Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

129

- Cơ cấu kinh tế ngành cần có sự chuyển dịch tích cực, từ những ngành cơng nghiệp

hiện có mang tính truyền thống chuyển dần sang các ngành cơng nghiệp sử dụng công

nghệ cao và các dịch vụ cao cấp (như tài chính, ngân hàng, cơng nghệ thơng tin, viễn

thơng,...). Để xây dựng TP. HCM thành một đô thị lớn văn minh, hiện đại ở khu vực Đông

Nam Á, là trung tâm trên một số lĩnh vực, có cơ sở hạ tầng đô thị phát triển ngang bằng

với các thành phố lớn của các nước trong khu vực cần có mục tiêu tổng quát.

- Về kinh tế, thành phố lấy dịch vụ và công nghiệp giá trị tăng cao làm nền tảng

phát triển của mình, đi đầu trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Là một trung tâm

kinh tế lớn nhất nước, là nơi hội tụ của giới kinh doanh. Xây dựng TP. HCM thành nơi

thu hút các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước đặt trụ sở kinh doanh của mình để

tiến hành các hoạt động kinh doanh trên phạm vi cả nước và các nước trong khu vực; từng

bước trở thành trung tâm công nghiệp, trung tâm tài chính và thương mại của khu vực

Đơng Nam Á. Có cơ cấu kinh tế hiệu quả và bền vững, đáp ứng phát triển theo chiều sâu.

- Về khoa học công nghệ, xây dựng Thành phố thành một trung tâm khoa học công

nghệ lớn của cả nước và Đông Nam Á. Thành phố tập trung chủ yếu vào nghiên cứu ứng

dụng. Khi tiềm lực khoa học Thành phố đủ lớn, sẽ đi vào nghiên cứu chọn lọc một số lĩnh

vực khoa học cơ bản.

- Về giáo dục – đào tạo, y tế: Thành phố sẽ là một trung tâm lớn về giáo dục đào

tạo và y tế của cả nước và khu vực Đông Nam Á. Nâng cao chất lượng giáo dục của

Thành phố lên bằng với các nước trong khu vực. Thành phố là nơi tập trung các chi nhánh

cơ sở đào tạo có uy tín của nước ngoài ở Việt Nam.

- Phát triển ngành dịch vụ: Phát triển nhóm ngành: Tài chính, tín dụng, ngân

hàng, bảo hiểm; vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; bưu chính viễn thông và công nghệ thông

tin, truyền thông; kinh doanh tài sản, bất động sản; dịch vụ tư vấn, khoa học công nghệ;

du lịch. Phấn đấu đưa giá trị gia tăng của các nhóm ngành dịch vụ trên có tốc độ tăng

trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP trên địa bàn. Cụ thể:

Thứ nhất; tài chính – tín dụng – ngân hàng – bảo hiểm: Tập trung nghiên cứu, xây

dựng định chế tài chính, phát triển sản phẩm và thị trường tài chính. Về sản phẩm tài

chính, HĐH hệ thống thanh tốn, khuyến khích cơng dân sử dụng hệ thống tài khoản và



130

các loại thẻ điện tử trong giao dịch, giảm thiểu giao dịch bằng tiền mặt. Phát triển các sản

phẩm tài chính phát sinh của thị trường tài chính. Ngồi hệ thống ngân hàng, sẽ đẩy mạnh

phát triển hệ thống tài chính phi ngân hàng như thị trường chứng khoán, các loại quỹ đầu

tư, các tổ chức bảo hiểm. Khuyến khích mở rộng thị trường ra cả nước và bước đầu tham

gia vào thị trường vốn quốc tế như niêm yết ở thị trường chứng khốn nước ngồi, phát

triển trái phiếu ra thế giới, mở chi nhánh ngân hàng ra các nước lân cận như Campuchia,

Lào,…

Thứ hai; thương mại, dịch vụ: Tập trung các loại dịch vụ xuất khẩu. Thành phố

tiếp tục là đầu mối về xuất – nhập khẩu hàng hóa lớn. Là nơi đặt trụ sở giao dịch của các

công ty lớn trong nước và quốc tế. Thiết lập kênh phân phối bán buôn và bán lẻ hàng hóa

hiện đại. Ưu tiên đầu tư phát triển thương mại điện tử trên địa bàn. Xây dựng các trung

tâm hội chợ, triển lãm tầm cỡ khu vực. Xây dựng Trung tâm thương mại quốc tế và thành

lập Sở Giao dịch hàng hóa. Phát triển Thành phố thành một trung tâm mua sắm của cả

nước và khu vực.

