Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

1

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng gắn bó

với nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế chính

sách nhằm thúc đẩy và hỗ trợ chuyển dich cơ cấu kinh tế Việt nam nói chung và TP. Hồ

Chí Minh nói riêng, trước hết luận án nghiên cứu những vấn đề về lý luận và phương

pháp luận nghiên cứu gồm: Tổng quan các cơng trình đã nghiên cứu ở trên Thế giới và ở

Việt Nam, các cơng trình ở TP. Hồ Chí Minh có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; Quan

điểm tiếp cận, phương pháp và quy trình nghiên cứu, để phục vụ sử dụng hợp lý trong

quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Đến nay, trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu liên quan đến vốn, trong

đó có vốn tín dụng ngân hàng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp

hóa và hiện đại hóa.

 Nhà kinh tế người Anh, gốc Jamaica là A.Lewis. Năm 1950, ông đã xuất bản tác

phẩm được cho là có ảnh hưởng nhất đối với kinh tế học phát triển dưới tên gọi “Phát

triển kinh tế với cung lao động khơng giới hạn”, trong đó ơng phân tích mối quan hệ giữa

nơng nghiệp và cơng nghiệp trong q trình tăng trưởng bằng “Mơ hình 2 khu vực cổ

điển”.

 Lý thuyết về các giai đoạn phát triển của W.Rostow (1960) cũng được coi là cơng

trình nghiên cứu điển hình và sớm nhất về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Theo

Rostow, quá trình phát triển của một quốc gia được chia ra 5 giai đoạn ứng với 5 dạng cơ

cấu kinh tế ngành. Giai đoạn 1- giai đoạn kinh tế truyền thống với cơ cấu nông nghiệp là

chủ đạo. Giai đoạn 2 – Chuẩn bị cất cánh với cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp chủ đạo,

khoa học kỹ thuật bắt đầu được áp dụng vào nông nghiệp – công nghiệp, giáo dục được

mở rộng. Giai đoạn 3 – giai đoạn cất cánh với cơ cấu kinh tế là công nghiệp – nông nghiệp

– dịch vụ với cơng nghiệp chế tạo là đầu tàu và có tốc độ tăng trưởng nhanh. Giai đoạn 4

- là giai đoạn trưởng thành có cơ cấu kinh tế cơng nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp với



2

nhiều ngành công nghiệp mới phát triển, nơng nghiệp được cơ giới hóa, năng suất cao,

nhu cầu thanh toán quốc tế tăng nhanh, khoa học công nghệ được áp dụng phổ biến. Giai

đoạn 5 là giai đoạn tiêu dùng cao, trong đó cơ cấu GDP thay đổi khơng còn nhanh, cơ cấu

lao động thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân cư đô thị, lao động có tay nghề chun mơn

cao, thu nhập tăng nhanh, dân cư giàu có dẫn đến sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa

và dịch vụ cao cấp, các chính sách kinh tế hướng vào phúc lợi xã hội. [35]

 Nghiên cứu của Peneder (2001) nhằm tìm các bằng chứng thực nghiệm về mối

quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng cho các nước hợp tác phát triển

(OECD) thời kỳ 1990 - 1998 theo 2 cấp độ (1) Lượng hóa đóng góp trực tiếp của chuyển

dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế bằng phương pháp hạch tốn tăng trưởng và (2)

Mơ hình hóa ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng. Kết quả phương

pháp thứ nhất cho thấy, yếu tố chuyển dịch cơ cấu có đóng góp quan trọng khơng lớn vào

tăng trưởng năng suất do thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành tạo ra cả tác động tích cực

và tiêu cực tới tăng trưởng; thứ hai, tác động tích cực và tiêu cực loại trừ nhau nên tác

động tổng hợp của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng là nhỏ; thứ ba, có một số

ngành nhất định có tốc độ tăng trưởng năng suất cao hơn những ngành khác, khi đó

chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới những ngành đó sẽ có thể thúc đẩy tăng trưởng. Kết

quả lượng hóa mơ hình kinh tế lượng dạng bảng động trong thời gian từ 1990 - 1998 cho

28 nước OECD với biến giải thích là GDP bình qn đầu người và sai phân bậc 1 của

GDP bình quân đầu người, các biến giải thích là cơ cấu dân số, tỷ lệ lao động làm việc,

vốn đầu tư, số năm đi học trung bình, tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP và tỷ lệ giữa tỷ

trọng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của các ngành thâm dụng công nghệ và kỹ năng

cao cho thấy những kết luận là (1) Mặc dù tỷ trọng ngành dịch vụ có tương quan dương

với mức thu nhập, biến trễ của nó có tương quan âm với GDP bình qn đầu người; (2)

