Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tiểu kết chương 3

Tiểu kết chương 3

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 4

NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN

THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986

Trong phương thức tự sự, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật không

những đóng vai trò then chốt, mà còn thể hiện phong cách, cái nhìn, cá tính

của tác giả. Ngơn ngữ và giọng điệu trần thuật mang tính chính xác, cá thể

hóa. Mỗi câu, mỗi chữ trong tác phẩm có thể chứa đựng nhiều tầng nghĩa,

nhiều cách giải thích. Ngơn ngữ và giọng điệu trần thuật còn là ngơn ngữ và

giọng điệu đa thanh vì đặc trưng của ngơn ngữ và giọng điệu văn xuôi là sự

tác động qua lại rất phức tạp giữa tiếng nói tác giả, người kể chuyện và nhân

vật, giữa ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả.

4.1. Ngôn ngữ trần thuật

Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Ngôn ngữ là công cụ,

là chất liệu cơ bản của văn học, (...), là một trong những yếu tố quan trọng thể

hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” [94; tr.215]. Tuy

nhiên, đó là ngơn ngữ nghệ thuật nói chung. Nói đến ngơn ngữ trần thuật là

nói đến lời cụ thể của người giữ vai trò kể chuyện gồm người kể hay nhân vật

gắn liền với điểm nhìn cụ thể. Vì thế ngơn ngữ trần thuật thường là ngơn ngữ

tổng hợp của kể, tả, bình luận, tự sự và trữ tình. Mỗi phát ngơn của một chủ

thể trần thuật đều mang những đặc điểm chung của cộng đồng và những nét

riêng của cá nhân họ.

Do đổi mới tư duy nghệ thuật và những cách tân về thi pháp cho nên

ngôn ngữ trần thuật trong sáng tác văn xi nói chung, truyện ngắn khuynh

hướng thế sự - đời tư nói riêng còn mang màu sắc hiện đại rất rõ nét. Ngơn

ngữ trần thuật khơng còn là tiếng nói quyền uy của chủ thể trần thuật, là

những lời phán truyền chân lí khô khan, giáo điều mà đã trở nên gần gũi với

đời sống hơn bao giờ hết. Điều đáng ghi nhận ở chỗ các nhà văn đã bắt đầu

đưa vào trong sáng tác của mình những từ ngữ mang tính chất đặc trưng vùng

126



miền với ý nghĩa làm phong phú thêm kho tàng từ ngữ tiếng Việt đồng thời

góp phần truyền tải những giá trị văn hóa ẩn sâu dưới lớp ngôn từ, làm cho

nội dung trần thuật thêm phong phú và nhiều màu sắc. Có thể thấy một trong

những đổi mới của văn xuôi Việt Nam đương đại là cách tân ngôn ngữ với sự

xuất hiện một loạt các cây bút với nhiều phong cách mới và đa dạng như:

Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Đỗ

Bích Thúy, Lê Minh Khuê, Y Ban...

Cùng với sự biến đổi của thể loại và khả năng phản ánh hiện thực,

truyện ngắn thế sự - đời tư sau 1986 đã có những biến đổi lớn về mặt ngơn

ngữ. Nếu như ngơn ngữ nhân vật được gia tăng tính khẩu ngữ thì ngơn ngữ

người kể chuyện cũng vận động theo hướng ngày càng tiến gần hơn về phía

đời sống. Người kể chuyện trong văn học giai đoạn này ít dùng mỹ từ mang

cảm hứng sử thi, những từ ngữ trang trọng, mực thước mà dung nạp cả khẩu

ngữ, lời ăn tiếng nói bình dân vào lời kể. Một trật tự ngang bằng, bình đẳng

giữa người kể và người nghe vì thế nhanh chóng được thiết lập.

