Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự

cỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời

sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn

được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [94; tr.370].

Song hành cùng sự phát triển của xã hội, truyện ngắn là một trong

những thể loại có lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp. Sự biến động của xã

hội qua từng thời kì lịch sử phát triển của lồi người kéo theo sự vận động và

biến đổi của truyện ngắn thế giới nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói riêng.

Từ đầu thế kỉ XX đến nay, truyện ngắn hiện đại Việt Nam có những thay đổi

theo hướng tích cực để thích ứng với sự đổi thay của thời đại, đặc biệt từ thời

kì sau 1986, nó đã chứng tỏ là một thể loại có khả năng dung hòa được với

nhịp sống hối hả và bao quát được những vấn đề đặt ra trong xã hội ngày nay.

1.1. Quan niệm chung về phương thức trần thuật trong truyện

ngắn thế sự - đời tư

1.1.1. Khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tư

Do tác động của hoàn cảnh chiến tranh, nội dung ưu tiên hàng đầu trong

các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là những biến cố lịch sử

trọng đại, nhiệm vụ của đời sống chính trị. Khuynh hướng sử thi vì thế nổi lên

như một khuynh hướng tiêu biểu và duy nhất của văn học giai đoạn này. Sau

đổi mới, văn xi từng bước thốt ra khỏi áp lực của “chủ nghĩa đề tài” bằng

kinh nghiệm cá nhân đột phá vào các vùng hiện thực mới, chủ quan hóa cách

nhìn đối với những hiện thực vốn quen thuộc. Giá trị tác phẩm bây giờ khơng

còn phụ thuộc vào đề tài nữa mà do cách xử lí nghệ thuật của nhà văn quyết

định. Tương ứng với các mảng hiện thực lớn cùng cảm hứng sáng tác của nhà

văn là những khuynh hướng: sử thi, thế sự - đời tư và triết luận. Trong luận án

này, chúng tôi đặc biệt dành sự quan tâm đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu truyện

8



ngắn thế sự - đời tư, lí giải những nguyên nhân hình thành, phát triển và sức

hút mạnh mẽ của khuynh hướng này đối với các nhà sáng tác.

Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa thế sự là “việc

đời”. Theo cách hiểu khái quát đó truyện ngắn thế sự là truyện ngắn viết về

cuộc sống đời thường, về thế thái nhân tình, về con người của thực tại.

Những truyện ngắn viết theo khuynh hướng này chú ý khẳng định giá trị thẩm

mĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quý trên

hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người. Thế sự làm cho truyện

ngắn giàu tính thời sự, mở rộng phạm vi phản ánh của hiện thực đời sống.

Đây là một thể tài đã có truyền thống trong lịch sử văn học dân tộc. Từ các

bậc đại thi hào xưa như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến đã

khéo léo đưa vào trong sáng tác của mình bức tranh xã hội đương thời với sự

thối nát của giai cấp thống trị và nỗi bi thương của những người dân nghèo

khổ. Khuynh hướng này chỉ bị chững lại những năm 1945 - 1975 do văn học

dành sự ưu tiên cho những tác phẩm mang khuynh hướng sử thi, phù hợp với

hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Sang đến giai đoạn 1975, cảm hứng này tiếp

tục được “phục sinh” và có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bàn về thế

sự là bàn đến các nội dung: đặc tả bức tranh hiện thực đời sống muôn mặt

(hiện thực lớn - cuộc sống lao động kiến thiết và khôi phục đất nước; hiện

thực nhỏ - cuộc sống hàng ngày của mỗi con người) đồng thời đặc sắc của

những sáng tác viết theo khuynh hướng này còn ở chỗ nó phát hiện ra những

khiếm khuyết trong cơ chế xã hội thời mở cửa, dóng lên hồi chuông cảnh báo

kịp thời qua những mảnh hiện thực bị cắt rời, nham nhở.