Ở ngành cơng nghiệp chế tạo, biến trễ và sai phân bậc 1 của tỷ lệ giữa tỷ trọng kim ngạch

xuất khẩu và nhập khẩu của các ngành thâm dụng công nghệ và kỹ năng cao có tương

quan dương với GDP bình qn đầu người và tăng trưởng GDP/người. Do vậy, kết luận

quan trọng của nghiên cứu là chuyển dịch cơ cấu ngành có đóng góp đáng kể vào tăng

trưởng kinh tế và bằng chứng này ủng hộ quan điểm về lý thuyết các giai đoạn phát triển



3

của Rostow.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu Việt Nam

Một là, Lê Bá Tâm (2016), Luận án tiến sĩ với đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Nghệ An. Tác giả chuyển dịch cơ cấu

kinh tế (CCKT) nông nghiệp là quá trình làm thay đổi (tăng hoặc giảm) về tỷ lệ giữa các

chuyên ngành, tiểu ngành thuộc ngành hay lĩnh vực nơng nghiệp theo một chủ đích nhất

định ở tỉnh Nghệ An. Trong nền kinh tế thị trường, sự thay đổi về tỷ lệ về quy mô sản

xuất, giá trị sản lượng giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của nông nghiệp theo một chiều

hướng đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường và đạt hiệu quả kinh tế tối đa. Kết quả chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (CCKTNN) thể hiện ở mức độ thích nghi của bản thân

ngành nông nghiệp với thị trường, ở sức cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường

trong nước và quốc tế; thể hiện ở sự tăng trưởng và đóng góp của nó trong nền kinh tế và

thể hiện ở tính bền vững của ngành kinh tế này trong dài hạn ở tỉnh Nghệ An [24].

Hai là, Lê Thị Huyền (2016) luận văn về: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong

nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên

Tác giả đã nêu lên quá trình thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

trong nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên một cách hiệu quả, cần phải có những giải pháp

đồng bộ, thiết thực và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh quá trình

chuyển dịch này vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển

kinh tế - xã hội của địa phương. Để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

trong nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên một cách hiệu quả, cần phải có những giải pháp

đồng bộ, thiết thực và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh.

Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nơng nghiệp nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nơng nghiệp nói

riêng. Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nông

nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên. Qua đó Tác giả đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra hạn

chế và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế. Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm

thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong

những năm tới [9].



4

Ba là, Nguyễn Tiền Phong (2010), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với

các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoài Quốc Doanh Việt Nam. Tác

giả đã hệ thống hóa vấn đề lý luận về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với các

doanh nghiệp vừa nhỏ; phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng đối với doanh

nghiệp vừa và nhỏ qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với

các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoài Quốc Doanh Việt Nam [19].

Bốn là, Hoàng Hương Giang (2010), Quan hệ tăng trưởng giữa hai khu vực nông

nghiệp và công nghiệp chế biến Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế. Tác giả đã khái quát

lý thuyết tăng trưởng và phân tích được quan hệ tăng trưởng giữa hai khu vực, đưa ra mơ

hình nêu ra những tiềm năng chủ yếu ảnh hưởng đến CD CCKT Việt Nam, trên cơ sở đó

đưa ra quan điểm và phương hướng CD CCKT ngành nông nghiệp của cả nước [4].

Năm là, Nguyễn Thị Lan Hương, Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành của

nền kinh tế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, năm 2011. Luận

án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về CDCCNKT và tăng trưởng kinh tế. Từ đó khẳng định

giữa cơ cấu ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng CDCCNKT và tăng trưởng kinh tế của Việt nam, luận

án đã sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để lượng hóa tác động của chuyển dịch

cơ cấu kinh tế thơng qua biến số tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP. Ngồi ra, mơ

hình kinh tế lượng sử dụng thêm hai biến số là Vốn đầu tư và tỷ lệ tăng của dân số trong

độ tuổi lao động. Luận án đã đưa ra các giải pháp CD CCKT nhằm thúc đẩy tác động tích

cực của CD CCKT đến tăng trưởng của nền kinh tế. Mặc dù việc sử dụng phương pháp

kinh tế lượng để nghiên cứu sự tác động là hợp lý, song việc lựa chọn biến số của mơ

hình đã đưa ra gợi ý cần có nghiên cứu tiếp tục nhằm hoàn thiện hơn phương pháp định

lượng trong đánh giá tác động của cơ cấu kinh tế đến tăng trưởng kinh tế [5].