4.1.1. Sự gia tăng lớp ngôn ngữ thông tục của đời sống

Từ sau 1975 đến nay, cảm hứng thế sự - đời tư trở thành một trong

những cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của các nhà văn. Cuộc sống tồn tại

trong tác phẩm giống như nó vốn có ngồi đời: khơng chỉ có ánh sáng mà còn

cả bóng tối, khơng chỉ có niềm vui mà còn cả nước mắt, đó là nơi giao tranh

giữa thiên thần và ác quỷ, rồng phượng và rắn rết. Khơng còn cái nhìn thần

thánh hóa con người trong lời văn của giai đoạn trước, truyện ngắn từ sau

1986 đặc biệt chú ý đến phương diện cá nhân trong cái tôi của con người.

Ngôn ngữ thông tục của đời sống xuất hiện trong truyện ngắn như một tất

yếu. Những nhà văn có cơng đầu trong việc đưa lớp ngơn ngữ đời sống vào

văn chương giai đoạn mới này phải kể đến: Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,

Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,...

Thường gặp nhất trong kĩ thuật dụng ngôn của các nhà văn viết truyện

127



theo khuynh hướng thế sự - đời tư là cách thức hồn cảnh hóa ngơn ngữ văn

học. Những sinh ngữ được các tác giả truyện ngắn khai thác theo một hướng

mới không tuân theo chuẩn từ điển mà gắn chặt với hoàn cảnh phái sinh ra

chúng. Ngôn ngữ được xem là yếu tố thứ nhất của văn học, là công cụ giao

tiếp của con người, là phương tiện gắn kết con người lại với nhau nhưng trong

một xã hội của thời đại kĩ trị lên ngôi, sự phát triển vượt bậc của mạng thông

tin số hóa, con người bị lệ thuộc vào máy móc và dần dần ngại giao tiếp, tất

cả những thông tin cần trao đổi giữa con người với con người chủ yếu được

thực hiện bằng một vài thao tác trên mạng máy tính. Điều này dẫn đến sự hủy

hoại đời sống tinh thần của con người. Các tác giả đã cho thấy sự hiện diện

của ngôn ngữ mạng đã phần nào thủ tiêu vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt

và cũng thiêu trụi bản chất của sự thật sau những con chữ vơ âm sắc, vơ tình

điệu: “Dạ chúc mọi người bình an, chị Ngân thi thoảng mail về cho em nhé,

em hay chat chit trên mạng lắm. Em cũng toàn chat với các anh Tây luyện nói

và viết tiếng Anh. Bye bác, bai bai chị. Si ziu sun...” (Đất và mướp - Chu Việt

Nga); “Một tuần, trên các trang báo mạng rầm rộ đưa tin với những cái tít giật

gân. Nghi án nữ diễn viên Hiểu Nhi lộ clip sex với bạn trai đại gia khiến Hiểu

Nhi bỗng chốc vụt sáng nhờ clip nóng này (...). Những ngày sau đó, Hiểu Nhi

lên mạng úp mở kêu than khổ. Trang facebook cá nhân của nàng có lượt like

và follow tăng vùn vụt. “Ném đá” có. Cảm thương có” (Kịch trường - Phan

Đức Lộc); “Em biết tình yêu của mình là tiệt dộng, nhưng không kiềm chế

được cảm xút” (Cảm giác trên dây - Nguyễn Ngọc Tư)...

Trong sáng tác của các nhà văn viết truyện theo khuynh hướng thế sự đời tư thể hiện một tham vọng lớn, họ muốn tạo ra một trật tự ngơn ngữ mới,

trong đó tất cả mọi trò chơi ngơn ngữ đều có quyền hiện diện. Điều này thể

hiện rõ nhất ở hệ thống các từ, cụm từ thời hiện đại được nhà văn khai thác và

đưa vào tác phẩm: “thềm lục địa”, “sọt thủng”, “dụng cụ bảo vệ”, “tất, tất

ngoại”, “áo mưa”, “bò lạc”; “vơ tư hồn nhiên, gọi tắt là vô hồn”, “đào mỏ”,

128



“cá rô đực”, “đu đủ đực”, “công dân loại hai”, “bái bai an ti”, “cá sấu”, “bóc

bánh trả tiền”, “chán cơm thèm đất”, “vãi linh hồn”, “đại gia và chân dài”,

“vô tư duyên dáng gọi tắt là vô duyên”, “nứng”, “mùi giàu”, “mùi già”, “nghề

bn hoa quả trên bàn thờ”, “xả pít tơng”, “chim to khơng lo chết đói”, “đánh

bắt xa bờ”, “đi tươi mát”... Cách sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn này mang đầy

