Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tiểu kết chương 1

Tiểu kết chương 1

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 2

TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT

TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986

2.1.Những tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn thế sự - đời tư trong

văn học Việt Nam từ sau 1986

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhiều biến động trong công cuộc đổi

mới đất nước

Năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mĩ trường kì đã kết thúc thắng lợi

với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, non sơng nối liền một dải, đất nước

thống nhất bước vào thời kì khôi phục và phát triển. Trong chặng đầu tiên trên

con đường độc lập, tự do, thống nhất đất nước, nhân dân ta đã phải đối mặt

với vô vàn những thách thức, hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh kéo dài

suốt mấy mươi năm. Môi trường bị hủy hoại nặng nề bởi hàng triệu tấn bom

đạn và những chất hóa học độc hại khác. Hơn hai mươi năm đất nước bị chia

cắt, sự đối lập về hệ tư tưởng, chính trị và những khác biệt về kinh tế, văn hóa

cần phải qua nhiều thời gian nữa mới có thể xóa đi sự cách biệt ấy... Cùng với

những khó khăn về mặt xã hội chúng ta phải đối mặt với chính sách cấm vận,

cô lập Việt Nam của các thế lực đế quốc thù địch, sự khủng hoảng và tan rã

của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Những chủ trương, chính sách kinh

tế - xã hội chủ quan, duy ý chí đẩy đất nước ta rơi vào cuộc khủng hoảng kinh

tế nặng nề những năm 80. Những nguyên tắc, phương châm tổ chức quản lí xã

hội cũ ngày càng trở nên lạc hậu, xơ cứng trước sự sinh động, đổi thay của

thời đại và yêu cầu phải giải quyết những di chứng nặng nề, lâu dài của chiến

tranh. Đưa đất nước thốt ra ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu được xem

là nhiệm vụ cấp bách lúc này.

Những biến động của xã hội và những tác động của bên ngồi là những

ngun nhân dẫn đến cơng cuộc đổi mới toàn diện năm 1986. Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ VI với tinh thần “nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta

36



đã nghiêm khắc tự phê bình những chủ trương, chính sách nóng vội trước đó

và đề ra đường lối phát triển mới. Quyết tâm xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung

quan liêu, bao cấp để hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường theo định

hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế hàng hóa, kinh tế nhiều thành

phần... là những chủ trương lớn, từng bước đưa đất nước ta vào thế ổn định và

phát triển.

Mặt khác, trước đây trong điều kiện chiến tranh thì những vấn đề như

nhu cầu, khát vọng cũng như đau khổ của cá nhân tạm thời bị gác lại để lo

cho vận mệnh của cộng đồng. Tất cả đều hướng về cái chung, về một ngày

mai giành chiến thắng. Giờ đây, cuộc sống thời bình trở lại, con người có

những thay đổi trong tâm tư, tình cảm, buộc phải đối mặt với những nhu cầu

trần tục liên quan đến chính mình cũng như các giá trị nhân bản của nó. Trong

vài năm đầu những giá trị tồn dư của một “thời xa vắng” vẫn được khơi lên để

thắp thêm niềm tin và ý chí cho con người nhưng hiện thực đời sống khắc

nghiệt đã bóp nát những điều khơng còn hợp thời ấy. Một bộ phận khơng nhỏ

gồm cả những con người đã từng đi ra từ cuộc chiến nay trở về với đời sống

thực tại cũng không khỏi lạc lõng và chán nản.

Tựu chung lại, bối cảnh lịch sử - xã hội sau đổi mới đã tạo tiền đề quan

trọng cho các tác phẩm văn xuôi thể hiện cuộc sống con người sinh động với

muôn mặt phồn tạp mà ở đó đời sống của mỗi cá nhân, cá thể được các nhà

văn quan tâm khai thác và tìm hiểu kĩ lưỡng.