Thứ ba; dịch vụ vận tải, kho bãi, hệ thống cảng: Xây dựng hệ thống kho, bãi hiện

đại, đáp ứng nhu cầu là trung tâm về vận tải đường bộ, đường thủy, đường sơng. Làm đầu

mối chính trung chuyển hàng hóa cho Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Nam Bộ.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cảng mới, đường bộ, đường sắt; di dời hệ thống cảng

biển ra khỏi nội thành. Ưu tiên kêu gọi đầu tư để xây dựng cảng biển Hiệp Phước thay

thế cảng Sài Gòn hiện hữu, gắn với phát triển các loại dịch vụ hậu cần hàng hải và xây

dựng đơ thị cảng ở phía Nam Thành phố. Khai thác tối đa Sân bay Tân Sơn Nhất và chuẩn

bị nối kết hạ tầng với Sân bay quốc tế Long Thành trong thời gian tới.

Thứ tư; dịch vụ bưu chính, viễn thơng và cơng nghệ thơng tin – truyền thông: Mở

rộng phát triển dịch vụ gia công, xử lý, quản lý dữ liệu từ xa, gắn với dịch vụ viễn thông

– tin học- truyền thông; phát triển dịch vụ đa chức năng, khai thác các dịch vụ giá trị gia

tăng trên mạng lưới viễn thông.

Thứ năm; kinh doanh tài sản – bất động sản: Phát triển mạnh dịch vụ cho thuê nhà

ở, cao ốc văn phòng cho thuê, dịch vụ giao dịch nhà, đất. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng các

khu đô thị mới; thực hiện các chính sách đất đai, xây dựng để tăng khối lượng cung về



131

nhà ở và các giải pháp về tài chính để kích thích khối cầu.

Thứ sáu; dịch vụ tư vấn, khoa học – công nghệ, nghiên cứu và triển khai: Hỗ trợ

phát triển các dịch vụ khoa học, công nghệ và tư vấn để tạo bước phát triển đột phá trong

giai đoạn cạnh tranh và hội nhập quốc tế trên một số lĩnh vực như chuyển giao công nghệ,

sở hữu trí tuệ, năng suất và chất lượng sản phẩm, kiểm toán, chiến lược kinh doanh, luật

pháp,…Hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng vào sản

xuất. Chú trọng phát triển lĩnh vực thiết kế, tạo mẫu và lĩnh vực quảng cáo; phát triển thị

trường công nghệ.

Thứ bảy; du lịch: Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu du lịch thành phố;

liên kết với các tỉnh gần Thành phố xây dựng và phát triển các khu du lịch đạt tiêu chuẩn

quốc tế. Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và hệ thống khách sạn của Thành phố, xây dựng

sản phẩm du lịch có lợi thế cạnh tranh, tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư,

đào tạo nguồn nhân lực.

- Phát triển ngành công nghiệp: Ngành công nghiệp truyền thống theo hướng tăng

tỷ trọng giá trị gia tăng, đồng thời tập trung hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang

các sản phẩm và ngành cơng nghiệp có hàm lượng khoa học cơng nghệ cao, có giá trị gia

tăng lớn, bao gồm: (i) cơ khí chế tạo; (ii) điện tử, viễn thơng tin học; (iii) cơng nghiệp hóa

chất và dược phẩm; (iv) chế biến lương thực, thực phẩm với giá trị gia tăng cao, cụ thể:

Thứ nhất; cơng nghiệp cơ khí chế tạo: Ưu tiên các ngành sản xuất và nội địa hóa

lắp ráp ô tô. Sản xuất các phương tiện vận tải như ô tô từ 4 đến 60 chỗ, ô tô tải nhẹ, ô tô

chuyên dụng, tàu thủy; các sản phẩm máy công cụ như máy cắt gọt kim loại, máy rèn dập,

máy gia công các loại, máy công cụ chuyên dùng để tái trang bị cho ngành cơ khí, theo

hướng điện tử hóa, tự động hóa; các sản phẩm cơ khí chính xác như đồng hồ đo các loại,

thiết bị dụng cụ y tế, kính mắt, cân bàn; dụng cụ, thiết bị gia dụng như quạt điện, xe đạp,

xe máy, bếp gas, tủ lạnh, điều hòa khơng khí, máy giặt, bếp điện, máy nước nóng, dụng

cụ trong hệ thống cấp nước gia đình, đồ dùng nhà bếp. Sản xuất các loại kết cấu kim loại

và thiết bị phi tiêu chuẩn như cấu kiện thép cho xây dựng; các loại máy móc phục vụ cơng

nghiệp chế biến, máy móc phục vụ nông nghiệp.

Thứ hai; điện tử - công nghệ thông tin, viễn thông: Ưu tiên sản xuất linh kiện, phụ



132

tùng, các sản phẩm điện tử gia dụng và công nghiệp, điện tử viễn thơng, máy tính, các

phần mềm xuất khẩu, các dịch vụ điện tử - tin học, dịch vụ trực tuyến và đa truyền thông,

nghiên cứu phát triển (R&D) và đào tạo nguồn nhân lực cao.

Thứ ba; cơng nghiệp hóa chất: Ưu tiên sản xuất sản phẩm phục vụ tiêu dùng (hóa

dược, thảo dược và thuốc y tế, các sản phẩm hóa chất kỹ thuật cao); các sản phẩm nhựa,

cao su (săm, lốp ô tô, xe máy, xe đạp và các sản phẩm cao su kỹ thuật cao, bao bì các loại,

vật liệu xây dựng, sản phẩm gia dụng và nhựa kỹ thuật); sản phẩm phục vụ công nghiệp

(pin, ắc quy như chì hồn ngun, bột kẽm, dioxit mangan điện giải sản xuất các loại pin

và ác quy cao cấp); sản phẩm trung gian từ hóa dầu; sản phẩm phục vụ nơng nghiệp (phân

bón vi sinh và thuốc trừ sâu vi sinh chất lượng cao).

Thứ tư; ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống: Ưu tiên phát triển các

ngành công nghiệp rượu bia nước giải khát, các ngành công nghiệp chế biến sữa, công

nghiệp chế biến thịt, chế biến thực vật, chế biến bánh kẹo, công nghiệp chế biến thủy –

hải sản, chế biến thức ăn nhanh, xay xát.

- Ngồi 4 ngành cơng nghiệp ưu tiên trên, chú trọng hỗ trợ một số ngành công

nghiệp chiếm tỷ trọng lớn như:

- Ngành công nghiệp dệt may – da dày: Tập trung vào khâu thiết kế - tạo mẫu, xây

dựng thương hiệu. Giảm tỉ lệ sản xuất gia công, tăng cường đầu tư chiều sâu để sản xuất

các sản phẩm có hàm lượng sáng tạo và giá trị gia tăng cao.

- Ngành sản xuất đồ gỗ, thủ công – mỹ nghệ: Tập trung phát triển các sản phẩm gỗ

xuất khẩu chế biến từ gỗ nhân tạo và rừng trồng, chế biến các sản phẩm gỗ tinh chế có

giá trị cao và đồ thủ công mỹ nghệ.