đủ tính chất của một xã hội thơ nhám, bề bộn. Hệ thống ngơn ngữ chuẩn mực

khơng còn phát huy tác dụng tuyệt đối mà xen lẫn vào đó là ngơn ngữ thơng

tục, suồng sã, những biệt ngữ của thời kinh tế thị trường… Điều này góp phần

hé lộ sự bất đồng, đứt gãy, thậm chí khủng hoảng của ngôn ngữ chuẩn mực

truyền thống trước thực tại.

Biểu hiện rõ nét của ngôn ngữ thông tục đời sống là việc sử dụng

thường xuyên những đại từ xưng hô mang tính thân mật và đơi khi mang tính

suồng sã như: mày, tao, thằng chó, hắn, thằng cha, con đĩ, bố cu, thằng phò

đực... Những lớp đại từ này phần lớn được phát ra trong những cuộc đối thoại

của các nhân vật: “Chị thương bố cu nhà chị lắm. Chị đi thế này, bố cu nhà

chị thèm chị lắm đấy” (I am Đàn Bà - Y Ban); “Ban đầu gã gọi cả cơ quan là

bọ. Bọ tất. Rồi gã gọi các bà cơ là mụ. Các chị nạ dòng là mụ. Mụ vừa già vừa

xấu đun nấu suốt ngày. Mụ tóc nhuộm. Mụ tủ lạnh run rẩy tồn thân. Tơi cũng

là mụ” (Tự truyện - Hồ Anh Thái)...

Truyện Nguyễn Huy Thiệp đơi lúc gây cảm giác khó chịu nơi bạn đọc

bởi lẽ họ phải tiếp nhận một khối lượng lớn những từ ngữ dung tục, những

câu chửi thề tục tĩu luôn thường trực trên miệng các nhân vật của ông.

Nguyễn Huy Thiệp trong hành trình sáng tạo của mình phải chăng đã tiến gần

hơn đến việc giải thiêng ngôn ngữ? Cuộc sống tù đọng và ngột ngạt, những

bức bối trong cảm xúc không thể giải tỏa là những nguyên nhân khiến các

nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp rơi vào trạng thái “thèm chửi”

như một cách để thoát ra nhanh nhất hiện thực tù đọng đó. Điều đáng chú ý là

những câu chửi bậy không chỉ được bật ra từ tầng lớp nơng dân, người nhà

129



q ít học mà ngay cả giới trí thức, cơng bộc của dân cũng khơng kiềm chế

được mà văng, mà chửi. Ơng tướng Thuấn luôn sử dụng từ khốn nạn như một

cách chửi vào cuộc đời hay chăng là nỗi ngán ngẩm không bắt nhịp được với

cuộc sống đương thời cho nên chán ghét mà chửi như vậy. Sự suồng sã vì thế

tồn tại trong sáng tác của ông như là một dấu hiệu đặc trưng để người ta nhận

ra một Nguyễn Huy Thiệp rất đời trong vô vàn các cây bút khác. Mọi sự thi vị

hóa ngơn từ đều khơng có chỗ đứng trong sáng tác của ông. Đây là một đoạn

đối thoại trong Khơng có vua: “Sinh cất nồi dưới bếp. Đồi đi theo lấy cơm

vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đồi bảo: “Người chị tơi cứ

mềm như bún”. Sinh lùi lại, hốt hoảng: “Chết, chú Đoài, sao lại thế?”. Đồi

bảo: “Gớm, đùa một tí đã run bắn người”. Nói xong đi lên nhà”. Những đoạn

đối thoại hết sức chân thực và tự nhiên như thế biểu hiện quan niệm về cõi

người của Nguyễn Huy Thiệp: nhố nhăng, ối a ba phèng.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đầy ắp những lời ăn

tiếng nói thơ tục, đời thường, sự xuất hiện dày đặc của những khẩu ngữ.

