Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số nghiên cứu trong nước

Một số nghiên cứu trong nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

một yếu tố của tổ chức tự sự; 3) chức năng chỉ dẫn, thuộc phương pháp trần

thuật; 4) chức năng bình luận; 5) chức năng nhân vật hóa” [94; tr.223]. Nhà

nghiên cứu còn phân biệt người trần thuật với bản thân tác giả: “trong trần

thuật viết phi văn học (như báo chí, lịch sử), người trần thuật nói chung đồng

nhất với tác giả. Nhưng trong tác phẩm trần thuật mang tính chất văn học thì

người trần thuật lại khác, nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc

ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [94; tr.222].

Trong Tự sự học tập 2, Phương Lựu lại đưa ra vấn đề về phân loại góc

nhìn trần thuật. Ơng cho rằng “góc nhìn (perspective), cũng nhiều khi được

gọi là điểm nhìn (point of view), theo thu hoạch còn hạn hẹp vốn có của

chúng tơi, thì có ba loại khác nhau. Một là “góc nhìn hiểu biết” rất biến hóa,

có mặt khắp nơi, hầu như khơng bị hạn chế nào, thí dụ trong Hội chợ phù hoa

của W.M.Thackeray. Hai là “góc nhìn bên trong” tức là nhìn theo tri thức, tư

tưởng, tình cảm của một hay nhiều nhân vật để trần thuật một sự kiện hay

toàn bộ câu chuyện. Ba là “góc nhìn bên ngồi” là góc nhìn khơng phải của

bất cứ nhân vật nào trong truyện, gần giống với loại một, nhưng khơng đi sâu

biểu hiện tư tưởng, tình cảm, nội tâm v.v..., mà chỉ tả hoặc kể lại sự kiện hoặc

ngơn ngữ, cử chỉ, hành động, ngoại hình và hoàn cảnh của nhân vật trong

truyện như Rặng đồi tựa đàn voi trắng của Hemingway” [143; tr.190]. Như

vậy, nhà nghiên cứu đã chỉ ra một phương diện trong nghệ thuật trần thuật đó

là điểm nhìn trần thuật.

Trần Huyền Sâm cũng trong cuốn chuyên luận này có bài viết “Kiểu tự

sự đánh tráo chủ thể trần thuật trong tiểu thuyết hậu hiện đại”, Trần Mạnh

Tiến có bài “Nghệ thuật trần thuật trong một số tự truyện tiêu biểu giai đoạn

1930 – 1945”, Nguyễn Việt Hà có bài “Hoạt lực trần thuật trong tiểu thuyết

Tình ơi là tình của Elfied Jelinek”... Các nhà nghiên cứu này lần lượt đưa ra

những cách hiểu của mình về lí thuyết trần thuật.

Như vậy qua sự trình bày ở trên, có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu

22



trong và ngoài nước đều rất quan tâm đến nghệ thuật trần thuật. Chúng tôi

nhận thấy những ý kiến trên đều đi đến sự nhất quán khi cho rằng có hai kiểu

người trần thuật: trần thuật ngơi thứ nhất và trần thuật ngơi thứ ba. Nhìn

chung, các nhà nghiên cứu tỏ ra quan tâm nhiều đến người kể chuyện còn

phương thức trần thuật biểu hiện ra sao thì chưa có cơng trình nghiên cứu nào

chỉ ra một cách hệ thống và cụ thể.

Luận án của chúng tôi trước hết xác định vai trò của phương thức trần

thuật trong tác phẩm tự sự. Chúng tôi quan niệm trần thuật trong truyện ngắn

là một phương diện thuộc đặc trưng thi pháp thể loại. Trần thuật tồn tại với

nội dung trần thuật và hình thức trần thuật. Theo chúng tơi, phương thức trần

thuật trong văn chương có quan hệ mật thiết, chịu sự chi phối của nội dung

phản ánh, kiểu nhân vật. Phương thức trần thuật ấy là một hệ thống bao gồm

nhiều phương diện đó là: điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống, kết cấu,

ngơn ngữ, giọng điệu...