- Phát triển ngành nông nghiệp: Trong lĩnh vực nông nghiệp, phấn đấu đạt tốc độ

tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân 5%/năm trở lên. Đẩy mạnh ứng dụng cơng nghệ

sinh học, hình thành trung tâm cây giống, con giống cho cả khu vực. Bảo tồn rừng sinh

thái, tăng tỷ lệ che phủ cây xanh. Phát triển nông nghiệp sinh thái theo quy hoạch gắn với

dịch vụ du lịch. Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng hình thành nền nơng

nghiệp đơ thị năng suất cao, sản xuất tập trung, phát triển bền vững. Duy trì ở mức độ cần

thiết các sản phẩm nông nghiệp với quy mô hợp lý để vừa giải quyết việc làm, vừa giữ



133

quỹ đất nông nghiệp dự trữ cho việc phát triển đô thị trong tương lai; đồng thời bám sát

thực tiễn để phát hiện và hỗ trợ việc ni trồng các sản phẩm khác có hiệu quả kinh tế

cao, xuất khẩu được lâu dài như rau sạch, cây kiểng, hoa, cá kiểng,…với các nội dung cơ

bản sau đây:

Thứ nhất; CD CCKT nông nghiệp theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, sản

xuất tập trung, xây dựng các vùng sản xuất giống cây, xây dựng các vùng sản xuất giống

con, thủy sản có năng suất, chất lượng cao.

Thứ hai; chuyển dịch cơ cấu các sản phẩm nông nghiệp cần tập trung theo hướng

chuyển từ sản xuất ra sản phẩm sang sản xuất ra giống cây, giống con để hình thành trung

tâm tạo giống; khuyến khích trồng rau an tồn, phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước; phát

triển mạnh sản xuất cây cảnh – cá kiểng, cá sấu, ba ba và các loại khác phục vụ nhu cầu

xuất khẩu.

Thứ ba; gắn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp với xây dựng nơng thơn mới; phát

triển các mơ hình tổ chức sản xuất có hiệu quả (kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, kinh

tế hợp tác); tăng năng suất lao động và thu nhập lao động nông nghiệp và nông thôn ngoại

thành; nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp bình qn trên mỗi đơn vị diện tích theo

hướng chuyển dịch cơ cấu đất lúa sang các loại cây trồng, vật ni có năng suất cao hơn.

4.3 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

4.3.1. Mở rộng và hồn thiện các hình thức huy động vốn

Nhu cầu vốn cho chuyển dịch CCKT TP. Hồ Chí Minh là rất lớn, vượt xa khả năng

tự có. Như đã phân tích, trong hồn cảnh đó, rõ ràng NHTM có một vai trò hết sức to lớn,

khơng chỉ góp phần kích cầu đầu tư và tiêu dùng mà sẽ đóng vai trò cầu nối trung gian

quan trọng giữa tiết kiệm với đầu tư, giữa tiết kiệm với tiêu dùng. NHTM góp phần đắc

lực tập trung và khai thác có hiệu quả nhất nguồn lực về vốn ở trong dân.

Muốn vậy, các NHTM cần tiếp tục mở rộng hồn thiện các hình thức huy động tiết

kiệm, vừa nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa các hình thức huy động tiết kiệm hữu hiệu,

đồng thời khẩn trương mở rộng và phát huy các hình thức tiết kiệm mới, nhằm đáp ứng

yêu cầu rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong cộng động xã hội. Nguồn gốc của tiền gửi



134

tiết kiệm chủ yếu là các khoản tiền tích lũy hoặc thu nhập chưa cần sử dụng đến của nhân

dân. Số tiền đó sẽ ký thác vào các Ngân hàng để lấy lãi. Vì vậy,lãi suất huy động có ảnh

hưởng lớn đến khối lượng tiền gửi tiết kiệm. Bên cạnh đó, người gửi tiết kiệm ngày càng

quan tâm nhiều hơn đến yếu tố giá trị đồng tiền được bảo toàn trong tương lai, buộc các

NHTM muốn tăng số dư tiền gửi tiết kiệm trước hết phải xác định một mức lãi suất tiết

kiệm hợp lý, trong đó có tính đến ảnh hưởng của lạm phát và bảo toàn giá trị đồng tiền.