Trong Tình yêu ơi ở đâu? là tiếng chửi đời của chàng thi sĩ nghiệp dư làm thơ

nhưng khơng có tiền xuất bản: “Anh mà ra tập thơ này sẽ là tiếng đại bác nã

vào đầu những thằng bất tài. Khốn nạn. Bỏ bao trí tuệ và sức lực ra làm mấy

bài thơ, lại lo tiền in, lo phát hành. Thế sinh ra các nhà xuất bản để làm gì?

Cái cơ chế thị trường khốn kiếp, nó khơng cho người ta được rảnh để sống với

thế giới của mình” [19; tr.78]. Ở Nước mắt đàn ơng là lời chì chiết chồng của

bà vợ: “Điên rồ, đú đởn mãi rồi về rửng mỡ, nhạc nghe như chó kêu, điếc hết

cả tai” [19; tr.420]. Hay trong Phù thủy: “Con khốn nạn này. Mày làm cái gì

thế kia?” [19; tr.433], “Mẹ thường bảo bố: “Mày là thằng đàn ông bẩn thỉu

nhất trên đời mà tao gặp. Số tao ăn mày nên vớ phải thằng cha căng chú kiết

như mày” [19; tr.436]...

Sáng tác của Lê Minh Khuê cũng tràn ngập khẩu ngữ, thậm chí ngôn

ngữ dung tục cứ tự nhiên bước vào trang văn mà khơng một chút đẽo gọt cầu

130



kì. Những từ thơng tục ấy xuất hiện hiển nhiên và đầy rẫy trên trang giấy như:

“địch mẹ, ơng táng vỡ đầu”, “mẹ nó, dạo này nó đi đứng cẩn trọng thế” (Kí sự

những mảnh đời trong ngõ); “nó là con của đồ chó đẻ. Con nhà chó đẻ nên

tham lam”, “mẹ nó chứ! Đ. mẹ! Có đơ la thì giết nhau cũng đáng” (Đồng đô

la vĩ đại)...

Với Nguyễn Ngọc Tư lại khác, dù là khẩu ngữ chát chúa song ảnh

hưởng của vùng Nam Bộ đặc trưng khiến cho ngôn ngữ trong sáng tác của

Nguyễn Ngọc Tư không lạnh lùng, sắc nhọn như Nguyễn Huy Thiệp mà nó

tạo thành nét duyên riêng trong sáng tác. Phải là một người gắn bó tha thiết

với quê hương và con người nơi mình sinh ra và lớn lên thì Nguyễn Ngọc Tư

mới có thể truyền tải hết được cái hồn riêng của ngôn ngữ nơi miền sông

nước này. Theo khảo sát ban đầu của chúng tơi thì Nguyễn Ngọc Tư sử dụng

nhiều những từ ngữ, phương ngữ đặc trưng của Nam Bộ. Đó là cách xưng hơ

mang sắc thái Nam Bộ: má, tía, chế, bây, ổng... ; cách xưng gọi ngơi thứ trong

gia đình kết hợp với tên: Hai, Ba, Tư, Chín, Út...; những từ ngữ chỉ hoạt động,

sinh hoạt: biểu, giăng mùng, tợp... Đây là một đoạn đối thoại trong Nhà cổ

“Má tôi tức lắm, bảo, “Con Út Nhỏ chắc mắc nợ anh em thằng Tứ Hải. Để

coi, thể nào mầy cũng ế chồng. Mà, - bà ngờ ngợ - con nhỏ ngơng nầy, có

thương thằng Tứ Phương thiệt hôn?”. Tôi cười, “Thiệt đâu mà thiệt, má coi,

trên mặt con có vẽ chữ Phương nào khơng?” [52; tr.72]....