Sáu là, Nguyễn Việt Hùng (2008), Luận án tiến sĩ với đề tài: Phân tích các nhân

tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam. Tác giả đã nêu lên được

lý luận cơ bản về đo lường hiệu quả hoạt động của NHTM và đưa ra được mơ hình phân

tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM, tác giả đã làm sáng tỏ

thực trạng hoạt động của NHTM, làm rõ được các nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hiệu



5

quả hoạt động của NHTM trong thời gian qua trên cơ sở đó đã đề xuất một số giải pháp

nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống

NHTM trong thời gian tới. Mặc dù phạm vi nghiên cứu của tác giả là 32 NHTM ở Việt

Nam Tuy nhiên khi phân tích tác giả chưa nói lên được những thuận lợi và khó dẫn đến

hiệu quả hoạt động khác nhau hay nói cách khác là có sự chênh lệch rõ rệt về kết quả kinh

doanh của hai loại hình ngân hàng so sánh ở đây, tác giả cũng chưa đề cao được năng lực

cạnh tranh của các NHTM [7].

1.1.3 Tình hình nghiên cứu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Một là, TS. Đinh Sơn Hùng (2013), Chủ nhiệm - cấp ngành của Viện Nghiên cứu

phát triển, Tái cấu trúc cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2020. Đề

tài đã xây dựng khung lý thuyết về tái cấu trúc nền kinh tế: định nghĩa tái cấu trúc nền

kinh tế; tính tất yếu tái cấu trúc nền kinh tế; mục đích tái cấu trúc nền kinh tế; nội dung

tái cấu trúc nền kinh tế, xây dựng hệ thống tiêu chí và các chỉ tiêu có cơ sở khoa học để

tái cấu trúc cơ cấu kinh tế TP. HCM theo hướng hợp lý, sử dụng hệ thống tiêu chí và các

chỉ tiêu đã được xây dựng để phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế TP. HCM thời gian qua

để có cơ sở định hướng phát triển kinh tế theo cơ cấu mới, định hướng phát triển kinh tế

phù hợp đối với TP. HCM và những giải pháp nhằm phát triển kinh tế trên địa bàn thành

phố giai đoạn 2012-2020. Thời gian phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế trên địa bàn TP.

HCM là giai đoạn 2000-2011 và dự báo giai đoạn 2011-2020. Tái cấu trúc nền kinh tế có

phạm vi khá rộng nhưng do hạn chế về thời gian, kinh phí và lực lượng nghiên cứu nên

đề tài chỉ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế trên địa bàn TP. HCM

chia theo khu vực kinh tế, ngành kinh tế; không nghiên cứu tái cấu trúc doanh nghiệp [6].

Hai là, Mai Văn Tân (2014), Nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu

và tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích các nhân tố tác động Nghiên

cứu mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hồ Chí

Minh và làm rõ bằng mơ hình tăng trưởng là tập trung các nguồn lực đẩy mạnh chuyển

dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhanh các ngành, sản phẩm cơng nghiệp, dịch vụ có hàm

lượng khoa học công nghệ cao, giá trị gia tăng cao; Phát triển nông nghiệp công nghệ cao,

nông nghiệp sinh thái; Đi đầu cả nước trong chuyển đổi mơ hình tăng trưởng kinh tế từ



6

phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng, hiệu quả

cao, bền vững [22].

Ba là, Th.S Cao Minh Nghĩa (2016) cấp ngành, Những giải pháp đẩy mạnh liên

kết ngành kinh tế giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Vùng Kinh tế trọng điểm

phía Nam, của Viện Nghiên cứu phát triển, đề tài đã thực hiện các chương trình liên kết

ngành kinh tế giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Vùng Kinh tế trọng điểm phía

Nam đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng bình quân GRDP giai đoạn 2011-2015 của cả Vùng

cao hơn so với cả nước 1,37 lần. Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong

Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam chưa xác định được cơ chế, giải pháp phù hợp chung

với sự ràng buộc trách nhiệm rõ ràng trong phân công nhiệm vụ giữa Thành phố với các

tỉnh trong Vùng để phối hợp giải quyết những lĩnh vực chủ yếu trong liên kết phát triển

kinh tế Vùng. Mặt khác, việc chưa hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu chung của Vùng

Kinh tế trọng điểm phía Nam đã dẫn đến việc các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh

nghiệp tiếp cận thông tin chung của Vùng và từng địa phương trong Vùng còn hạn chế,

chưa kịp thời. Ngồi ra, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo, Tổ Công tác liên ngành và

Tổ Chuyên viên giúp việc điều phối phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam thời

gian qua chưa cao; sự phối hợp giữa các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương Vùng

Kinh tế trọng điểm phía Nam còn rời rạc [15].