2.1.2. Quan niệm nghệ thuật mới về con người

Nếu trước năm 1975 con người trong quan niệm của các nhà văn là con

người mang tính giai cấp, vẻ đẹp của con người phải là vẻ đẹp đại diện chung

cho cả cộng đồng, chất sử thi soi rọi vào trong hình tượng nhân vật, phủ lên

nó “bộ áo xã hội” đẹp đẽ. Con người được “tắm rửa trong bầu khơng khí vơ

trùng”, hình tượng con người được xây dựng với vóc dáng hiên ngang của

thời đại, mang những phẩm chất cao đẹp. Nói như Chế Lan Viên thì đó là

37



những năm tháng: “đất nước có chung khn mặt. Nụ cười tiễn đưa con nghìn

bà mẹ như nhau”. Ngọn gió của cơng cuộc đổi mới tác động mạnh mẽ vào đời

sống văn chương, khuyến khích các nhà văn từ bỏ vị trí là một anh tuyên

truyền trở thành một người “dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”. Con

người trong đời sống văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế, trong tính đa

chiều của mọi mối quan hệ: con người trong mối quan hệ với xã hội, với

những người xung quanh, với chính mình; con người được khai thác ở đời

sống dục vọng, tâm linh... Điều dễ nhận ra là trong phần lớn các tác phẩm văn

học thời kì này, con người khơng còn là nhất phiến, đơn trị mà luôn là con

người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài, chen lẫn, giao

tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao

cả và tầm thường... Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn

xuôi sau 1986 bắt đầu với việc lấy con người làm tâm điểm soi ngắm lịch sử.

Con người từ điểm nhìn lí tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư.

Dòng chảy đời thường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người

một diện mạo mới; phong phú, phức tạp và nhiều bí ẩn và nhà văn trong nỗ

lực khám phá, chiếm lĩnh đời sống nhận ra mỗi cá thể là “tiểu vũ trụ” huyền

bí cần tìm tòi, khai mở.

2.1.2.1. Từ quan niệm con người kiểu sử thi chuyển dần sang quan

niệm con người thế sự, đời tư

Văn học giai đoạn 1945 - 1975 hình thành và phát triển trong hồn

cảnh đặc biệt: chiến tranh. Điều này chi phối không nhỏ đến những quy luật

phát triển của lịch sử cũng như văn chương. Văn học uốn mình theo những

thăng trầm trồi sụt của lịch sử, tự ý thức mình như một thứ vũ khí sắc nhọn,

một cơng cụ tư tưởng hữu ích của lịch sử, hướng đến xây dựng những “con

người cộng đồng”, con người trong những năm tháng này chính là một sản

phẩm hồn hảo của lịch sử. Con người khốc lên mình “bộ áo xã hội trùng

khít với chính nó”, dù muốn hay khơng thì lợi ích giai cấp buộc nhà văn phải

38



chọn cách nhìn về con người phiến diện, một chiều như vậy. Nam Cao điều

chỉnh ngòi bút của mình theo cách nghĩ của những anh Vệ quốc quân,

Nguyễn Huy Tưởng giác ngộ về thời đại đổi mới tạo ra “những người lính

Việt Nam điển hình”...

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kì đổi mới, đại hội VI và VII

của Đảng đều nhấn mạnh “nhân tố con người”: “tôn trọng con người, phát

huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân (...), xây dựng từng con người,

quan tâm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VI). Được dẫn lối bởi lí tưởng và lời kêu gọi của Đảng, các nhà

văn chuẩn bị hành trang sẵn sàng “dấn thân và nhập cuộc” vào cuộc sống

phồn tạp “ngoài kia”, vào cái hiện thực ngỡ bé nhỏ mà mênh mông không

“biết trước”, khơng tài nào đốn định, vào cuộc sống của những con người

sau khi trút đi bộ áo xã hội đẹp đẽ, giờ đây trở về với cuộc sống thường nhật.

Họ là ai? Họ sẽ đi về đâu?...

Mặt khác, xã hội lồi người được hình thành và phát triển dựa trên

những chuẩn giá trị của thời đại. Tuy nhiên, trong một xã hội công nghiệp

phát triển như vũ bão hiện nay thì những chuẩn giá trị cũ đã bị mất đi, trong

khi đó những chuẩn giá trị mới chưa kịp hình thành, xã hội đứng trước nguy

cơ khủng hoảng giá trị trầm trọng. Cùng với việc nhận thức lại lịch sử, đặt cái

nhìn hồi nghi vào q khứ, vào lịch sử; các nhà văn còn có ý thức thức nhận

lại những giá trị của con người đã in sâu vào tiềm thức cộng đồng và đặt ra

vấn đề cần nhìn nhận lại chính mình trên con đường hồn thiện. Con người

phức tạp như thế cho nên không thể dùng một tiêu chí lịch sử hay đạo đức mà

cân đo đong đếm, mọi sự lí tưởng và thần thánh hóa sẽ làm cho nó trở nên

rỗng tuếch và giả tạo.