- Quảng bá và áp dụng rộng rãi hình thức tiết kiệm gửi một nơi lĩnh ở nhiều nơi:

Đây là hình thức tạo khả năng thanh khoản nhanh của tiền gửi tiết kiệm, tạo điều

kiện thuận lợi phục vụ nhu cầu của người gửi tiền. Người gửi tiền vừa được hưởng lãi

suất, vừa được thuận lợi trong sử dụng cho các nhu cầu chi tiêu, đảm bảo an toàn cho

người gửi, nhất là đối với những người đi công tác cũng như làm ăn ở nhiều địa bàn khác

nhau.

- Tăng cường hình thức tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi trước: Đây là hình thức tiết

kiệm truyền thống của NHTM, lãi tiền gửi tiết kiệm được các Ngân hàng tính trả vào thời

điểm khi khách hàng gửi tiền. Hình thức này tạo thuận lợi, giúp cho người gửi tiền yên

tâm tránh trượt giá, tạo sự hấp dẫn vì có một khoản lãi được nhận trước để sử dụng cho

nhu cầu mua sắm, tiêu dùng sinh hoạt.

- Tăng cường hình thức tiết kiệm dự thưởng: Hình thức này được áp dụng dưới

dạng người gửi tiền được tặng thưởng bằng hiện vật có giá trị tùy theo từng mức tiền gửi

nhất định. Hoặc được áp dụng dưới dạng có quay xổ số theo từng thời kỳ trong năm.

Người gửi tiền ngồi lãi suất được hưởng còn có dịp để thử vận may hoặc được tặng quà

lưu niệm.

- Cần mở rộng áp dụng thêm nhiều hình thức tiết kiệm linh hoạt như: Tiết kiệm

tuổi già, tiết kiệm tích lũy là những hình thức tương tự như bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm

nhân thọ của công ty bảo hiểm. Hình thức này cùng với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân

thọ sẽ đảm bảo cho người già có cuộc sống ổn định, an toàn hơn khi hết tuổi lao động.

Áp dụng hình thức gửi nhiều lần lấy gọn một lần, tiết liệm gửi góp lãi suất tính

theo từng lần gửi. Thực hiện cách này các NHTM vừa giúp khách hàng tích lũy tiền vừa

tạo sự linh hoạt khi khách hàng có thể gửi tiền một lần dài hạn song được rút ra nhiều kỳ.



135

Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế hiện nay ngày càng phát triển, xã hội ngày càng

văn minh, thu nhập và tích lũy của doanh nghiệp, dân cư ngày càng tăng cao, để huy động

được nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, các NHTM cần đa dạng hóa

các hình thức huy động khác như: Tài khoản đầu tư tự động, tiền gửi có kỳ hạn lãi suất

gia tăng theo thời gian, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn rút gốc linh hoạt, tiết kiệm học đường

. . . đồng thời tuyên truyền đến khách hàng để huy động vốn thông qua các dịch vụ tiện

ích ngân hàng dựa trên cơng nghệ tiên tiến, hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ ATM, POS,

dịch vụ Mobile Banking, dịch vụ Internet Banking, dịch vụ thanh toán nhờ thu tự động,

thu hộ Ngân ngân sách nhà nước, thanh tốn hóa đơn, trả lương qua tài khoản. . .

4.3.2. Mở rộng mạng lưới huy động vốn và nâng cao chất lượng phục vụ

- Về mạng lưới huy động vốn: Cho đến nay, các NHTM ở TP. Hồ Chí Minh đã

có một mạng lưới huy động vốn ngân hàng tốt tương đối rộng khắp thành phố. Tuy nhiên,

nhìn tổng thể thì mạng lưới huy động vốn của các NHTM ở TP. HCM chưa phù hợp,

chưa thuận tiện cho người gửi tiền: Có khu vực thì có quá nhiều phòng giao dịch, điểm

giao dịch, nhất là vùng quận 1; có khu vực thì gần như bỏ trống, nhất là những xã ở xa.