Về phương thức trần thuật của truyện ngắn giai đoạn từ sau 1986 cho

đến nay từng có khá nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu. Các ý kiến thường

tập trung đánh giá về một hay một vài phương diện nghệ thuật. Bích Thu

trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975” cho rằng: “Trong một

thời gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết

chưa kịp làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng. Xét

trong hệ thống chung của các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã

đạt được những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong

cách nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngơn từ” [219]. Theo nhà

nghiên cứu, truyện ngắn “có xu hướng tự nới mở, đa dạng hơn trong cách

thức diễn đạt... Có sự tác động, hòa trộn giữa ngơn ngữ tác giả và ngôn ngữ

người kể chuyện” [219]. Biện giải về điều này theo nhà nghiên cứu là do

những biến động xảy ra trong đời sống xã hội, yêu cầu của thời đại, sự thay

đổi ý thức thẩm mỹ của cả nhà văn và độc giả.

23



Nguyễn Văn Long trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn

đề nghiên cứu và giảng dạy khẳng định: “từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được

cho là đúng đắn nhất vì đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết

có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được

điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi

nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để cho các ý thức

cùng có quyền phát ngơn, cùng đối thoại” [110; tr.20]. Bên cạnh đó là “sự

thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ

vào các tình tiết, sự việc khơng theo một trật tự thời gian duy nhất” [110,

tr.20] là những nét mới trong nghệ thuật biểu hiện.

Cùng quan tâm tới hình thức biểu hiện của truyện ngắn, Thái Phan

Vàng Anh qua bài nghiên cứu “Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương

đại” đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại,

đó là tính chất hiện đại, tính chất văn hóa vùng miền và tính chất đa thanh. Từ

việc đi nghiên cứu ngôn ngữ trong truyện, tác giả đã phác họa những nét khá

cơ bản về diện mạo của truyện ngắn thời kì sau đổi mới đến nay.

Hỏa Diệu Thúy thông qua bài viết “Sự vận động của truyện ngắn Việt

Nam sau 1975 qua những cách tân về hình thức” đã mang đến một cái nhìn

khái quát về những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể loại của nhiều cây bút

truyện ngắn. Theo nhà nghiên cứu, về mặt hình thức, truyện ngắn Việt Nam

sau 1975 có những thay đổi ở các phương diện như: tổ chức cốt truyện, trần

thuật và ngôn ngữ và khẳng định giai đoạn sau 1975 “là giai đoạn mà truyện

ngắn Việt Nam có dạng thức thể loại phong phú và đa dạng nhất so với từ

trước đến giờ với các dạng thức tiêu biểu: truyện cực ngắn, truyện ngắn ngắn,

truyện siêu ngắn (truyện mi ni); truyện trong truyện và truyện liên hoàn; truyện

giả thể loại (giả ngụ ngơn, giả cổ tích, giả truyền thuyết, giả truyền kỳ)” [226].

Lê Hương Thủy trong “Một góc nhìn truyện ngắn 2008” nhận định:

“Thực tế cho thấy trong năm vừa qua, số lượng các tập truyện ngắn được in ra

24



rất nhiều. Theo thống kê chưa thật đầy đủ thì số các tập truyện ngắn của từng

tác giả in và lưu chiểu ở Thư viện Quốc gia năm 2008 lên đến 50 đầu sách” và

“một số cây bút vẫn tiếp tục xu hướng cách tân, đổi mới lối viết” [227].

Lý Hoài Thu khi tổng kết sự vận động của các thể loại văn xi trong

thời kì đổi mới đã có những kiến giải: “Bên cạnh tiếu thuyết, truyện vừa và

truyện ngắn (trung thiên tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết) trong các thập

niên qua phát triển mạnh mẽ, có thể gọi là rực rỡ. Không phải ngẫu nhiên mà

người ta gọi đây là thời kì “lên ngơi” của truyện ngắn. Điều này hồn tồn có

thể cắt nghĩa được bởi trong nhịp độ của đời sống công nghiệp hiện đại, dưới

sức ép từ phía các phương tiện nghe nhìn, truyện ngắn đã phát huy được ưu

thế của mình một cách hiệu quả” [222].

Phùng Gia Thế trong bài viết “Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt

Nam sau 1986” đã bày tỏ quan điểm của mình: “Sự đa dạng và dịch chuyển

liên tục điểm nhìn nghệ thuật, khơng có nhân vật trung tâm, lý tưởng; sự vặn

gẫy vai nhân vật và vai tính cách trong hình tượng; vơ số các hình tượng nhại;

nhiều kết thúc; có thể “tháo dỡ” được; sự chuyển dịch, pha trộn làm đứt gãy

những giới hạn thể loại truyền thống; một “cuộc chơi” thể loại, kiểu truyện

ngắn - tư liệu, truyện ngắn - nhật kí, truyện ngắn - dòng ý thức, truyện ngắn chân dung” [217].

