Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
giai đoạn 2014 - 2017

giai đoạn 2014 - 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

Năng suất khoai tây trung bình đạt từ 14,89 - 15,43 tấn/ha cao hơn năng suất trung

bình của tồn tỉnh. Tổng sản lượng khoai tây của Thành Phố Thái Nguyên đạt 425

tấn trong năm 2014, chiếm 6,7% và tăng lên trên 1.000 tấn trong năm 2017, chiếm

14,8% tổng sản lượng khoai tây của tồn tỉnh.

Huyện Phú Lương có xu hướng giảm diện tích trồng khoai tây trong những

năm gần đây. Năm 2014, tồn huyện có 45 ha trồng khoai tây chiếm 9% tổng diện

tích khoai tây của tồn tỉnh và giảm khoảng 1/2 trong năm 2017. Năng suất khoai

tây trung bình của tồn huyện chỉ đạt 14,20 tấn/ha trong năm 2014 nhưng đã tăng

cao trong những năm qua và đạt 15,13 tấn/ha trong năm 2017. Tổng sản lượng

khoai tây của toàn huyện Phú Lương dao động 300 - 639 tấn, chiếm 5,4 - 7,7%

tổng sản lượng khoai tây của toàn tỉnh.

1.3.3.2. Một số thuận lợi khó khăn trong sản xuất khoai tây tại Thái Nguyên

* Thuận lợi

- Điều kiện khí hậu, đất đai tương đối phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của

cây khoai tây, tiềm năng đất trồng khoai tây vụ đông rất lớn, khả năng phát triển khoai

tây cao (thời gian sinh trưởng ngắn 80-90 ngày) ưa lạnh không bị áp lực thời vụ.

- Thị trường tiêu thụ khoai tây tại Thái Nguyên rất lớn có nhiều công ty,

nhiều trường đại học, người dân đã nhận thức được giá trị của cây khoai tây và có

nhu cầu mở rộng diện tích trồng khoai tây.

- Thái Nguyên đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là đưa

cây màu vụ đơng vào sản xuất nên có nhiều chính sách trợ giá giống, xây dựng mơ

hình trình diễn, hướng dẫn kỹ thuật trồng khoai tây cho nông dân.

* Khó khăn

- Người dân chưa biết kỹ thuật trồng khoai tây, bón phân, tưới nước, vun

gốc.. chưa đủ, chưa đúng quy trình kỹ thuật.

- Chưa có bộ giống tốt và thích hợp, người dân chủ yếu trồng giống khoai tây

nhập khẩu thương phẩm từ Trung Quốc dẫn đến tình trạng chất lượng giống rất kém,

giống bị nhiễm sâu bệnh năng suất thấp, thiếu kho lạnh bảo quản khoai làm giống.

- Thiếu mối quan hệ sản xuất - tiêu thụ, giữa doanh nghiệp - nông dân, sản

lượng hầu hết nông dân tự tiêu thụ.



22

- Trồng chăm sóc khoai tây khó và tốn công hơn một số cây trông vụ đông

khác. Giá khoai tây giống cao, đầu tư trồng 1 ha khoai tây lớn nên nhiều người dân

khơng có kinh phí đầu tư. Khoai tây nhiều sâu bệnh, chưa có biện pháp phòng trừ.

1.4. Một số kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống khoai

tây trên thế giới và Việt Nam

1.4.1. Một số kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống khoai tây trên thế giới

Tại đảo Luzon, Philippins vào những năm 1980, các nhà khoa học đã tiến

hành chọn tạo được 3 giống B71.240.2, I.1035 và PO3 biểu hiện khả năng kháng

cao với mốc sương và thích nghi với điều kiện sinh thái tại địa phương. Các giống

trên được nhóm tác giả dùng như các dòng bố mẹ làm vật liệu lai tạo giống mới

kháng bệnh mốc sương và đã chọn tạo được dòng LBR2-51. Đã chọn lọc giống

khoai tây kháng tuyến trùng khoai tây, phát triển các dòng vơ tính có khả năng

kháng bệnh bằng cách sử dụng các chỉ thị phân tử dựa trên PCR để kết hợp gen

Ryadg (kháng với PVY), Gro1 (kháng loài tuyến trùng Globodera rostochiensis) và

Rx1 (kháng virút khoai tây X) hoặc Sen1 (kháng với bệnh mụn cóc khoai tây,

Synchytrium endobioticum) (Moloney et al., 2010) [106].

Nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nơng nghiệp Lithuanian đã lai tạo

thành công các giống khoai tây Venta, VB Rasa, VB Liepa, Goda và VB Aista đều

là những giống năng suất, chất lượng cao, có khả năng kháng cao với loài tuyến

trùng Globodera rostochiensis, và kháng với hầu hết các loại bệnh như virút, ghẻ, lở

cổ rễ và mốc sương. Bằng phương pháp lai hữu tính, nhóm nghiên cứu của Viện

Nghiên cứu và Phát triển Khoai tây và Củ cải đường Rumani đã lai tạo thành công

giống khoai tây Cosiana có tiềm năng năng suất cao, kháng với bệnh mụn đen

(Synchitrium endobioticum), kháng trung bình với bệnh mốc sương và một số bệnh

virút khác nhau như PVY0, PLRV. Đây là giống phù hợp với nhiều mục đích khác

nhau bao gồm sử dụng ăn tươi và chế biến (Hermeziu et al…, 2016) [90].

Trong nhiều năm qua, việc lai tạo giống cây trồng hiệu quả và chính xác có

thể được tăng cường thông qua việc sử dụng kỹ thuật chỉ thị (marker) phân tử để

chọn tạo ra những giống cây trồng ưu việt (Gebhardt; Holme et al; Li et al., 2013)

[81], [91], [103].

Việc áp dụng các chỉ thị phân tử ADN trong q trình lai tạo giống khoai tây

có thể dự đoán được các gen kiểm soát sự biến đổi tự nhiên của chất lượng củ, sẽ giảm



23

số lượng các dòng vơ tính dùng để đánh giá trong các thí nghiệm đồng ruộng. Việc lập

bản đồ liên kết sử dụng gen chức năng hoạt động trong quá trình trao đổi chất

cacbohydrat làm chỉ thị đã phát hiện gen của các loại enzym invertaga và starch

phosphorylaga có liên quan đến tính trạng chất lượng củ (Barrell et al., 2013) [ 56].

Vào cuối thế kỷ 20, có 11 gen kháng bệnh mốc sương đã được phát hiện trên

loài khoai tây hoang dại Solanum demissumvà được đặt tên từ R1 đến R11. Gen

kháng bệnh mốc sương đầu tiên được lập bản đồ và giải trình tự ở khoai tây là R1

trên nhiễm sắc thể số V. Những gen khác cũng được lập bản đồ trên các vị trí khác

nhau, R2 được xác định trên nhiễm sắc thể IV. Gen R3, R6 và R7 đã được xác định

nằm trên nhiễm sắc thể số XI. Từ cơ sở dữ liệu về chỉ thị phân tử và đặc điểm di truyền

của tính kháng bệnh mốc sương khoai tây, nhiều nhà khoa học đã chọn tạo được một số

dòng khoai tây kháng bệnh mốc sương nhờ chỉ thị phân tử [67], [129].

Khoai tây chuyển gen cry3A có khả năng kháng với bọ cánh cứng Colorado

(Leptinotarsa decemlineata). Cây khoai tây biểu hiện độc tố Cry3A đã được

Monsanto công nhận là giống với tên ‘New Leaf’. Giống khoai tây này được bán ở

Mỹ từ năm 1996 đến năm 2000 và cho khả năng phòng trừ cao đối với bọ cánh

cứng Colorado. Ngoài ra, gen Cry3B cũng đã được chứng minh là có hiệu quả đối

với lồi bọ cánh cứng này. Một lớp gen có khả năng đặc biệt chống lại sâu hại thuộc

bộ Lepidoptera, chẳng hạn như sâu đục củ khoai tây (Phthorimaea operculella), là

các gen Bt thuộc lớp cry1. Nhiều gen cry như vậy, khi được biểu hiện trong cây

khoai tây, đã được chứng minh là có hiệu quả cao trong việc phòng trừ sâu đục củ

khoai tây (Arpaia et al.,2000) [55].

