Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

65

rét 14 - 17oC thuận lợi cho thu hoạch bảo quản và tiêu thụ. Như vậy, nhiệt độ đầu vụ

khá thuận lợi cho thân lá sinh trưởng, phát triển giữa và cuối vụ thuận lợi cho sự

hình thành và phát triển của củ, do đó vụ đơng là vụ trồng khoai tây có khả năng

cho năng suất cao hơn các vụ khác.

Cây khoai tây có ba giai đoạn: Giai đoạn phát triển thân lá, giai đoạn hình

thành củ và giai đoạn phình to củ. Mỗi giai đoạn có u cầu nhiệt động khác nhau.

Từ mọc đến phát triển thân lá, cây khoai tây cần nhiệt độ tương đối cao, thay đổi từ

16°C - 24°C, giai đoạn này thân lá phát triển đầy đủ thì năng suất củ mới cao. Giai

đoạn hình thành củ cần nhiệt độ thấp hơn. Rashid năm 1974 có nhận xét, củ khoai

tây hình thành nhanh nhất ở nhiệt độ ban ngày 20°C - 21°C và ban đêm 14°C. Giai

đoạn phình củ cần nhiệt độ thấp hơn kết hợp với ngày dài và cường độ ánh sáng

cao. (Trương Văn Hộ, 2010) [17].

- Về ẩm độ: Ẩm độ giữa các tháng chênh lệch không đáng kể, dao động từ 79 81,5%, tháng 11 - 12 thường có ẩm độ thấp nhất (72 - 75%). Ẩm độ cao thuận lợi cho

sự sinh trưởng và phát triển của cây nhưng cũng thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh phá

hại khoai tây ở ngoài đồng cũng như phá hại củ giống trong quá trình bảo quản.

- Về lượng mưa: Thái Nguyên có lượng mưa bình qn năm từ 1532,2 2045,9 mm, tập trung chủ yếu vào tháng 5 đến tháng 9. Đối với khoai tây trồng vụ

đông, đầu vụ lượng mưa còn khá cao, thuận lợi cho sự sinh trưởng thân lá, tuy

nhiên nếu trồng khoai tây sớm cần đảm bảo tiêu nước đầu vụ.

Vụ đơng ở miền Bắc có lượng mưa thấp trung với thời kỳ hình thành và phát

triển củ, nếu khơng tưới nước bổ sung thì năng suất khoai tây khơng cao vì loại cây

này rất nhạy cảm với sự khơ hạn, nước là yếu tố chính hạn chế năng suất khoai tây

(Vanloon, 1981; Salter và Good, 1967 [131], [119]. Khoai tây là loại cây trồng được

trồng phổ biến ở vùng đất khô hạn hoặc bán khô hạn nơi năng suất và chất lượng củ

được thúc đẩy bởi kỹ thuật tưới nước. Năng suất củ chịu ảnh hưởng đáng kể trong

cả 2 trường hợp thiếu nước hoặc tưới nước quá nhiều (Amer et al., 2016) [52].

Tóm lại: Với điều kiện khí hậu ở Thái Nguyên rất thích hợp trồng cây khoai

tây vụ đơng, tuy nhiên còn khá nhiều yếu tố khí hậu khơng thuận lợi cho sản xuất

khoai tây. Vì vậy cần nghiên cứu để có biện pháp kỹ thuật tác động hợp lý, trong đó



66

chú trọng đúng thời vụ gieo trồng để hạn chế những tác động bất lợi.

3.1.1.2. Điều kiện đất đai

Hầu hết đất ruộng của tỉnh Thái Nguyên là đất dốc tụ, đất phù sa sơng suối

có thành phần cơ giới là pha cát và thịt nhẹ. Theo Nguyễn Văn Thắng và cs, [40] thì

đây là 2 loại đất có đủ điều kiện đảm bảo độ ẩm, độ thống khí, tơi xốp để củ phát

triển thuận lợi, ít bị dị hình.

Như vậy, dựa vào đặc điểm và tính chất đất thì điều kiện đất đai ở Thái

Nguyên thích hợp với việc trồng khoai tây. Tuy nhiên để xác định liều lượng phân

bón đầy đủ và cân đối cho khoai tây trồng ở Thái Nguyên đạt năng suất và hiệu quả

kinh tế cao cần phân tích đất trước khi làm các thí nghiệm phân bón để biết được

hàm lượng mùn, thành phần các chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali để bổ sung các

loại phân bón cho phù hợp và hiệu quả.

Số liệu ở bảng 3.1 cho thấy, tỉnh Thái Nguyên có 14.741,2 ha đất ruộng,

trong đó có 7.205,4 ha (chiếm 48,79%) chủ động nước được trồng 2 vụ lúa và cây

màu vụ đông. Ruộng bán chủ động nước có 5.713,9 ha (chiếm 38,76%) được cấy

lúa vụ mùa (6.023,5 ha) và cây màu vụ xuân như ngơ, rau, đậu đỗ, khoai lang

(885,8 ha). Diện tích đất hồn tồn khơng chủ động nước còn 142,1 ha (chiếm

0,96%) được trồng lúa vụ mùa, trong đó khơng có diện tích trồng cây màu vụ xn.

Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất ruộng năm 2015 tại tỉnh Thái Nguyên

Diện tích (ha)



Tổng

Cây trồng



diện tích Chủ động nước

(ha)



(ha)



(%)



Bán chủ



Khơng chủ



động nước



động nước



(ha)



(%)



(ha)



(%)



Lúa mùa



14.741,2



7.205,4



48,79 5.713,9



38,76



142,1



0,96



Lúa xuân



15.156,8



8.172,1



53,92 6.023,5



39,74



164,8



1,08



(Sở NN và PTNT tỉnh Thái Nguyên năm 2017)[30]

Như vậy, tiềm năng đất trồng khoai tây vụ đông của Thái Nguyên rất lớn.