Cảm hứng thế sự sau 1986 đem lại cho văn xi nói chung, truyện ngắn

nói riêng nhiều chất đời thường hơn, trước hết là ở khả năng chiếm lĩnh con

người từ góc độ đời tư. Con người riêng lẻ, cá thể, cá nhân cũng chính là con

39



người đời tư. Con người ấy sẽ được mô tả trong sự đan chéo mật thiết với

hoàn cảnh lịch sử - xã hội. Nếu cảm hứng sử thi cuối cùng quy chiếu mọi vấn

đề đời sống về hiện thực lịch sử thì cảm hứng thế sự cuối cùng tìm đến hiện

thực con người, quy chiếu về số phận con người với những quan hệ xung

quanh, sự tồn tại của nó, phát hiện những “vấn đề tự nó”. Tức là chỉ với cái

nhìn thế sự, đời sống riêng của cá nhân, kinh nghiệm cá nhân mới được coi là

đối tượng khám phá chủ yếu. Và bởi vì mỗi cá nhân là một thế giới riêng tư,

cá biệt, độc đáo, “quan niệm của nó về bản thân mình” có khi hồn tồn

khơng trùng khớp với quan niệm của cộng đồng về nó. Theo M.Bakhtin, cá

nhân tự phân biệt mình khơng phải bằng “vị trí” và “số phận” khác nhau mà

bằng những “chân lí” và “lẽ phải” khác nhau. Niềm tin riêng của con người

quy định cách ứng xử mọi mặt của nó, cái nhìn sử thi khơng bao quát được,

con người hoặc lớn hơn thân phận của mình hoặc nhỏ bé hơn tính người của

mình. Nguyễn Minh Châu trong bài Viết về chiến tranh đã đặt ra câu hỏi và tự

trả lời: “Con người hay sự kiện? Câu trả lời dường như khơng còn phải lựa

chọn nữa: phải viết về con người. Tất nhiên con người không tách rời sự kiện

chiến tranh (...). Rồi trước sau con người cũng đã leo lên trên các sự kiện để

đòi quyền sống” [113; tr.121].

Đến với sáng tác của các nhà văn viết truyện ngắn theo khuynh hướng

thế sự - đời tư sau 1986, người đọc sẽ được bước vào lãnh địa của trò chơi với

những “cuộc chơi nhân vật” tràn đầy tính hài hước, đồng thời cũng vơ cùng

ám ảnh với những mảnh đời, những số phận của những con người được tái

hiện trong tác phẩm. Tiếp thu tinh thần của truyện ngắn hiện đại, các sáng tác

gần đây Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc

Tư... mang quan niệm đa trị hóa cái nhìn về cuộc đời trong văn chương.

Trong tác phẩm văn học, đặc biệt trong tác phẩm tự sự, nhân vật chính

là tâm huyết của nhà văn trong việc miêu tả và phản ánh những quan niệm

của tác giả về cuộc đời và con người. Trong văn học giai đoạn 1945 - 1975

40



nhân vật là những người đại diện cho cả cộng đồng, là “anh tun truyền” cho

những gì xã hội và lí tưởng yêu cầu, nhân vật được xây dựng với mẫu số

chung: người anh hùng. Sang đến giai đoạn sau 1986, nhân vật khơng còn

được thần thánh hóa, nó trở với đúng ngun bản của mình. Mặt khác, do ảnh

hưởng của tính dân chủ mà các nhà văn lúc này mang cái nhìn giễu nhại và

hồi nghi về thế giới mình đang sống. Chính vì thế mà hệ thống nhân vật

được xây dựng mang màu sắc nghịch dị khá rõ nét. Với luận điểm này, chúng

tơi triển khai tìm hiểu và nghiên cứu trên hai phương diện: Cách đặt tên, mã

hóa nhân vật; Khai thác những yếu tố hài hước và những yếu tố nghịch dị.