Để xác định QTLs của khoai tây đối với khả năng chịu hạn và khả năng phục

hồi, một bản đồ liên kết tổng hợp giàu chỉ thị SNP đã được sử dụng. Tổng cộng có

23 QTLs đã được phát hiện trong các công thức đối chứng, xử lý và phục hồi giải

thích 10,3 - 22,4% của sự khác biệt đối với mỗi một tính trạng kiểu hình. Trong số

này, có 10 QTLs nằm trên nhiễm sắc thể II; có 3 QTLs liên quan đến các tính trạng

quan trọng về tỉ lệ rễ và chồi được xác định trên các nhóm liên kết 2, 3 và 8. Những

vị trí này đã giải thích 41,1% sự biến thiên của tính trạng này và có thể là mục tiêu

để lai giống có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất lợi và năng suất

trên đồng ruộng. Các chỉ thị SNPs xuất phát từ các trình tự EST nằm trong các



24

QTLs này đã hỗ trợ việc xác định được các gen chủ đích phục vụ nghiên cứu thêm

về cây khoai tây. Đây là nghiên cứu đầu tiên về việc chọn lọc quần thể di truyền về

khả năng chịu hạn của khoai tây (Anithakumari et al., 2011) [53].

* Một số giống khoai tây đang được trồng phổ biến trên thế giới

Giống Qingshu 9 là giống khoai tây có năng suất cao được phát triển đầu tiên

tại Peru những năm 1990, được lai tạo giữa giống CIP No.387521.3 và “Aphrodite”

từ quần thể khoai tây kháng bệnh virút của Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây Quốc

tế (CIP) là giống có năng suất cao và ổn định trong nhiều điều kiện môi trường sinh

thái biến động khác nhau, kháng với virút và có khả năng chịu hạn tốt; có chất

lượng cao, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng phù hợp cho sử dụng tươi và sản xuất

khoai tây chiên, chip được trồng chủ yếu ở các vùng trồng khoai tây của Trung

Quốc; cũng như được đưa vào trồng tại một số nước khác như Kenya, Rwanda,

Ethiopia, Tajikista, Uzbekistan và Bangladesh (CGIAR, 2018) [139].

Giống Jizhangshu 8 là giống có thời gian sinh trưởng từ 100 - 110 ngày, cho

khoảng 6 củ đạt loại tốt/cây, chứa 16,4 mg vitamin C/100 g, thịt tươi, 17% tinh

bột, 2,25% protein. Do ưu điểm chịu hạn tốt và tiềm năng năng suất cao,

Jizhangshu 8 có thể đạt 30 tấn/ha trong điều kiện có mưa với lượng mưa trung

bình năm khoảng 300 - 400 mm và có thể đạt tới 75 tấn/ha trong điều kiện có

tưới (CGIAR, 2018) [139].

Giống Kufri Chipsona-1, K. Chipnosa-2, K. Chipnosa-3 và Kufri Surya chủ

yếu phục vụ ngành công nghiệp sản xuất chip của Ấn Độ. Giống Kufri Chipsona-1

là giống được phát triển đầu tiên nhằm phục vụ sản xuất khoai tây chiên. Giống

Kufri Surya được phát triển với mục đích chịu nhiệt đây là giống có củ dài phù hợp

cho việc sản xuất chip có chứa hàm lượng phenolic cao. Giống Kufri Frysona phù

hợp cho sản xuất khoai tây chiên của Ấn Độ. Kufri Frysona là giống kháng bệnh

sương mai, có thể bảo quản ở điều kiện bình thường trong vòng 8 tuần, có chất

lượng cao, cho sản phẩm chip có vị ngon, màu sắc đẹp (Singh và cs., 2010) [122].

Giống Russet Burbank là giống khoai tây được trồng phổ biến chiếm khoảng

40,9% tổng số diện tích trồng khoai tây của Hoa Kỳ là giống được chọn lọc từ

giống Burkank từ năm 1941 bởi nhà khoa học Lou Sweet; có đặc tính chín muộn,

u cầu thời gian sinh trưởng từ 140-150 ngày để cho năng suất và chất lượng tối

đa. Năng suất khá cao dao động từ 28 - 67 tấn/ha; có khả năng thích ứng tốt kháng

cao với bệnh ghẻ khoai tây nhưng nhiễm với bệnh héo Fusarium, Verticillium và



25

virút Y, Có khả năng bảo quản lâu dài phục vụ trồng trọt và chế biến được trồng chủ

yếu các bang phía Tây Bắc của Hoa Kỳ như Idaho, Washington, Oregon, Montana

và Canada.