Tuy nhiên, nước đưa vào ruộng chủ yếu lấy từ nguồn nước ao, kênh mương, sống

suối vào mùa đơng thường có lưu lượng thấp, vì vậy để có đủ nước tưới cho khoai

tây cần có kế hoạch hỗ trợ người dân tu sửa, củng cố hệ thống kênh mương nội



67

đồng và các trạm bơm thủy lợi.

* Cơ cấu cây trồng vụ đông trên đất ruộng tại tỉnh Thái Nguyên

Trong nhiều năm qua, ngô là cây trồng chủ đạo trong vụ đơng (năm 2015

tồn tỉnh đã trồng được 15.762 ha, chiếm 52,45% diện tích cây vụ đông). Khoai tây

mới được đưa vào cơ cấu cây trồng nên diện tích còn rất ít (năm 2015: 511 ha),

chiếm 1,42% tổng diện tích cây vụ đơng bằng 2,8% diện tích ngơ đơng.

Bảng 3.2. Cơ cấu cây trồng vụ đơng năm 2015 trên đất ruộng

tại tỉnh Thái Nguyên

Diện tích

Thu nhập

Sản lượng

Loại cây trồng

(triệu

(tấn)

ha

Tỷ lệ (%)

đồng/ha)

Ngô



15.762



52,45



79.053



11,5



Khoai tây



511



1,42



6.965



45,83



Khoai lang



4.260



14,16



27.848



14,00



Rau, đậu các loại



9.544



31,73



231.169



30.077



100



345.035



Tổng



(Sở NN và PTNT tỉnh Thái Nguyên năm 2017)[30]

Mặc dù diện tích còn hạn chế nhưng trồng khoai tây cho thu nhập cao, lãi

thuần đạt 45,83 triệu đồng/ha, gấp 4 lần so với thu nhập ngô đông, gấp 3,2 lần khoai

lang. Theo ý kiến của người dân, do khoai tây yêu cầu đầu tư cao hơn nhiều so với

các cây trồng khác, khơng chủ động nguồn củ giống, chăm sóc khó hơn các cây

trồng vụ đông khác nên chưa thực sự khuyến khích được người sản xuất, chưa hình

thành vùng sản xuất tập trung.

3.1.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

* Điều kiện kinh tế

Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía bắc, có diện tích 3.562,82 ha với

cơ cấu kinh tế công nghiệp và xây dựng - dịch vụ - nông, lâm nghiệp, thủy sản.

Những năm gần đây nền kinh tế của Thái Nguyên đã có những bước phát triển rõ

rệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt cao trên 9%, tốc độ tăng trưởng ngành nông

nghiệp đạt trên 10% thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt 68 triệu



68

đồng/người/năm, bình qn lương thực đạt 365,3 kg thóc/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo

đa chiều 9%. Nên đầu tư cho sản suất nông nghiệp ở một số huyện miền núi còn

hạn chế. Kết quả phỏng vấn nhóm và hộ gia đình cho thấy, thiếu tiền mua củ giống

tốt (phải đăng ký với Hội Nông dân khung thời vụ ngắn); phân bón là một trong

những ngun nhân chính dẫn đến năng suất khoai tây thấp và hạn chế mở rộng

diện tích.

* Dân số và lao động

Dân số của Thái Nguyên có 1.255.833 người (năm 2017), trong đó có 64,9%

dân số sống ở nông thôn, 80,2% là người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Sán Chay,

Dao… Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên 768.300 người, trong đó có 321.500 lao

động nơng nghiệp. Nhìn chung lao động nơng nghiệp có trình độ học vấn thấp hơn

khu vực thành thị, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật bước đầu người dân áp

dụng và mở rộng, tuy nhiên một số xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số

việc chuyển giao và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nơng

nghiệp còn hạn chế.

* Giao thông

Tổng chiều dài đường bộ của Tỉnh là 2.753 km. Trong đó, Đường quốc lộ:

183 km. Đường tỉnh lộ: 105,5 km. Đường huyện lộ: 659 km. Đường liên xã: 1.764

km. Các đường tỉnh lộ, quốc lộ đều được rải nhựa. Tính đến tháng 12 năm 2017,

tồn tỉnh có 139 xã đạt tiêu chí giao thơng theo bộ tiêu chí quốc gia nơng thơn mới,

riêng năm 2017 tồn tỉnh đã triển khai xây dựng được 603,69 km đường giao thông

các loại (trong đó: đường trục xã, liên xã 55,01 km; đường trục xóm, liên xóm

344,71 km; đường ngõ xóm 173,95 km; đường trục chính nội đồng 30,02 km). Như

vậy nhiều xã có đường ơ tơ đi đến được trung tâm rất thuận lợi cho việc trao đổi vật

tư hàng hóa. Tuy nhiên, vào mùa mưa một số con đường còn bị lầy lội, do chưa có

đường nhựa, đường bê tơng.

* Thủy lợi

Tỉnh đã xây dựng được nhiều hệ thống kênh mương nội đồng phục vụ sản

xuất nông nghiệp. Năm 2017 trên địa bàn tỉnh đã nâng cấp, xây dựng, cải tạo, sửa

chữa nhỏ 50 hồ đập, 10 trạm bơm từ nguồn thủy lợi phí cấp hàng năm 87,06 km

kênh mương. Tuy nhiên hệ thống kênh mương này mới chỉ tưới tiêu chủ động cho

48,79% diện tích đất ruộng. Việc còn nhiều diện tích canh tác nhờ nước trời rất khó

khăn cho việc áp dụng kỹ thuật tiến bộ để nâng cao hiệu quả sản xuất đặc biệt các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×