Mỗi con người khi sinh ra cũng được cha mẹ đặt cho cái tên, giấy

chứng sinh là một minh chứng về mặt giấy tờ cho sự hiện hữu của con người

ở trên cuộc đời này. Vì thế, trong tác phẩm cái tên của nhân vật luôn mang

dụng ý của nhà văn. Nhà văn không thể cẩu thả trong việc lựa chọn tên cho

nhân vật. Những cái tên dù xấu xí hay thanh cao thì cũng đều có những câu

chuyện đằng sau nó. Trong truyện ngắn truyền thống, nhân vật hiện lên với

đầy đủ tên tuổi, quê quán, nguồn gốc xuất thân, dung mạo... Nhưng ở truyện

ngắn hiện đại dường như nhà văn tỏ ra không mấy quan tâm đến những điều

đó. Nhà văn đã gián tiếp xóa bỏ sự tồn tại của nhân vật trong xã hội bằng việc

không cho nhân vật một cái tên cụ thể mà thay vào đó gọi bằng những đại từ

chung chung mang ý nghĩa phiếm chỉ hay lấy một đặc điểm tính cách nổi trội

của nhân vật để mà gọi thành tên... Cách đặt tên hiếm lạ như vậy phải chăng

là một dụng ý nghệ thuật sâu sắc của nhà văn???

Theo sự khảo sát của chúng tôi trong truyện ngắn viết theo khuynh

hướng thế sự - đời tư xuất hiện kiểu nhân vật được mã hóa. Những nhân vật

này được nhà văn gọi bằng cái tên gắn liền với nghề nghiệp có khi được số

hóa hoặc có khi hồn tồn khơng có tên để nhận dạng. Đặc điểm chung của

kiểu loại nhân vật này là sự khu biệt giữa chúng không có và chúng mang tính

chất của nhân vật loại hình.

41



Trong kiểu nhân vật này chúng tơi chia thành các nhóm nhỏ sau: Một là

nhóm nhân vật được tác giả gọi tên theo nghề nghiệp, chức vụ, ngôi thứ, quốc

tịch hoặc theo một đặc điểm của nhân vật được phóng đại lên để giễu nhại.

Đó là nhân vật: X- Men, Duyên dáng Quý bà, các nhà tài trợ quý hiếm, (XMen có mùi trường đua - Nguyễn Thị Thu Huệ); Tạp vụ, Sốt vé (Phòng

chiếu phim số 9 - Nguyễn Thị Thu Huệ); bác tài, cơ quản lí, bác sĩ (Thành phố

đi vắng - Nguyễn Thị Thu Huệ); taxi (Cuối cùng thì đàn bà muốn gì - Y Ban);

thầy Khiển, anh Ngôn, ông Sự (Thầy Khiển - Ma Văn Kháng); ông Quyền:

“ơng Quyền là người có quyền quyết định, là sáng suốt cơng bằng”, lão Lực:

“lão Lực vừa tròn bảy mươi tuổi (...). Lão Lực thuộc loại đàn ông hiếu dục”

(Nợ đời - Ma Văn Kháng); cave (Lãng mạn nửa mùa - Lê Minh Khuê), Cao

Bồi (Nhổ quán - Nguyễn Ngọc Tư); võ sư, ơng giáo sư, ơng sử (Phòng khách

- Hồ Anh Thái)...

Hai là nhóm nhân vật được số hóa hay kí hiệu bằng một chữ cái được

tác giả gán cho với một ý nghĩa giễu nhại nhất định. Đó là những nhân vật mà

thực chất là tiêu biểu cho những thuộc tính người chung phổ biến. Chẳng hạn

như: Số 5 (X-Men có mùi trường đua - Nguyễn Thị Thu Huệ); 67, 70, 73 (Bàn

tiệc thiu dần - Hoàng Tố Mai); K. (Biến mất lúc mười hai giờ - Phong Điệp);

H. (Chào Át cơ - Hoàng Tố Mai); B., P. (Bàn tiệc thiu dần - Hồng Tố Mai);

ơng Số Một, bà Số Hai, cô Số Ba, Số Bốn (Tờ khai Visa - Hồ Anh Thái); Chín

Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu, Bóng Rổ trong truyện ngắn cùng tên của Hồ Anh

Thái ...