Ở một bài viết khác, Nguyễn Thành nhận định: Truyện ngắn đương đại

đang diễn ra sự thay đổi thi pháp thể loại, trong đó “một số nhà văn đương đại

thường sử dụng lối kết cấu lắp ghép, phân mảnh. Kiểu kết cấu này dựa trên kĩ

thuật lắp ghép (collage) của nghệ thuật điện ảnh” và “hình thức truyện lồng

truyện được nhiều nhà văn đương đại sử dụng” [216]. Ngoài sự đổi mới kết

cấu, các nhà văn hiện nay còn thay đổi cách thức trần thuật bằng cách “lựa

chọn hai phương thức trần thuật từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba” và “các nhà

văn đương đại thường vận dụng tối đa sự luân phiên điểm nhìn trong cùng

một tác phẩm để tạo cho cái thế giới được viết ra đa thanh, phức hợp” [216].

25



Bên cạnh đó, một số bài viết trong những năm gần đây lại hướng sự

chú ý của mình về sáng tác của thế hệ nhà văn mới thuộc thế hệ 198x. Lối viết

“lạ” cùng với sự cách tân tiến dần đến hậu hiện đại đã góp phần khơng nhỏ

trong việc đổi mới nghệ thuật trần thuật.

Bùi Thị Quỳnh Biển qua bài viết “Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn

của thế hệ (nhà văn) 198x”, đã chỉ ra một số những hướng thay đổi trong ngôn

ngữ truyện ngắn đương đại. Tác giả đã chỉ ra sự tác động qua lại của bối cảnh

xã hội đã thúc đẩy các nhà văn trẻ khơng ngừng nỗ lực làm mới cách viết của

mình.

Tiếp theo Trần Quang Thưởng với bài “Truyện ngắn 198x, những

thành tựu bị bỏ lỡ” đã nhấn mạnh những điều sau: “Những đóng góp của

truyện ngắn 198x là khá đáng kể. Đó là việc mở rộng phạm vi, quan niệm về

thể loại bằng cách tạo ra sự kéo dãn dung lượng trang viết, gia tăng hàm

lượng hiện thực được phản ánh, tạo ra sự hỗn dung thể loại bằng cách cho

phép thâm nhập vào truyện ngắn hình bóng của tiểu thuyết, thậm chí được

phân chia chương hồi một cách khá mạch lạc. Bên cạnh việc kéo dãn dung

lượng là một phép ngược lại: co hẹp dung lượng truyện, mỗi truyện ngắn co

khi chỉ gồm 1 hoặc 2 trang in. Sự khẳng định bản ngã hiện sinh của các nhà

văn thế hệ 198x được thể hiện bởi việc chủ yếu sử dụng điểm nhìn hiện tại.

Ngơn ngữ truyện ngắn là thứ ngơn ngữ đậm chất đời thường, thậm chí là thứ

ngơn ngữ chát, ngôn ngữ blog đang ngổn ngang, trần trụi” [229] .

Nguyễn Hoài Thu qua bài viết “Truyện ngắn 8x - một thái độ sống và

sáng tạo” đã cho rằng: “Những truyện ngắn 8x có phần non nớt, vụng dại

trong cách nghĩ cũng như trong cách viết. Nhưng chính trong các sáng tác đó

các cây bút lại tỏ ra dày dặn, tỏ ra trải nghiệm, tỏ ra hiểu biết về cuộc đời,

nhân thế, về những quy luật sáng tạo văn chương và kỹ thuật ngơn từ” [221].

Ngồi ra, trong những năm gần đây, nhiều luận văn, luận án khoa học

cũng đề cập đến vấn đề đổi mới thi pháp thể loại truyện ngắn đương đại ở

26



nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể kể tên các tác giả luận văn tiêu biểu như



27



Lê Thị Thanh Huyền với Ý thức về nhịp điệu trong một số tiểu thuyết Việt Nam

thời đổi mới, Lưu Thị Thu Hà với Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam

từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại, Nguyễn Thị Minh Nguyệt

với Nghệ thuật kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Khải, Vũ Đình Phùng với

Tìm hiểu nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn đương đại (qua

truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp), Một số vấn đề đổi mới

thi pháp thể loại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại của Trần Thanh Việt,

Nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XX (1900 - 1932) của

Hoàng Thị Thu Giang, nghiên cứu sinh Hồng Dĩ Đình với đề tài Ngơn ngữ

trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Trên tư liệu truyện ngắn

ba nhà văn nữ: Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo)...