Giống Russet Norkotah chiếm khoảng 11,9% tổng diện tích trồng khoai tây

của Hoa Kỳ, là con lai giữa bố mẹ ND9526-4 Russ × ND9687-5 Russ và được công

nhận giống năm 1987 tại Bang North Dakota. Russet Norkotah là giống chín sớm đến

chín trung bình, trồng chủ yếu phục vụ ăn tươi, năng suất trung bình. Đây là giống

khơng phù hợp cho chế biến nhưng hình dạng và loại củ rất phù hợp với thị trường ăn

tươi là giống phù hợp với nhiều vùng trồng khác nhau của Hoa Kỳ. Russet Norkotah

mẫn cảm với hầu hết các bệnh virút và sương mai, rất mẫn cảm với bệnh héo

Verticillium và nấm Alternaria solani nhưng kháng với bệnh ghẻ khoai tây.

Giống Ranger Russet chiếm 9,5% tổng diện tích trồng khoai tây của Hoa Kỳ,

là con lai giữa cặp bố mẹ Butte × A6595-3 và được công nhận giống năm 1991. So

với giống Resset Burbank, Ranger Russet có khả năng kháng cao hơn với bệnh héo

Verticillium, PVX, PVY, xoăn lá và thối khơ Fusarium.

Ngồi ra, một số giống khác như Umatilla Russet (chiếm 6,8% tổng diện tích),

Frito-Lay (chiếm 4,6% tổng diện tích) và Norland (chiếm 2,7% tổng diện tích) cũng

đang được trồng phổ biến tại Hoa Kỳ (USDA, 2018) [149].

1.4.2. Một số kết quả nghiên cứu về giống khoai tây tại Việt Nam

Tại Việt Nam, đã có nhiều ứng dụng cơng nghệ tiên tiến của thế giới trong

chọn tạo giống bằng phương pháp công nghệ sinh học như dung hợp tế bào trần và

chỉ thị phân tử. Chọn giống trong điều kiện áp lực bệnh cao để tạo được các giống

khoai tây theo mục tiêu có đặc tính nơng sinh học tốt, năng suất cao, phẩm chất tốt

phù hợp cho ăn tươi, chế biến và kháng/chống chịu với bệnh hại và điều kiện ngoại

cảnh bất lợi.

Từ năm 2002 đến nay, Bộ NN&PTNT đã đầu tư dự án sản xuất giống khoai

tây sạch bệnh. Mỗi năm dự án sản xuất khoảng 1,5 triệu củ giống gốc và cung ứng

cho sản xuất 200 tấn giống nguyên chủng và 2.000 tấn xác nhận, năng suất khoai

tây ngoài sản xuất đạt 18-20 tấn/ha (Cục Trồng trọt, 2017) [5].

Bảng 1.5. Một số giống khoai tây phổ biến tại miền Bắc Việt Nam



26

Tên giống



Nguồn gốc



Diện tích sản xuât

(ha/năm)



Mục đích sử dụng



Solara



Đức



500 - 1.000



Ăn tươi, một ít sử

dụng cho chế biến



Sinora



Hà Lan



3.000 - 5.000



Ăn tươi là chủ yếu



Giống khác

(Diamant, VT2,

KT1, 12KT3-1......)



Đức, HL, TQ



10.000 - 15.000



Chủ yếu cho ăn tươi



Atlantic



Mỹ



3.000 - 4.000



Giống được sử dụng

100% cho chế biến



(Nguồn: Cục Trồng trọt, 2013) [5].

Đề tài “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp nhằm phát triển sản

xuất cây khoai tây hàng hoá ở tỉnh Điện Biên” chọn 02 giống khoai tây mới (Sinora

và Marabel) năng suất cao và ổn định từ 20 - 23 tấn/ha, hàm lượng chất khô đạt từ

18,5-21,5%, mã củ đẹp, ruột củ màu vàng, thích hợp với ăn tươi và chế biến công

nghiệp đã được chọn tạo (Nguyễn Đạt Thoại, 2011) [146]. Tại Sapa, Lào Cai, 3 dòng

khoai tây BR: 2-71; BR: 2-46 và BR: 2-100 biểu hiện tính kháng ở mức độ khá với

bệnh mốc sương đã được chọn tạo. Tại đồng bằng sông Hồng, P3 và KT3 là 2 giống

được đánh giá cao do đặc tính kháng bệnh mốc sương (Trịnh Văn Mỵ, 2016) [25].