Ba là nhóm nhân vật gần như vơ danh, khơng một đặc điểm nhận dạng.

Đó là những: gã, quý phu nhân, cô, ông già, đứa con gái, đám thanh niên mới

lớn, cô gái, người đàn bà (chị ta), gã trai, ông, nó, thị, thằng bé, hắn; người

đàn bà, người đàn ông, vị chúa đất, đứa; Chàng, Nàng, bà ta, bà mẹ. Không

phải đến các sáng tác giai đoạn sau 1986 ta mới bắt gặp kiểu nhân vật khơng

tên. Trước đó trong các sáng tác của Nam Cao đã nhan nhản những “y, thị,

42



hắn” như một cách đặt tên cho nhân vật để thấy rằng sự xuất hiện của kiểu

loại nhân vật này trong xã hội rất nhiều. Các nhà viết truyện ngắn thời kì này

đã kế thừa có sáng tạo những thành quả của các nhà văn thuộc thế hệ trước.

Ngoài ra, trong các truyện ngắn theo khuynh hướng thế sự - đời tư mà

chúng tơi khảo sát còn xuất hiện những cái tên mang ý nghĩa biểu trưng, đó

là: Trần Hạnh Phúc (ý nghĩa: chàng là ánh sáng của cha mẹ (cha mẹ chàng

đều bị mù) trong Chàng trông xe hạnh phúc - Phong Điệp; Thái Dương (ý

nghĩa: cuộc đời sẽ đầy ánh sáng nhưng hiện thực lại tréo ngoe, Thái Dương bị

mẹ nó “cố thủ trong nhà” bởi lẽ “cuộc đời ngồi kia khơng tin ai được”) trong

Sống gửi thác về - Nguyễn Thị Thu Huệ; Bạo “gã trai tên là Bảo, quen miệng

nói câu nào cũng đệm hai tiếng tàn bạo, mà thành tên Bạo” (Mây mưa mau

tạnh - Hồ Anh Thái), Ban Mai “mang ý nghĩa của buổi sáng, buổi sáng của

những người lính sau năm tháng viễn chinh được trở về đất mẹ” (Cánh chuồn

chuồn trên vùng Quai Xanh - Lữ Thị Mai)...

Qua sự phân loại như trên, chúng tôi nhận thấy, khi khám phá con

người trong tính đa chiều của các mối quan hệ, nhân vật trong sáng tác của

các nhà văn viết truyện ngắn theo khuynh hướng thế sự - đời tư là những nhân

vật bị mất đi cái tên khai sinh mà cha mẹ đã đặt cho họ, chỉ còn tồn tại những

cái tên đã được mã hóa gắn liền với chức tước, địa vị mà họ đang có. Một sự

đổi đời ngoạn mục hay cũng chính là một sự lột xác để tạo cho mình những

vỏ bọc mới, những mặt nạ thủy tinh mn hình vạn trạng. Đó là những nhân

vật tiêu biểu cho nhận định của A.R.Grillet: “Thời đại hiện thời là thời đại của

số báo danh” [173; tr.64]. Họ như những vật thể lạ trôi nổi, bị đột ngột ném ra

giữa dòng đời mà khơng biết nguồn gốc, q quán của mình ở đâu, cha mẹ

anh em như thế nào, khơng có một mối liên hệ nào ràng buộc họ với sự vận

hành của xã hội. Việc xóa bỏ nhân vật từ cái tên có thể dẫn đến việc nhân vật

về lâu dài sẽ bị tẩy tắng, bị đánh mất đi các mối quan hệ với xã hội và với

những người xung quanh. Nhân vật lúc này dường như chỉ là một hệ số nhân

43



cấp của những gì chung chung khơng có nét riêng biệt. Chính bởi thế mà sâu

thẳm trong nhận thức của những nhân vật này luôn chất chứa nỗi cô đơn khi

không được công nhận là một “nhân vị” với đầy đủ quyền của một con người.