Bốn là, Trần Thị Mỹ Ngân (2014) Đề luận văn văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ngành theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Củ Chi, TP. HCM giai đoạn

2013 – 2020. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để tìm ra các mối quan

hệ và các vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH.

Ngồi ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê như thu thập và xử lý thông tin

dưới dạng thứ cấp, mơ tả, so sánh để có cái nhìn tổng quát, phân tích các số liệu để đánh

giá thực trạng và kết quả đạt được của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo

hướng CNH, HĐH của huyện Củ Chi. Mặt khác Tác giả phân tích thành phố Hồ Chí Minh

thực hiện chuyển dịch và xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm khai thác tốt nhất nguồn

lực hiện có và tiềm năng của từng địa phương, từng khu vực trên địa bàn thành phố, ngành

phát huy lợi thế so sánh của từng ngành và giữa các ngành tạo ra sức sản xuất hàng hóa



7

với khối lượng lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu góp phần

nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Khi nguồn lực di chuyển đến một ngành sẽ

tác động đến đầu ra của ngành (như sản lượng, năng suất lao động) dẫn đến sự thay đổi

tỷ trọng của ngành so với trước và tất yếu tác động tới tăng trưởng năng suất của tổng thể

nền kinh tế. Quá trình di chuyển nguồn lực đó cũng làm thay đổi cơ cấu của chính bản

thân nó như vốn, lao động giữa các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu

của chính nguồn lực đó. Đối với nền kinh tế quốc dân, chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa

là sự vận động và biến đổi của các ngành khu vực I, II, III, theo chiều hướng là tăng tỷ lệ

các ngành khu vực II, III, giảm tỷ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng sản phẩm

quốc nội (GDP) [16].

Năm là, ThS. Cao Ngọc Thành (2016) cấp ngành, Đánh giá tác động của đầu tư

đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. HCM giai đoạn 2000-2010. Tác giả đã phân tích tổng

hợp tác động bên ngồi của kinh tế thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ tiêu để đo lường

mức độ lạm phát của nền kinh tế có nhiều biến động lớn và có lúc nằm ngồi dự định của

Chính phủ. Trong năm 2009, mặc dù đã triển khai hàng loạt biện pháp như thắt chặt chính

sách tài khóa, thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, cắt giảm đầu tư công nhưng mức

lạm phát của Việt Nam vẫn ở mức cao của thế giới. Trong bối cảnh đó, Chính quyền

thành phố cũng đã nghiêm túc triển khai các biện pháp được đề ra trong Nghị quyết 11

của Chính phủ và đã có một số kết quả bước đầu. Tuy nhiên, hầu hết các chính sách này

đều sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là

biện pháp cắt giảm đầu tư cơng và thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ. Trong q trình

đó, xuất hiện hai luồng ý kiến: một là tiếp tục cắt giảm đầu tư và đầu tư công với những

quyết tâm lớn nhất, và hai là thận trọng trong việc cắt giảm đầu tư nhằm duy trì mức độ

tăng trưởng kinh tế và đảm bảo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mục tiêu nghiên

cứu của đề tài bao gồm. a)Đánh giá hiện trạng tác động của vốn đầu tư đến cơ cấu kinh

tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế; trong đó, làm rõ mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát

triển với cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. b)đề xuất giải pháp và kiến nghị

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đến năm 2020, và xây dựng định hướng chiến lược đầu

tư trong giai đoạn 2015-2020 nhằm thúc đẩy tăng trưởng và CD CCKT [28].



8

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU MÀ CÁC CƠNG

TRÌNH CHƯA GIẢI QUYẾT ĐƯỢC.

1.2.1 Các nghiên cứu chưa chỉ ra được.

Các cơng trình khác chưa nêu lên tác động tín dụng Ngân hàng trong mối tương

quan với hoạt động CD CCKT để thúc đẩy phát triển kinh tế TP. HCM;

+ Cơ cấu lãnh thổ là biểu hiện vật chất cụ thể của phân công lao động theo lãnh

thổ, không gian thích hợp các giao điểm của các q trình, các sự kiện diễn ra trong nó.