Vì vậy, cần phải có nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm các điểm giao dịch nhận tiền

gửi tiết kiệm, cần xác định được địa điểm thuận lợi để mở rộng thêm mạng lưới các điểm

giao dịch; vừa đáp ứng nhu cầu gửi tiền của nhân dân, vừa huy động được nguồn vốn tại

chỗ để đầu tư phát triển kinh doanh.

- Về nâng cao chất lượng phục vụ: Cùng với việc mở rộng mạng lưới huy động

vốn, thì việc nâng cao chất lượng phục vụ trong cơng tác huy động vốn cũng có một ý

nghĩa hết sức quan trọng. Huy động khơng có hiệu quả cao nếu mạng lưới huy động thuận

lợi nhưng chất lượng phục vụ không tốt và ngược lại. Chất lượng phục vụ mang nhiều

nội dung, đó là cải tiến quy trình cơng nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, nhất là sản phẩm mới,

tiên tiến; sản phẩm có thể giải quyết được nhiều nhu cầu, lợi ích khác nhau và quan trọng

nhất là tính thanh khoản cao. Bên cạnh đó, nội dung không kém phần quan trọng là thái

độ, phong cách làm việc của các nhân viên tại các điểm giao dịch nhận tiền gửi tiết kiệm

kết hợp với trình độ chun mơn của họ có tạo lập được niềm tin trong cơng chúng hay



136

khơng? Yếu tố lòng tin của cơng chúng đối với Ngân hàng là yếu tố có tác động lớn đến

khối lượng tiền gửi của dân chúng vào cá NHTM.

- Thực hiện tốt chính sách khách hàng: Vào các ngày sinh nhật của mỗi khách

hàng cần có một chiếc thiệp chúc mừng sinh nhật khách hàng, ngoài ra đối với những

khách hàng lớn, khách hàng truyền thống và khách hàng tiềm năng ngồi hoa, thiệp cần

có món q thật ý nghĩa để tặng khách hàng. Đối với những khách hàng là các pháp nhân,

cần thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu văn nghệ, thể thao. Qua các buổi giao lưu đó,

hai bên cần trao đổi những tâm tư, nguyện vọng, hay nói ra những khó khăn, vướng mắc

trong q trình giao dịch từ đó các bên sẽ hiểu rõ nhau hơn, qua đó các ngân hàng sẽ củng

cố, hồn thiện các chính sách của mình cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

- Về việc quảng bá, khuyếch trương hoạt động huy động vốn: Thực tế cho thấy,

việc quan tâm cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, kết hợp với các hình

thức tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi về các hoạt dộng dịch vụ Ngân hàng có tác động

rất tích cực, giúp các NHTM thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng.

Các hình thức quảng bá hoạt động huy động vốn gồm:

+ Quảng cáo, thông tin rộng rãi về các lợi ích, tiện ích cảu các hình thức tiết kiệm

để mọi người dân có thể biết và lựa chọn: tiết kiệm lãi suất trả trước, tiết kiệm lãi suất thả

nổi, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm học đường, trái phiếu vơ danh, kỳ phiếu có thể

chuyển nhượng…

+ Áp dụng rộng rãi, phổ biến và thường xuyên các hình thức q tặng có in lơgơ

giới thiệu hình ảnh NHTM, hình thức thưởng qua quay sổ xố, sổ tiết kiệm, du lịch, tham

quan…

+ Tổ chức các đợt quảng cáo cho từng kỳ phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu

để huy động lượng vốn cần thiết theo nhu cầu cụ thể của khách hàng, dự án.