Quan niệm “con người đời thường”, “con người phàm tục”, “con

người khơng hồn hảo” vừa giống như một cuộc đối thoại với quá khứ,

khước từ những quy chuẩn, những giá trị cũ khi đánh giá con người đồng

thời đề xuất hệ giá trị mới phù hợp với quy luật vận hành của lịch sử, xã

hội và tự thân con người.

2.1.2.2. Con người được khám phá với cái tôi cô đơn khủng hoảng

thường trực

Trong bài tiểu luận về cái cô đơn, Octavilo Paz đã phát biểu: “Cái cô

đơn là đặc trưng cuối cùng của thân phận con người. Con người là sinh vật

duy nhất cảm thấy cô đơn”. Sinh ra mang thân phận người, từ trong ý thức

sâu xa con người ln có một phần cơ đơn ẩn giấu. Nỗi cơ đơn đối với người

nghệ sĩ đó là chìa khóa vạn năng mở vào mọi cánh cửa của nghệ thuật. Người

nghệ sĩ cũng giống như lồi chim trong cơ đơn càng cất cao tiếng hót lay thức

bao tâm hồn. Như vậy, cô đơn trở thành một bi kịch tất yếu của con đường

sáng tạo, nó gắn với cảm thức của nhà văn về thân phận người: con người

xuất hiện như những cá thể nhỏ bé luôn sống trong mặc cảm đầy lo âu giữa

một thế giới đầy rẫy những điều rủi ro mà người ta không biết ngày mai sẽ ra

sao. “Tôi là ai?” xuất hiện như một câu hỏi đầy nhức nhối truy nguyên bản thể

của mỗi cá thể người.

Cảm thức cô đơn xuất hiện trong tác phẩm của các nhà văn viết truyện

ngắn theo khuynh hướng thế sự - đời tư sau 1986 như là một căn bệnh tinh

thần phổ biến của xã hội. Một xã hội khủng hoảng niềm tin, các hệ giá trị bị

đảo lộn, tâm thế hồi nghi sâu sắc chính là địa hạt gieo trồng những mầm cơ

đơn từ lúc con người cất tiếng khóc đầu tiên đến khi từ giã cõi đời - một vòng

tuần hồn khắc khoải nỗi cơ đơn. Qua khảo sát, chúng tơi nhận thấy có ba

44



kiểu cơ đơn xuất hiện chủ yếu trong những truyện ngắn viết theo khuynh

hướng thế sự - đời tư, đó là: kiểu cơ đơn của những người đã từng đi qua

chiến tranh, kiểu cô đơn của những con người bé nhỏ và kiểu cô đơn của

những người nghệ sĩ. Bằng cách này hay cách khác, một loạt các từ ngữ khi

thì trực tiếp bộc lộ nỗi cô đơn như: buồn, cô đơn, thở dài đặt trong không gian

tù đọng và ngột ngạt như không gian căn phòng, gác xép, ngơi nhà; khi thì

thơng qua hành động để tỏ bày với độc giả. Nỗi cô đơn xuất hiện với mật độ

khá dày đặc trong các truyện ngắn theo khuynh hướng thế sự - đời tư mà

chúng tơi đã khảo sát: “Ngồi với mình lâu một chút nhé. Ai cũng bảo mình

khơng có thời gian. Mình cơ đơn quá” (Cuộc tình Silicon - Y Ban); “Thì ra cái

sự đêm đêm các cơ gái khóc cười chính là một sự giải tỏa những nỗi nhục nhã

ê chề để hơm sau lại lao thân vào” (Nhân tình - Y Ban); “Tôi bỗng nhiên thấy

cuộc sống hiện giờ của tôi vô nghĩa xiết bao. Con trâu đen, con trâu đen trong

thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi?” (Chảy đi sơng ơi - Nguyễn Huy Thiệp);

“Ơng đã bao giờ nghe thấy tiếng thở dài của cả vạn người cùng một lúc chưa?

Chưa à? Ồ, hay tuyệt vời, thật đấy! Tơi khơng biết tả thế nào mà chỉ thấy rằng

nó hay một cách rùng rợn mà thôi!” (Chú Hoạt tôi - Nguyễn Huy Thiệp)...