Giai đoạn 2005-2009, trong khuôn khổ dự án khoai tây Việt-Đức, các nhà

khoa học đã tiến hành đánh giá nguồn vật liệu của Đức và đã chọn được các giống

Solara, Marabel, Benlarosa, Afra, Esperit và đưa vào sản xuất các giống này có khả

năng kháng với mốc sương cao hơn các giống KT2, KT3 của CIP và các giống

Diamant, Sinora của Hà Lan. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ đã tiến

hành đánh giá 59 dòng/giống (có nguồn gốc từ CIP) và đã chọn được 3 dòng

393073.179, 393379.4 và 393371.159 kháng bệnh mốc sương và phù hợp với điều

kiện khí hậu ở Việt Nam. Ba dòng/giống trên cùng với các giống Atzimba, CFK69.1, B-71-240-2,07 và KT3 (là những giống đã được nghiên cứu đánh giá là kháng

bệnh mốc sương) là nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ việc lai tạo với các giống có

nhiều đặc tính nơng học tốt khác để chọn tạo ra các giống khoai tây mới, phù hợp

với từng vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam.

Giai đoạn 2010 - 2015, Trung tâm tiếp tục chọn được 3 dòng 1187(KT3×116), 4 - 35 (KT3×106) và 4 - 170 (KT3×106) sinh trưởng, phát triển tốt,

mang gen kháng bệnh mốc sương, năng suất đạt 25-35 tấn/ha và hàm lượng chất



27

khô đạt 18,5 - 20,1%. Trung tâm cũng đã chọn được 13 giống triển vọng kháng

bệnh mốc sương, trong đó có 3 giống 1-187, 4-35 và 4 - 170 đã được khảo nghiệm

tại 4 tỉnh Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Giang cho năng suất trung bình từ

29-32 tấn/ha, hàm lượng chất khô từ 18,5 đến 19,9% (Trịnh Văn Mỵ, 2016; Đinh

Xuân Tú và cs., 2017) [25], [42]. Viện Sinh học Nông nghiệp thuộc Học viện Nông

nghiệp Việt Nam đã thu thập được 7 dòng khoai tây dại nhị bội mang gen kháng

bệnh mốc sương và virút; 9 giống khoai tây tứ bội mang các gen cho năng suất cao,

phẩm chất tốt; 5 giống khoai tây có tỷ lệ tinh bột cao, hàm lượng đường khử thấp

thích hợp cho chế biến.

Giai đoạn 2012 - 2015, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ đã

chọn tạo được 10 dòng/giống kháng bệnh mốc sương bằng lây nhiễm nhân tạo và

bằng chỉ thị phân tử; chọn được 13 giống triển vọng kháng bệnh mốc sương. Tại

đồng bằng sông Hồng, giống CV9 đã được chọn lọc và khảo nghiệm trong nhiều

vụ. Kết quả cho thấy, đây là giống cho năng suất trung bình đạt 20,6 - 26,7 tấn/ha,

tỷ lệ củ thương phẩm cao trung bình đạt 80-85%, hàm lượng chất khô từ 20 - 22%,

đường khử thấp, không đổi màu sau chế biến, giống có khả năng kháng bệnh mốc

sương ở mức khá, thích hợp cho các chân đất cát pha và thịt nhẹ.

Ở Việt Nam hướng nghiên cứu chọn tạo giống khoai tây có sử dụng kỹ thuật

dung hợp tế bào trần đã được tiến hành trong những năm qua. Nhiều tác giả đã thu

thập, đánh giá một số dòng khoai tây nhị bội về đặc tính nơng, sinh học và đặc tính

kháng virút. Đây là hướng đi quan trọng để tạo vật liệu khởi đầu cho chương trình

chọn tạo giống khoai tây của Việt Nam (Đỗ Thị Thu Hà và cs., 2012; Vũ Thị Hằng

và cs., 2012; Đinh Thị Thu Lê và cs., 2012; Nguyễn Thị Phương Thảo và cs., 2011a,

b) [11], [13], [23], [39], [40].

Nghiên cứu gần đây đã xác định được các thông số và đã xây dựng được quy

trình tách, dung hợp, ni cấy và tái sinh tế bào trần của các dòng khoai tây dại nhị

bội đây là nguồn vật liệu có giá trị cho chương trình chọn tạo giống khoai tây kháng

bệnh mốc sương (Hoàng Thị Giang và cs., 2013, 2014a,b) [8], [9], [10].

Mơ hình sản xuất giống khoai tây chất lượng cao từ kỹ thuật nuôi cấy mô đã

được nghiên cứu (Trần Văn Ngọc và cs., 1995; Nguyễn Quang Thạch và cs., 1991;

Nguyễn Thị Kim Thanh và cs., 1995) [26], [31], [36].