Như vậy, CCKT lãnh thổ được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo khơng gian

địa lý. Vì thế trình độ hình thành, phát triển và hồn thiện cơ cấu lãnh thổ hồn tồn phụ

thuộc vào trình độ CNH, HĐH mà động lực chính của nó là cuộc cách mạng khoa học

cơng nghệ. Bên cạnh đó các cơng trình khác chưa nếu lên cơ sở hình thành cơ cấu ngành

và cơ cấu lãnh thổ thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ

cấu thành phần là tổng thể các hình thức kinh tế, các khu vực kinh tế tồn tại trong mối

quan hệ tương tác với nhau, vận động phát triển phù hợp với các hình thức sở hữu tư liệu

sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý và

quan hệ phân phối) tương ứng với nó là một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa

trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển

của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội… Theo nghĩa đó, cơ cấu

thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh

thổ. Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong

nền kinh tế.

1.2.2 Một số nghiên cứu nêu ở góc độ tổng quan, chưa phản ánh cụ thể các tác động

của tín dụng Ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. HCM.

Chưa chỉ ra vướng mắc của hoạt động tín dụng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế TP. HCM, từ khi thiết lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch, triển khai đầu tư, cũng

như đánh giá kết quả thực hiện,… Để cấp tín dụng các NHTM còn có thể đi vay ở các

định chế tài chính khác trong nước và các TCTD khác. Đây là nguồn vốn được hình thành

bởi các mối quan hệ giữa NHTM với các TCTD khác hoặc giữa NHTM với NHNN.

Chưa nêu rõ các nguồn vốn đi vay các TCTD khác, các NHTM phải dựa trên việc



9

ký kết thời hạn cho vay và đi vay. Và thực chất đây là việc trao đổi tín dụng giữa các

NHTM với nhau. Các hoạt động vay vốn giữa các TCTD nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của

các TCTD, đối với các khoản vay bằng ngoại tệ, các TCTD cho vay và đi vay trên cơ sở

phạm vi hoạt động ngoại hối được Ngân hàng nhà nước cho phép.

Ngoài ra các NHTM còn có thể tận dụng nguồn vốn nước ngoài để làm nguồn vốn

cho vay trong nước và nguồn vốn này được hình thành từ các nguồn sau:

Một là, nguồn vốn được hình thành từ các nghiệp vụ đối ngoại như tín dụng và

thanh tốn quốc tế, quản lý ngoại hối ... Thông qua các nghiệp vụ này các NHTM tập

trung được một khối lượng vốn ngoại tệ từ nước ngoài để làm nguồn vốn phục vụ cho

việc phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKT.

Hai là, nguồn vốn vay từ các định chế tài chính nước ngồi. Với xu hướng quốc

tế hóa và tồn cầu hóa nền kinh tế thế giới và sự phát triển như vũ bão của khoa học công

nghệ, các NHTM Việt Nam mở rộng các qua việc mở văn phòng đại diện, chi nhánh, đặt

các đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với nhiều ngân hàng trên thế giới. Từ đó, các

NHTM Việt Nam có thể vay vốn của ngân hàng các nước để cho vay lại trong nước. Các

khoản vay này có thể vay trực tiếp hoặc qua sự bảo lãnh của NHNN.

Ba là, nguồn vốn hình thành từ tài trợ của các tổ chức quốc tế. Các tổ chức quốc

tế, các định chế tài chính quốc tế sẽ tài trợ các chương trình lớn thơng qua việc ký Hiệp

định tài trợ với các NHTM để các ngân hàng cho đơn vị đầu tư vay lại như: Dự án Tài

chính nơng thôn I, II, III của WB tài trợ; Dự án phát triển ngành nơng nghiệp của ADB;

Chương trình tín dụng Việt Đức (DEG) . . .

1.2.3 Chưa nêu rõ được sự cần thiết của vai trò tín dụng trong việc triển khai đồng

bộ vấn đề này để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. HCM.

Chưa có cơng trình nào liên quan đến việc mở rộng tín dụng đối với việc chuyển

dịch cơ cấu kinh tế liên quan đến đề tài của Thế giới và Việt Nam cũng như đối với TP.