Cũng có lúc, đâu đó, các nhà văn rơi vào sự sa đà khi lạm dụng quá

nhiều ngôn ngữ đời thường khiến văn chương trở nên nhốn nháo, ít nhiều bị

dung tục, rơi vào tự nhiên chủ nghĩa. Nhưng trên tất cả, không thể phủ nhận

rằng nỗ lực kéo gần khoảng cách văn chương và hiện thực đời sống của các

nhà văn đã khiến cho văn và đời thật gần gũi, chân thực. Điều này vơ hình

chung cũng xóa nhòa ranh giới giữa tác phẩm và bạn đọc, các câu chuyện được

kể trở nên đời hơn và dễ đi vào lòng người, tạo hiệu ứng tốt nơi người đọc.

Đồng thời việc sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ, thông tục thể hiện được hiện thực

131



và con người như bản thể, đó là tính phức tạp, đa dạng, có cả tốt xấu, cao cả thấp hèn, người - con, …; ngôn ngữ đó cũng cho thấy văn học chính là cuộc

đời và con người không thể né tránh hiện thực, hoặc thiêng liêng hóa, lý tưởng

hóa hiện thực.

4.1.2. Ngơn ngữ đối thoại, độc thoại được kết hợp linh hoạt, đa dạng

Ngôn ngữ trần thuật trong văn học sau 1986 ngày càng đậm tính đối

thoại, độc thoại. Đây được xem như một cách phản ứng lại trạng thái hiện tồn

tù đọng, ngột ngạt đang bủa vây lấy con người. Con người sở dĩ có mối liên

hệ với nhau là nhờ ở khả năng giao tiếp, ngơn ngữ đối thoại vì thế phát huy

tác dụng mạnh mẽ trong sự gắn kết con người. Tuy nhiên, như trên đã trình

bày, xu hướng đối thoại trong xã hội hiện đại ngày càng bị thu hẹp dần

nhường chỗ cho ngôn ngữ độc thoại. Sự phát triển của công nghệ thông tin,

mạng internet khiến con người ngại giao tiếp và kết nối với nhau. Họ tự tạo ra

một lớp vỏ bọc và giấu đi những ẩn ức cá nhân trong đó.

Đối thoại được hiểu là một hoạt động của nhân vật trong tác phẩm tự

sự, là dạng lời phát ngơn trực tiếp, mang tính cá thể hóa cao của nhân vật khi

tham gia giao tiếp. Dấu hiệu nhận biết sự đối thoại trong tác phẩm chính là ở

hình thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm tự sự được đánh dấu

bằng gạch đầu dòng, cái mà Bakhtin gọi là “bố cục ngôn ngữ”. Theo Lại

Nguyên Ân thì đối thoại được hiểu là: “sự giao tiếp qua lại (thường là giữa

hai phía) trong đó sự chủ động và thụ động được chuyển đổi luân phiên từ

phía này sang phía kia (giữa những phía tham gia giao tiếp); mỗi phát ngơn

đều được kích thích bởi phát ngơn có trước và sự phản xạ lại phát ngơn

ấy...” [64; tr.333]. Trong truyện ngắn, hình thức đối thoại được sử dụng rộng

rãi và có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung giao tiếp của nhân

vật. Theo các nhà nghiên cứu thì tồn tại hai kiểu đối thoại như sau: kiểu đối

thoại theo hình thức phân vai và kiểu đối thoại được nhấn mạnh nhờ những

chỉ dẫn của người trần thuật nhằm giản lược hoạt động giao tiếp.

132



Trường hợp thường gặp nhất là người kể chuyện lược lại lời thoại của

nhân vật bằng câu kể. Những dấu hiệu chú thích của người kể chuyện được

thể hiện rõ như: anh ta kể, hắn nói, lão bảo... Dưới đây là một vài đoạn văn

có lời thoại kiểu như vậy:

“Bà cụ Hai rầu rĩ như mình đã ruồng rẫy, phụ phàng ai vậy, chép miệng

than:

- Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa. Hổng

ấy, cho Tươi đi, chịu hơn?

- Nó nhỏ xíu hà, biết khơng?

- Nó tuổi con gà, hai chục rồi, nó lanh lắm.

- Thôi kệ, đi đại đi”.

(Ngọn đèn không tắt - Nguyễn Ngọc Tư)

“Cánh mũi tái nhợt phập phồng lưỡng lự, rồi cũng nói ra:

Anh có biết cảm giác khi nhìn người này, ta lại thấy một người khác?