137

4.3.3 Giải pháp tín dụng của các NHTM trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh góp phần

thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

4.3.3.1. Tiếp tục đổi mới nhận thức về đầu tư tín dụng

Ngân hàng đã thu được nhiều kết quả to lớn, đồng thời cũng đã có những bài học

kinh nghiệm phải trả giá, thậm chí là rất đắt. Đó cũng là q trình đổi mới tư duy hoạt

động Ngân hàng và trọng tâm là đổi mới tư duy tín dụng. Q trình đó đòi hỏi phải tiếp

tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa tư duy về đầu tư cho vay: từ bị động, lúng túng chờ dự án,

phương án, khách hàng để xem xét đầu tư cho vay. Đó là q trình thực hiện quan hệ

cung cầu về tín dụng, đầu tư cho ai? Đầu tư bao nhiêu? và đầu tư như thế nào? Điều này

được khẳng định bởi các khía cạnh sau:

- Kể từ khi chuyển đổi thành Ngân hàng hai cấp, NHTM được hình thành và thực

hiện kinh doanh tiền tệ theo cơ chế thị trường, các quan hệ kinh tế bình đẳng, xóa dần

quan niệm “xin-cho”. Vì vậy, mối quan hệ giữa NHTM với bên vay là quan hệ đối tác nó

tác động qua lại lẫn nhau trong q trình giao dịch. Mặt khác, kinh tế thị trường phát triển,

tính cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt, các NHTM cũng vậy, nên việc chủ động tìm kiếm

khách hàng, dự án, phương án để cho vay là điều tất yếu đảm bảo sự thành công của mỗi

NHTM.

- Nhờ chủ động, Ngân hàng khơng những tìm kiếm được dự án, phương án, khách

hàng mà còn chủ động tham gia vào q trình thẩm định để lựa chọn những khách hàng,

dự án có tính khả thi để đầu tư cho vay. Việc lựa chọn được khách hàng, dự án tốt quyết

định đến chất lượng tín dụng và hiệu quả trong cho vay.

- Nhờ chủ động tiếp cận khách hàng, các NHTM nắm được nhu cầu vốn của khách

hàng, của dự án (nhu cầu thị trường tín dụng) để chuẩn bị các sản phẩm tín dụng với khối

lượng phù hợp và giá cả hợp lý để đáp ứng đầu tư vốn có hiệu quả.

4.3.3.2 Cần phải cải tiến thủ tục vay vốn theo hướng tinh giản, gọn nhẹ

Một trong những nguyên nhân mà khách hàng ngại tiếp cận đến nguồn vốn tín

dụng ngân hàng đó là thủ tục vay vốn của các ngân hàng còn quá rườm rà, phức tạp, do

đó cần giảm bớt hoặc gộp một số thủ tục vay vốn còn chồng chéo, trùng lắp nhưng vẫn

đảm bảo tính pháp lý và an tồn vốn vay, qua đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách



138

hàng; có được như vậy thì khách hàng sẽ cảm thấy dễ chịu hơn khi làm thủ tục vay vốn

tại các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cần cải tiến quy

trình và thủ tục vay vốn sao cho khách hàng tiếp cận được nguồn vốn vay một cách nhanh

chóng và thuận lợi nhất. Do đó, các ngân hàng thương mại nên giảm bớt một số quy trình,

thủ tục vay vốn sau:

- Đề nghị bỏ xác nhận “Ông (Bà):....hiện đang cư trú tại quận huyện” của phường,

xã trên giấy đề nghị vay vốn. Xác nhận này làm cho khách hàng rất mất thời gian đi lại,

tăng chi phí giao dịch, nhiều khi thời gian xác nhận khá lâu làm mất cơ hội kinh doanh

cho khách hàng; việc xác nhận này thực sự khơng cần thiết vì trong hồ sơ pháp lý của

khách hàng đã có bản phơ tơ hộ khẩu hoặc sổ đăng ký tạm trú tạm vắng và chứng minh

nhân dân, vì vậy ngân hàng bắt buộc khách hàng xác nhận hiện đang cư trú tại địa phương

là thừa, không thực sự cần thiết.

- Nên bỏ liệt kê đối tượng chi phí trên giấy đề nghị vay vốn, vì tại dự án, phương

án sản xuất kinh doanh của khách hàng đã ghi đầy đủ các đối tượng chi phí để tính toán

hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh.