Trồng khoai tây từ củ in vitro mặc dù cho khối lượng bình quân củ cao

nhưng số lượng củ giống tạo ra thấp hơn nhiều so với cây trồng từ cây nuôi cấy mô



28

và ngọn cắt của chúng (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2005a,b) [32], [33]. Quy trình

sản xuất giống khoai tây sạch bệnh bằng cơng nghệ khí canh đã được nghiên cứu và

phát triển cho phép nâng hệ số nhân giống cây và củ giống gốc lên một cách vượt

trội, đảm bảo củ giống sạch bệnh, giảm chi phí sản xuất và năng suất cao. Hệ số

nhân giống đạt 8-11 lần/tháng cao hơn rất nhiều so với nuôi cấy mô (4-5 lần/tháng).

Kết quả này đã cho phép đề xuất phương pháp mới phục vụ việc nhân giống cây con và

sản xuất củ giống nhỏ khoai tây kể cả trong vụ thu ở đồng bằng sông Hồng (Nguyễn

Quang Thạch và cs., 2006, 2009) [34], [35].

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ đã tiến hành đánh giá 59

dòng/giống (có nguồn gốc từ CIP) và đã chọn được 3 dòng 393073.179, 393379.4

và 393371.159 kháng bệnh mốc sương và phù hợp với điều kiện khí hậu ở Việt

Nam. Trung tâm cũng đã chọn được 13 giống triển vọng kháng bệnh mốc sương,

trong đó có 3 giống 1-187, 4-35 và 4-170 đã được khảo nghiệm tại 4 tỉnh Thái Bình,

Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Giang cho năng suất trung bình từ 29-32 tấn/ha, hàm

lượng chất khô từ 18,5 đến 19,9% (Trịnh Văn Mỵ, 2016; Đinh Xuân Tú và cs.,

2017) [25], [42].

Giống khoai tây KT1: được Trung tâm nghiên cứu và Phát triển cây có củ

thuộc Viện Cây Lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc và khảo nghiệm từ tập đoàn

27 dòng chống chịu bệnh virút nhập nội từ Trung tâm Khoai tây Quốc tế năm 2005.

Các dòng giống này đã được CIP kiểm tra sạch các bệnh virút như: TRV, TMV,

PVTV, PVX, PAMV, PVY, PVA, PVT, PVS, PLRV, CMV, APLV, APMoV, PBRV,

TRSV, ToBRV, TSV, TNV, SALCV, PYDV, ToSWW, AIMV, PYV và PYVV trước

khi gửi sang Việt Nam. Giống khoai tây KT1 được nhập nội từ Trung tâm Khoai tây

Quốc tế năm 2005 (mã số Việt Nam là 1-05 và mã số CIP 388611.22) có nguồn từ

Peru được chọn lọc từ tổ hợp lai MEX-32 x XY.9.

Giống khoai tây KT1 sinh trưởng, phát triển mạnh, thời gian sinh trưởng

khoảng 85-90 ngày, dạng cây nửa đứng, lá có màu xanh nhạt, có hoa màu trắng.

Dạng củ hình oval, mặt nơng, vỏ củ vàng, ruột củ vàng, số lượng củ/cây trung bình

từ 6-10 củ trong vụ đông vùng Đồng bằng sông Hồng tương đương với giống đối

chứng Solara. Giống khoai tây KT1 mức độ nhiễm sâu hại chính (rệp, nhện, bọ trĩ)

ở mức trung bình, nhiễm nhẹ với bệnh mốc sương, héo xạnh, chống chịu khá với

bệnh virút, chịu nhiệt khá, tiềm năng năng suất cao trong vụ đông vùng Đồng bằng

sông Hồng dao động trong khoảng từ 25-32 tấn/ha. Cao hơn so với đối chứng



29

Solara năng suất đạt từ 20-25 tấn/ha. Tỷ lệ củ thương phẩm đạt từ 75-80%, và có

khả năng thâm canh cao, thích ứng với điều kiện vụ đơng vùng Đồng bằng sông

Hồng, hàm lượng chất kho đạt cao từ 21-23%, hàm lượng tinh bột đạt từ 14-17%,

hàm lượng đường khử < 0,22%, đặc biệt không bị đổi màu sau rán, phù hợp cho ăn

tươi và chế công nghiệp. Các chỉ tiêu đều cao hơn giống đối chứng Solara.