Các luận văn, luận án trên đã đề cập đến vấn đề đổi mới thi pháp thể

loại truyện ngắn thông qua việc đi sâu tìm hiểu các kiểu cốt truyện và kết cấu

mang tính cách tân như cốt truyện phân mảnh, cốt truyện có cấu trúc lỏng, cốt

truyện đảo lộn thời gian sự kiện, kết cấu tâm lý, kết cấu mở. Trong những

cơng trình này, các tác giả cũng đề cập đến sự thay đổi giọng điệu, sự lên ngôi

của giọng giễu nhại, giọng hài hước, giọng chiêm nghiệm...; đề cập đến tác

động của việc tổ chức khơng gian với việc hình thành tính cách nhân vật.

Kế thừa, tiếp thu những thành quả nghiên cứu nói trên, chúng tơi thực

hiện đề tài: Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn

học Việt Nam từ sau 1986, chúng tôi hi vọng qua cách tiếp cận, phân tích,

đánh giá của mình sẽ góp thêm một tiếng nói khiêm tốn khẳng định những giá

trị, thành tựu của mảng truyện ngắn thế sự - đời tư trong dòng chảy chung của

văn học Việt Nam.



1.3. Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật của truyện ngắn

thế sự - đời tư từ sau 1986

28



Sau 1986, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng “cởi trói” cho văn nghệ,

các văn nghệ sĩ cũng đã tự tìm cách cởi trói cho chính mình. Mảng hiện thực

đổ vỡ của thời chiến tranh nhường chỗ cho hiện thực phồn tạp của thời hậu

chiến. Những mảng màu tranh tối tranh sáng của cuộc sống hiện thời cần

ngòi bút khám phá, thể hiện của người nghệ sĩ tài hoa hơn bao giờ hết. Nếu

như giai đoạn trước 1975 hiện thực là cái đã biết trước thì sang giai đoạn

này, hiện thực lại là cái chưa thể biết trước và không thể biết hết. Nhà văn

giai đoạn trước 1975 là những nhà tiên tri trong tác phẩm của mình, họ có

quyền quyết định số phận của nhân vật đồng thời đưa ra những dự đốn

chính xác về sự phát triển của nhân vật trong hiện thực “hoàn nguyên” ấy.

Sau 1986, cùng với sự mở rộng biên độ của cái nhìn, hiện thực lúc này đây

khơng còn là một hiện thực duy nhất, rộng lớn, có thể đốn định mà là

những gì khơng còn ngun phiến, thậm chí bị cắt rời nham nhở. Đó có thể

là một khơng gian bé nhỏ: khu phố, trong căn nhà thậm chí căn phòng bé

mọn... Ở đó, con người cá nhân được mặc sức sống đúng với bản ngã của

chính mình. Nhà văn chỉ đóng vai trò là người kể chuyện, đôi khi tham gia

vào câu chuyện nhưng anh ta khơng có vai trò quyết định số phận nhân vật

hay phán truyền một chân lí nào cả. Anh ta chỉ đưa ra định hướng và kêu gọi

nhân vật, bạn đọc đối thoại cùng với mình.

Người ta nói nhiều đến sự khuôn hẹp của đề tài những năm đất nước

phải oằn mình chống chọi trong đạn bom. Những năm tháng ấy là sự lên ngôi

của “chủ nghĩa” đề tài. Những tác phẩm được ghi nhận và được công chúng

hồ hởi đón nhận phải là những sáng tác viết về hiện thực chiến tranh, kêu gọi

và cổ vũ tinh thần chiến đấu; những tác phẩm ngợi ca người anh hùng dân tộc,

những cá nhân kiệt xuất góp phần đưa đất nước thoát khỏi cảnh mưa bom bão

đạn... Những tác phẩm viết về cái bi sẽ khơng có chỗ đứng trong hồn cảnh

như vậy, nó sẽ bị người ta lạnh lùng gạt phắt. Khuynh hướng sử thi với giọng

điệu ngợi ca hiện thực và con người trở thành khuynh hướng chủ đạo của văn

29



học giai đoạn này. Sự đổ bóng của nó xuống các sáng tác thơng qua việc tái

hiện lại lịch sử với những người anh hùng đại diện cho tinh thần quyết chiến

quyết thắng của cả dân tộc (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, Mảnh trăng

cuối rừng - Nguyễn Minh Châu...).