Với kiểu cô đơn của những người bước ra từ cuộc kháng chiến vĩ đại

của dân tộc, một là rơi vào trạng thái “lạc lồi” như ơng tướng Thuấn trong

truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, hai là ôm nỗi đau đớn về

thể xác và tâm hồn gặm nhấm nốt qng đời cơ độc còn lại. Nguyễn Huy

Thiệp để cho nhân vật tướng Thuấn (Tướng về hưu) luôn bị bủa vây bởi một

loạt các câu hỏi nghi vấn về bản thể của chính mình đơi khi lại là sự tuyệt

vọng khi khơng biết mình là ai và vì sao mình xuất hiện, sự xuất hiện của

mình có ý nghĩa gì: “Sao tơi cứ như lạc lồi?”. Những câu hỏi cất lên đầy cơ

đơn nhưng nhanh chóng bị chìm trong khoảng khơng lạnh lẽo của lòng người,

những câu hỏi sẽ mãi mãi khơng bao giờ có lời hồi đáp: “Tơi có tiếng gì mà

mang?”, “Thế em là ai?”, “Sao lại đánh lừa? Chẳng lẽ người chết đều đánh

45



lừa người sống?”... Còn Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn Mùa trái cóc ở

miền Nam thì bất giác đã để cho anh nhà báo - người chứng kiến cuộc gặp gỡ

sau 20 năm của vị chỉ huy nọ với người mẹ của mình. Sau 20 năm gặp lại,

giữa bao nhiêu sắc lính, người mẹ vẫn nhận ra cậu con trai của mình nhưng

người con ấy giống như một vị quan tòa cất cao giọng hỏi tội: “Hai mươi năm

qua bà đã sống như thế nào”... Và hơn ai hết, người chứng kiến câu chuyện

cảm thấy lạnh buốt tâm can: “Tơi cảm thấy lòng mình bị tổn thương nặng nề

và hình như cả con người tơi tự nhiên bị ngập chìm trong nỗi âu lo sao mà lớn

lao và đầy khắc khoải về con người” (Mùa trái cóc ở miền Nam).

Câu hỏi nhức nhối đặt ra là: hòa bình đã lập lại trên mảnh đất này rồi

rồi nhưng tại sao...? Tại sao con người vẫn bất hạnh, vẫn bị đày đọa về tinh

thần mà căn nguyên, kẻ chủ mưu lớn nhất gây ra tất cả những điều đó chính là

chiến tranh. Chiến tranh như nhát dao phạt ngang cuộc đời của họ. Chúng ta

nhận ra rằng con đường để mỗi con người bước ra khỏi cuộc chiến tranh cũng

nhọc nhằn khơng kém gì khi bước vào nó. Hình ảnh của Thảo hiện lên trong

những trang cuối cùng của câu chuyện tình yêu với lời thề non hẹn biển khi

trong đạn bom khơng cứu rỗi được niềm tin vào tình u thời hậu chiến:

“Đêm tân hôn của Thành, Thảo chong ngọn đèn dầu trên giường nhỏ, không

dám bật điện (...). Thảo tẩn mẩn giở những lá thư ra đếm (...). Thảo nghĩ đến

Thành. Chắc giờ đây, lòng thanh thản và ngập tràn hạnh phúc, anh đang mê

đắm trong vòng tay người vợ mới cưới. Ngày ở Rừng Cười cô đã khao khát

đến cháy lòng ngày ấy! Cái ngày ấy là một trong những đốm lửa sáng nhất

giục giã cơ cố nhồi ra khỏi cuộc sống hoang dã chốn rừng sâu” (Người sót

lại của rừng cười - Võ Thị Hảo). Nghịch cảnh tréo ngoe khi người lính mang

hi vọng đồn viên trở về nhà thì phát hiện ra vợ mình đã lấy người đàn ông

khác. Anh bẽ bàng nhận ra: “Số phận khơng dành cho anh người đàn bà tóc

bạc chờ chồng. Những đứa trẻ khác bố”. Trong nỗi chán chường tột độ, anh

tìm đến một chân gác đèn trong sự “gớm ghét đàn bà và nhân thể gớm ghét

46



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tiểu kết chương 1

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×