Biện pháp canh tác kỹ thuật vói mục đich sử dụng để đạt được 2 tiêu chí

trồng khoai thương phẩm và sản xuất giống nhằm đạt được năng suất cao, chất

lượng tốt, chúng tôi khuyến cáo nên trồng giống khoai tây KT1 với mật độ 5

khóm/m2 , bón phân NPK với tỷ lệ 150N:150P2O5: 150 K2O. Trồng vụ đông trên

đất thịt pha cát và phù sa vùng Đồng bằng sông Hồng (đát trồng khoai tây để đạt

năng suất cao, chất lượng tốt, giảm thiểu sâu bệnh hại, tốt nhất ruộng trồng khoai

tây phải luân canh với lúa nước). Nhược điểm của giống khoai tây KT1: Màu sắc cỏ

củ khơng sáng bóng, vỏ mỏng nên dễ trầy xước.

Như vậy, trên thế giới hiện nay đang rất chú trọng chọn tạo ra các giống khoai

tây năng suất cao, sạch bệnh, một số giống khoai tây đã được trồng phổ biến cho năng

suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh, ở Việt Nam đã

chọn tạo ra được một số dòng, giống năng suất cao, có khả năng kháng sâu bệnh và

điều kiện ngoại cảnh là điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng diện tích khoai tây.

1.5. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật trồng khoai tây

1.5.1. Một số nghiên cứu về thời vụ trồng khoai tây

Ảnh hưởng của các thời vụ trồng trong cùng một năm lên hàm lượng chất

khô của giống khoai tây chế biến Atlantic cũng được nhiều tác giả nghiên cứu. Hàm

lượng chất khô của củ Atlantic thu hoạch ở các năm trồng khác nhau trong giai đoạn

1997-2000 tại Hàn Quốc khác biệt khá rõ rệt ở các vụ trồng khác nhau. Trong vụ

Đông, hàm lượng chất khô là 16,7, 16,8, 16,6 và 17,3 và trong vụ hè là 16,2, 16,2;

16,0 và 15,0 tương ứng với các năm trồng 1997, 1998, 1999 và 2000 (Ekelưf et al.,

2014) [72].

Đã có nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến hàm lượng chất

khơ và năng suất của củ (củ có đường kính lớn hơn 4,8 cm) và kết quả cho thấy thời

gian sinh trưởng có ảnh hưởng quyết định đến năng suất của giống Atlantic. Khoai

tây được trồng ở vụ xuân khi kéo dài thời gian sinh trưởng từ 80 ngày cho đến 100

ngày đã làm tăng năng suất rõ rệt của giống khoai tây Atlantic từ 11 tấn/ha (80



30

ngày) lên 15 tấn/ha (85 ngày) lên 24 tấn/ha (90 ngày) lên 31-33 tấn/ha (95-100

ngày). Trong khi đó, hàm lượng chất khơ cũng thay đổi rõ rệt từ 17,5%, đạt cực đại

18,7% vào lúc 90 ngày và sau đó giảm xuống 18,4% ở 100 ngày. Hàm lượng đường

khử giảm dần từ ngày 80 cho đến ngày 100 sau trồng, từ 0,25 xuống còn 0,17%.

Thời vụ trồng và ngày thu hoạch còn ảnh hưởng đến các tổn thương bên trong ruột

củ (rỗng ruột, vết đen trong củ) (Ekelöf et al., 2014) [72].

Khoai tây là cây hàng năm nhưng thời gian sinh trưởng dài do vậy phải lựa

chọn thời vụ trồng theo các điều kiện khí hậu khác nhau, theo từng vùng miền để

cây khoai tây sinh trưởng và đạt năng suất cao nhất. Nhóm tác giả của Viện Sinh

học Nông nghiệp đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật

trồng cây giống nhân từ khí canh trong sản xuất khoai tây sạch bệnh. Thời vụ trồng

tốt nhất tại Gia Lâm, Hà Nội là 15/11 và tháng 8 tại Sa Pa, Lào Cai, đạt từ 118,2175,2 củ/m2 (Nguyễn Thị Hương và cs., 2009) [22].

Vùng Trung du miền núi phía Bắc; thường trồng từ giữa đến cuối tháng 10,

thu hoạch tháng 1 năm sau. Với vùng trung du, trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch

vào cuối tháng 12. Vùng núi miền Bắc: Vùng núi thấp 1000 m: Vụ thu đông trồng

đầu tháng 10, thu hoạch tháng 1. Vụ xuân trồng tháng 2, thu hoạch tháng 5. Vùng

Bắc Trung bộ: có 1 vụ là vụ đông trồng đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1.