- Nên bỏ giấy tờ danh sách thành viên sáng lập (bộ hồ sơ cho vay công ty cổ phần,

công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh), do trong điều lệ doanh nghiệp, giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh đã ghi rõ danh sách các thành viên sáng lập của công ty.

4.3.3.3 Tăng cường đầu tư vốn trung, dài hạn, mở rộng hình thức tín dụng th mua,

đảm bảo cơ cấu đầu tư đồng bộ và hợp lý phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Về tín dụng trung, dài hạn:

Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế trong quá trình chuyển dịch

CCKT, thu hút đầu tư vào TP. HCM đó là: Hệ thống cơ sở hạ tầng của còn yếu và thiếu,

trang thiết bị, máy móc phục vụ cho sản xuất, chế biến chưa hiện đại, còn lạc hậu, thơ sơ.

Trong những năm gần đây dư nợ tín dụng trung, dài hạn có xu hướng tăng lên về

số tuyệt đối giảm nhẹ về tỷ trọng, nhưng về khối lượng tín dụng còn thấp chưa đáp ứng

được yêu cầu đòi hỏi rất cần về vốn dài hạn cho CD CCKT của TP. HCM. Hơn nữa vai

trò của tín dụng trung, dài hạn càng lớn khi mà thị trường chứng khoán nước ta (thị trường

vốn dài hạn) chưa phát triển, giao dịch dẫn đến rất chậm cho CD CCKT.



139

Để phát triển nhanh quy mơ tín dụng trung, dài hạn TP. HCM cần tăng cường các

phương thức tài trợ phù hợp như phương thức cho vay theo dự án đầu tư, phương thức

cho vay trả góp, phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, phương thức cho

vay hợp vốn, phương thức cho vay nhu cầu nhà ở, cho vay người đi lao động có thời hạn

ở nước ngồi...

Bên cạnh việc mở rộng cho vay ngắn hạn cần đặc biệt quan tâm tới việc nâng tỷ

trọng dư nợ trung, dài hạn bằng cách:

+ Tranh thủ các nguồn vốn trung, dài hạn trong và ngoài nước để tập trung cho

vay theo các chương trình, dự án và theo định hướng phát triển kinh tế của TP. HCM,

nhằm tạo nền tảng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp, hộ sản xuất, tạo điều kiện mở rộng tín dụng có hiệu quả.

+ Ưu tiên các nguồn vốn viện trợ nước ngoài, của cá tổ chức quốc tế với thời gian

trung, dài hạn cho các chương trình phát triển kinh tế của TP. HCM góp phần thúc đẩy

nhanh quá trình chuyển dịch CCKT.

- Mở rộng hình thức tín dụng thuê mua:

Tín dụng thuê mua được mở rộng sẽ giúp các doanh nghiệp giảm vay nợ Ngân

hàng để đầu tư vào tài sản cố định, giảm áp lực tài chính đối với các doanh nghiệp. Mặt

khác tín dụng thuê mua tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn được thế hệ thiết bị

công nghệ theo yêu cầu, hạn chế những tổn thất do thiếu hiểu biết mua nhầm máy móc

thiết bị vì đã được tư vấn chun mơn sâu từ bên cho th.

Hình thức này rất thích hợp với TP. HCM hiện nay vì nó khơng u cầu vốn tự có

tham gia. Tài sản thế chấp có thể nhận từ 50% trở lên so với giá trị tài sản thuê và có thời

hạn dài hơn nếu vay vốn Ngân hàng theo các phương thức khác có thể khơng thể chấp

nhận. Trường hợp khơng có tài sản thế chấp, bên thuê có thể kỹ quý một khoản tối thiểu

nào đó được thuê. Việc áp dụng phương thức tín dụng thuê mua sẽ tạo điều kiện thuận lợi

cho các doanh nghiệp và các cá nhân TP. HCM thực hiện các dự án cải tiến kỹ thuật, mua

sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, đẩy nhanh chuyển dịch CCKT theo định hướng

của TP. HCM, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang phát triển ở TP. HCM.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×