Ơng đang nói về ai vậy?

Bố con bé.

Nếu tơi khơng lầm thì cơ ta đâu còn sống cùng người thân.

Bố của con bé mất hơn hai năm rồi. Trước đấy là giai đoạn ốm đau và

suy kiệt. Đó cũng là giai đoạn con bé đi học xa. Ơng ấy khơng muốn để con

bé biết”.

(Xâm lấn - Phan Hồn Nhiên)

Đối thoại còn biểu hiện ở dạng thức được người kể chuyện lồng ghép

trong truyện kể mà khơng có những dấu hiệu hình thức của một đoạn hội

thoại thông thường (dấu gạch ngang trước mỗi lời thoại hay dấu ngoặc kép để

đóng khung lời thoại):

“Giờ thì ông đã lên được đỉnh mái rồi. Chỗ mái xô đây rồi. Hai tay ông

bám chặt vào thanh tre trụ. Bám chắc như thể tay ơng đã dính hồn tồn vào

đó. Ơng sẽ khơng bng ra nữa. Tồn thân ơng nằm phủ lên chỗ mái gianh bị

133



xơ. Giờ thì ổn rồi. Chỗ hổng đã được lấp lại. Ơng khơng đi đâu hết. Ông nằm



134



yên đây, thi gan với trời đất. Gió bão có giỏi thì bưng ơng đi, rồi mới mong

chạm được vào vợ con ơng. Mưa à? Ơng nằm đây xem chúng mày có đủ sức

quất nát được ơng ra hay khơng? Ơng có đóng băng thì chúng mày cũng đừng

hòng chạm đến da thịt vợ con ơng.

Nhớ lấy!”

(Mẹ và con và trần thế - Phong Điệp)

“Ông ngoại cho con gái 10 nghìn USD để làm vốn. Ơng nói, ai cũng

cần phải có vốn vào đời. Nhất là đàn bà như mày. Đủ các loại vốn, từ vơ hình

như học thức, nhan sắc, duyên dáng. Ba cái đó, chẳng may mày hơi bị khiêm

tốn. Bố mẹ muốn cho mày lắm nhưng ơng trời khơng hào phóng cứ thò ra một

thì lấy lại ba. Bố cũng khơng sung sướng gì. Bố cũng bất lực giống như việc

cưới mẹ mày làm vợ, mắt tinh tai thính hẳn hoi, có ai đốn được lại điếc và dở

hơi dần theo năm tháng vậy đâu”.

(Sống gửi thác về - Nguyễn Thị Thu Huệ)

Trái với đối thoại, độc thoại được hiểu là lời nói phát ngơn ra nhưng

khơng có sự tương tác, trao đáp giữa các lượt lời. Nó là sự thể hiện lời nói

hướng tới bản thân mình mà khơng tính đến phản ứng của người đối thoại,

chúng nảy sinh trong dòng suy nghĩ của nhân vật góp phần thể hiện tính cách

nhân vật, tư tưởng tác phẩm. Đó được xem như là lời phát ngơn của nhân vật tự

bộc bạch với chính mình. Độc thoại nội tâm kết hợp linh hoạt với đối thoại

làm hoàn chỉnh bức chân dung về con người. Nhân vật hiện lên không chỉ

trong mối quan hệ với những người khác qua đối thoại mà còn hiện lên trong

mối quan hệ với chính mình trong độc thoại.

Độc thoại nội tâm dưới dạng tự bạch thường gặp ở truyện kể ngôi thứ

nhất xưng “tôi” tự kể lại câu chuyện của cuộc đời mình. Ở đó, ngơn ngữ kể

chuyện cũng chính là là ngôn ngữ của nhân vật: Biển đời người, Cánh cửa

thứ chín, Nàng cơng chúa lạc lồi... (Trần Thùy Mai); Sau chớp là giông bão,

Cưới chợ, Mỗi người đàn ông chỉ có riêng một người đàn bà... (Y Ban); Cát

135



đợi, Chị tôi,



136



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tiểu kết chương 3

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×