Vùng đồng bằng sông Hồng, thường được trồng cuối tháng 10 đầu tháng 11,

thu hoạch cuối tháng 1 đến đầu tháng 2 năm sau. Các giải pháp kỹ thuật trồng khoai

tây chế biến chip tại vùng đồng bằng sông Hồng đã được nghiên cứu đối với giống

khoai tây chế biến Atlantic nhập khẩu từ Hoa Kỳ với mục đích nâng cao các biện

pháp kỹ thuật góp phần phát triển sản xuất khoai tây phục vụ chế biến. Thời vụ

trồng từ 25/10 - 15/11 phù hợp với thời gian sinh trưởng của khoai tây cho năng

suất cao, chất lượng tốt và không ảnh hưởng đến vụ lúa tiếp theo trên đất hai vụ lúa

ở Bắc Ninh.

Vùng Bắc Trung bộ; thường được trồng đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1

năm sau (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015) [148].

Vùng đồng bằng Bắc bộ : có 3 vụ Vụ đơng xuân sớm (thường ở vùng trung

du, trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch vào tháng 12); vụ chính (ở khắp trong vùng,



31

trồng cuối tháng 10, đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1, đầu tháng 2); và vụ xuân

(thường ở đồng bằng sông Hồng, trồng tháng 12, thu hoạch đầu tháng 3).

Vùng Tây Nguyên (Lâm Đồng): Vụ mùa chính thu hoạch kéo dài trong thời gian

mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5. Vụ mùa nghịch thu hoạch trong mùa mưa từ đầu

tháng 6 đến tháng 11. Tuy nhiên, cần lưu ý khi trồng trong vụ xuân vì giống Atlantic rất

mẫn cảm với bệnh mốc sương (Nguyễn Văn Hồng và cs., 2010a,b) [18,19].

Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ đã được

cơng nhận là tiến bộ kỹ thuật, kỹ thuật này có thể đươc áp dụng với các loại giống

khoai tây trồng phổ biến, với thời vụ trồng được khuyến cáo như sau: Vụ đông được

trồng từ 20/10 đến 15/11 hàng năm, nên tập trung trồng từ đầu đến giữa tháng 11;

và vụ xuân được trồng từ 20/12 đến 05/1 năm sau (Trung tâm Khuyến nông Quốc

gia, 2013) [147].

Thời vụ là một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự thành công

trong sản xuất khoai tây. Nghiên cứu của nhiều tác giả đã kết luận, khoai tây trồng

an toàn trong thời tiết vụ đông ở miền Bắc nước ta (từ 15/10 trở đi) và có thể trồng

thêm khoai tây vụ xuân. Tuy nhiên, việc xác định thời vụ trồng khoai tây còn phụ

thuộc vào yếu tố đất đai và khí hậu từng vùng (Trương Văn Hộ, 1992) [15]. Vì vậy

để phát triển khoai tây tại Thái Nguyên cần nghiên cứu để có thời vụ trồng tốt nhất.

1.5.2. Một số nghiên cứu về mật độ trồng khoai tây

Khoảng cách trồng khoai tây tác động rất rõ đến cỡ củ, khối lượng trung bình

củ và số lượng củ/m2. Trồng với khoảng cách rộng làm tăng khối lượng củ, còn

trồng với khoảng cách hẹp làm tăng số lượng củ. Khoảng cách giữa các cây là 20

cm thì có 87,4% củ có đường kính >30 mm, trong đó củ có đường kính > 40 mm là

61,8%. Khoảng cách giữa các cây tác động đến năng suất khơng mạnh bằng khoảng

cách giữa các hàng. Thường thì số lượng củ giảm đáng kể khi được trồng với hàng

rộng (> 90 cm), vì ít có sự cạnh tranh về sinh trưởng và củ đạt kích tối đa nhanh

hơn. Tuy nhiên khi trồng với khoảng cách giữa các hàng quá rộng thì năng suất

giảm (Berga et al., 1994) [58].

Đã có hàng loạt những cơng trình nghiên cứu nhằm xác định mật độ và

khoảng cách trồng tối thích để thu được năng suất khoai tây tối đa. Mật độ khoai tây

chế biến thích hợp nhất là 60 nghìn cây/ha (70 × 23 cm/củ) kèm theo lượng phân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

giai đoạn 2014 - 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×