Văn xi sau 1986 từng bước thốt khỏi từ trường của chủ nghĩa “đề

tài’, thay vào đó là sự mở đường để tìm tòi những vùng hiện thực mới và đi

vào đời sống cá thể của mỗi con người. Những năm đầu sau đổi mới, dư âm

của hai cuộc chiến tranh vệ quốc vẫn còn cho nên đâu đó trong văn xi vẫn

còn có những nhà văn miệt mài theo đuổi khuynh hướng sử thi như một cách

để ngợi ca và vãn hồi quá khứ. Tuy nhiên, từ những năm 1990 trở đi, ý thức

về sự không hợp thời của những tác phẩm chỉ chuyên chú đi ngợi ca lịch sử,

khuynh hướng thế sự - đời tư như một sự tất yếu quay trở lại trong đời sống

văn học. Nó góp phần giải quyết những băn khoăn, trăn trở của người nghệ sĩ

khi sống trong một hiện thực mới đa dạng và phồn tạp... Những nhà văn thành

công khi viết về khuynh hướng này có thể kể đến Nguyễn Minh Châu, Bảo

Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ,

Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư... Chính họ đã đem đến cho văn xi nói

chung, truyện ngắn nói riêng thời kì này một hơi thở mới lạ và thu hút đơng

đảo bạn đọc đón nhận.

Điểm qua tình hình nghiên cứu về văn học Việt Nam từ sau năm 1986

đến nay chúng tôi nhận thấy số lượng các cơng trình, bài viết trực tiếp đề cập

đến vấn đề thế sự - đời tư trong mảng văn xuôi mà cụ thể hơn là truyện ngắn

Việt Nam từ sau 1986 còn ít ỏi so với những thành tựu mà khuynh hướng này

đạt được.

Đề cập tới nội dung phản ánh của truyện ngắn sau 1986, Phạm Xuân

Nguyên trong bài “Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay” viết năm 1994 đánh

giá: “Truyện ngắn hôm nay tiếp xúc, xới lật các mảng hiện thực ở cả hai chiều

quá khứ và hiện tại để mong góp một tiếng nói định vị cho người đọc, một thái

30



độ nhìn nhận, đánh giá những việc, những người của bây giờ, nơi đây” [207].



31



Năm 2000, Bùi Việt Thắng trong chuyên luận Truyện ngắn, những vấn

đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, đã khơng trở lại những vấn đề như đề tài, chủ

đề, nhân vật, ngôn ngữ mà đi từ định nghĩa, nguồn gốc để xác định các yếu tố

đặc trưng, các kiểu truyện ngắn. Từ đó ơng cung cấp một cái nhìn khái qt

về sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam thế kỉ XX. Đây có thể xem như

một cơng trình nghiên cứu tồn diện, cơng phu về các vấn đề lý thuyết của thể

loại văn học này, có ý nghĩa định hướng lý luận quan trọng với cơng trình của

chúng tơi.

Năm 2011, Lê Huy Bắc trong bài viết “Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện

đại và truyện ngắn hậu hiện đại”, khi xác định khái niệm “chủ nghĩa hậu hiện

đại”, tác giả đồng thời xem xét truyện ngắn hậu hiện đại với quan điểm “thế

giới truyện ngắn hậu hiện đại đa dạng hơn bất cứ một biểu hiện đa dạng nào

khác. Có bao nhiêu kiểu dạng sáng tạo nghệ thuật ngôn từ văn xi được con

người biết đến thì đều lộ diện trong kho tàng truyện hậu hiện đại” [168]. Theo

nhà nghiên cứu, truyện ngắn là thể loại thể hiện sự năng động nhất trong việc

thể hiện những cách tân cả về nội dung và hình thức. Tác giả khẳng định văn

học Việt Nam sau 1975, đặc biệt sau 1986 có những “dấu hiệu” của chủ nghĩa

hậu hiện đại, việc nghiên cứu về đặc điểm truyện ngắn Việt Nam theo hướng

hậu hiện đại là rất cần thiết.

Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài viết “Văn xi sau 1975 - thử thăm dò

đơi nét về quy luật phát triển”, thừa nhận vai trò tiên quyết của truyện ngắn.

Theo ông, “truyện ngắn hiện nay đang vượt qua tiểu thuyết. Nó sớm đạt đến

tính khách quan xã hội cao hơn, nó đi thẳng vào vấn đề thân phận con người,

thế giới bên trong của con người, ý nghĩa nhân sinh, lẽ sống, con người ở đời

sâu và sắc hơn” [204].

Xu thế mới này cũng được tác giả Bùi Việt Thắng khẳng định và lí giải:

“Truyện ngắn sau 1975 tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau

chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số nghiên cứu trong nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×