HCM đến thời điểm hiện nay, chưa thấy một nghiên cứu nào nghiên cứu về tín dụng ngân

hàng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát kết quả nghiên

cứu trên. Vì vậy, đề tài này sẽ có những điểm khác biệt so với những nghiên cứu trước



10

đây về cách thức đánh giá gắn liền với địa điểm nghiên cứu và các quy trình, mơ hình

chuẩn mực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chi Minh.

- UBND thành phố Hồ Chi Minh chỉ đạo các cấp, các ngành có liên quan đẩy nhanh

tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở để tạo điều kiện

cho vay vốn ngân hàng phát triển sản xuất kinh doanh.

- UBND thành phố Hồ Chi Minh chỉ đạo các sở ngành đẩy nhanh tiến độ cấp giấy

chứng nhận kinh tế doanh để chủ hộ kinh doanh, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vay vốn

ngân hàng ngày càng nhiều hơn.

Tăng cường xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ trong nước và xuất

khẩu, tạo thị trường đầu ra ổn định.

- UBND thành phố Hồ Chi Minh và các sở ngành có liên quan có kế hoạch định kỳ

đối thoại với các doanh nghiệp nhằm phổ biến với doanh nghiệp về kế hoạch phát triển

kinh tế xã hội; động viên và khích lệ doanh nghiệp, doanh nhân đồng thời trực tiếp nghe

các doanh nghiệp trình bày những khó khăn vướng mắc gặp phải trong đầu tư kinh doanh

để giải quyết tháo gỡ khó khăn hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Qua

đây các NHTM nắm bắt được tình hình nhu cầu vốn để cho các doanh nghiệp vay vốn

đầu tư, SXKD thuận lợi và hiệu quả hơn.

Triển khai đồng bộ vấn đề tổng thể các loại trình độ kỹ thuật và công nghệ tồn tại

trong mối quan hệ tương tác giữa cơng cụ thủ cơng, nửa cơ khí, tự động hóa…trong qua

trình CD CCKT tương ứng với các nguồn lực, trong đó quan trong nhất là vốn và sức lao

động.

Triển khai đồng bộ cấu trúc được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa các

khâu của quá trình sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng.

Như vậy, cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ, và mối quan

hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp

những mối liên hệ liên kết, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Nền kinh tế

quốc dân là một hệ thống phức tạp, tinh tế và năng động, do vậy CCKT của nó cũng mang

tính đa cơ cấu. Với đặc tính đa cơ cấu, việc trình bày một số cơ cấu chủ yếu nói trên xét



11

về mặt nội dung khơng phải là tất cả, mà chỉ là những cơ cấu chủ yếu trong hệ thống

CCKT quốc dân.

1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

1.3.1 Nghiên cứu hệ thống lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. HCM, trên

nền tảng khoa học có liên quan.

Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hiện nay ở nước ta và thế giới có

nhiều cách tiếp cận như sau:

Thứ nhất, “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có

quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” .

Thứ hai, “Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp được hình thành trên các tương quan tỷ

lệ, biểu hiện mối quan hệ tổng hợp giữa các ngành với nhau và phản ánh trình độ phân

cơng lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”.

Thứ ba, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng phát triển bền vững là sự

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải bảo đảm có được sự tăng trưởng kinh tế dương,

hiệu quả, ổn định và đạt ở mức cao; bảo đảm sự vững chắc cần thiết của hệ thống kinh tế,

tránh và giảm thiểu rủi ro, có khả năng cạnh tranh; tránh được sự trì trệ, suy thoái và đổ

vỡ kết cấu của nền kinh tế, ít bị tổn thương từ những thay đổi ở bên ngồi; ít hoặc khơng

gây phương hại cho mơi trường tự nhiên; bảo đảm xã hội phát triển tiến bộ, giữ gìn an

ninh, trật tự an tồn xã hội; tham gia q trình hội nhập quốc tế chủ động và có hiệu quả”.

Trong từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, thuật ngữ: (chuyển dịch cơ cấu kinh

tế - Transmitation de structure esconomique) là quá trình thay đổi các quan hệ tỷ lệ về

lượng và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế dưới sự tác

động và điều tiết chủ động của nhà nước. Nhà nước với chức năng quản lý kinh tế vĩ mô,

xác định phương hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo các điều kiện, thực

hiện các biện pháp thích hợp để thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,

phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có sự khác biệt

và có sự giống nhau. Sự giống nhau thể hiện thống nhất về tương quan tỷ lệ, có mối quan

hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế, chuyển dịch nhằm tăng trưởng và bản chất của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×