lâu (trung bình khoảng 12 năm).

Ngồi chi phí thức ăn thì chi phí về giống chiếm tỷ lệ tương đối 15%.

Phần lớn các hộ ni gia đình thường là chọn mua giống tại địa phương. Các hộ

nuôi heo ở đây chủ yếu là tự tạo giống heo để ni, còn các hộ khơng tự tạo

giống để ni thì đi mua heo con giống về nuôi nên giá heo cũng được thay đổi

khi giá heo trên thị trường thay đổi.

Những chi phí khác thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí. Nhìn

chung, tổng chi phí để tạo ra 1kg thịt hơi của hộ ni gia đình là tương đối cao

17.210,51 đồng. Chính vì vậy nếu năm nào giá heo trên thị trường tăng cao thì

người ni mới có lợi nhuận, còn ngược lại nếu giá giảm thì người ni có thể bị

lỗ

Cách tính tương tự như trên ta tính cho bảng 12 nhưng khơng có chi phí

lao động nhà.



Hình 4: Tỷ trọng chi phí thức ăn trong q trình chăn ni heo thịt

Bảng 12. TỶ TRỌNG CHI PHÍ TRONG CHĂN NI HEO

CỦA HỘ GIA ĐÌNH

40



(Tất cả chi phí được quy về tính trên 1 kg heo hơi được xuất chuồng)

Đơn vị tính: đồng/kg

KHOẢN MỤC

Chi phí giống

Chi phí thức ăn

Chi phí thú y

Chi phí điện nước

Chi phí chuồng trại

Chi phí máy móc

Tổng



TRUNG BÌNH



TỶ TRỌNG (%)



2.561,94



15,61



11.085,21



67,54



248,55



1,52



43,50



0,30



2.312,51



14,10



160,51



0,98



16.412,22



100,00



Nguồn: Điều tra trực tiếp nơng hộ chăn ni năm 2007



Bảng 13. CHI PHÍ THỨC ĂN TRONG CHĂN NI HEO THỊT

Đơn vị tính: đồng/kg

KHOẢN MỤC



TRUNG BÌNH



TỶ TRỌNG (%)



Tấm (gạo)



2.773,99



25



Cám



5.675,01



51



Thức ăn tổng hợp



2.564,36



23



71,84



01



11.085,02



100



Thức ăn khác

Tổng



Nguồn: Điều tra trực tiếp nông hộ chăn nuôi năm 2007



Ở đây hộ vẫn nuôi heo theo kiểu truyền thống sử dụng thức ăn cám chiếm

tỷ lệ cao nhất chiếm 51% tương ứng giá trị là 5.675,01 đồng/kg heo hơi. Kế đến

là tấm (gạo) chiếm 25% tương ứng với giá trị là 2.773,99 đồng/kg heo hơi, thức

ăn tổng hợp chiếm 23% với giá trị 2.564,36 đồng/kg và các chi phí khác 1% với

71,84 đồng/kg (rau, hèm, cận đậu hủ…). Hộ sử dụng thức ăn tấm, cám chủ yếu

trong chăn ni vì giá cám, tấm còn thức ăn tổng hợp sử dụng ít do gần đây giá

thức ăn tổng hợp tăng (do thiếu nguồn nguyên liệu) và giá heo hơi giảm mạnh

vào đầu năm 2006

Mặc khác, mối quan tâm hàng đầu của người chăn ni là chi phí thức ăn

trong chăn ni vì đây là chi phí chủ yếu trong q trình chăn ni heo, trong khi

đó giá bán heo hơi ln biến động bắt thường. Gần đây, do thiếu nguồn nhiên

41



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4: SỐ NĂM NUÔI HEO CỦA NÔNG HỘ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×