Đời tư hay đời sống cá nhân được hiểu là “cuộc sống của một cá nhân,

đặc biệt được xem như toàn bộ sự lựa chọn cá nhân góp phần nhận dạng tính

cách một người” (Theo Từ điển Wikipedia tiếng Việt). Truyện ngắn mang cảm

hứng đời tư là truyện ngắn về số phận con người cá nhân. Nó hướng đến đời

sống tinh thần phong phú, phức tạp của con người với những ham mê, dục

9



vọng thường tình, những khắc khoải về số phận, những cảm xúc gần gũi, đời

thường. Những tác phẩm thuộc khuynh hướng này thường lấy đề tài trực tiếp

từ đời sống hiện tại. Điểm tựa cho kết cấu không phải là các biến cố lịch sử

mà là những chuyện hàng ngày, những quan hệ nhân sinh mn thuở, những

ứng xử có tính phổ biến hay đột biến của con người. Qua đó nhà văn săn tìm

ý thức về nhân cách. Con người cá nhân, có lẽ, đã xuất hiện trong các thi

phẩm của các thi nhân từ rất lâu và có thể xem giai đoạn 1930 - 1945 với sự

xuất hiện của phong trào Thơ mới đã đánh dấu sự thức tỉnh và ý thức về bản

thể mạnh mẽ nhất: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất - Khơng có chi bè bạn

nối cùng ta” (Xuân Diệu). Giai đoạn 1945 - 1975 do hoàn cảnh đặc thù con

người cá nhân chìm khuất nhường chỗ cho con người cộng đồng, lịch sử gọi

tên những người anh hùng mang những nét đẹp thời chiến trận, sử thi phủ lên

các sáng tác văn học tấm áo choàng của lịch sử, số phận của mỗi cá nhân như

một lẽ tất yếu, trùng khít với số phận của cộng đồng. Câu hỏi “ta vì ai?” vì thế

được ưu tiên hàng đầu. Khi cuộc sống trở về nhịp quay bình thường như nó

phải có, văn học trở về với đời sống cá nhân đó là một quy luật tất yếu. Văn

học sau 1975 lấy con người làm tâm điểm soi chiếu lịch sử. Con người từ

điểm nhìn lí tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư. Dòng chảy đời

thường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người một diện mạo

mới; phong phú, phức tạp, nhiều bí ẩn và nhà văn trong nỗ lực khám phá,

chiếm lĩnh đời sống nhận ra mỗi cá thể là “một tiểu vũ trụ” không thể biết hết,

không thể biết trước. Để con người hiện diện với các quan hệ nhân sinh cụ

thể, nhiều chiều, đó là cách xử lí phổ biến. Con người đời thường với những

ẩn mật, khuất lấp hiện lên muôn màu muôn vẻ: thực trạng nhân tính suy thối,

con người ham mê dục vọng tầm thường, con người chìm sâu vào hào quang

quá khứ... nhưng tiêu biểu và nổi bật hơn cả chính là con người tìm được cách

khẳng định giá trị tự thân của mình, nói khác đi là con người có giá trị tự thân.

Đây được xem như là một trong những phát hiện mang tính nhân bản về con

10



người của các nhà văn giai đoạn này.

Từ những điều đã trình bày ở trên có thể hiểu truyện ngắn thế sự - đời

tư là truyện ngắn viết về cuộc sống hàng ngày và số phận của mỗi con người

cá nhân trong dòng chảy vô thường ấy. Sáng tác theo khuynh hướng thế sự đời tư, người cầm bút xem cuộc sống hàng ngày đang diễn ra là đối tượng

sinh động và thú vị, số phận con người cá nhân là một đích đến của văn

chương. Nói cách khác, nó chứng tỏ tinh thần nhân bản và ý thức dân chủ của

nhà văn. Sự phát triển của khuynh hướng văn học này gắn với những thay đổi

trong quan niệm về đối tượng, chức năng của văn chương, những thay đổi

trong hứng thú sáng tác của nhà văn và tâm thế tiếp nhận của công chúng.

Thể tài này không phải đến văn học sau 1975 mới có mà nó đã manh nha hình

thành thậm chí có thời kì phát triển đạt được nhiều thành tựu trước đó. Tuy

nhiên sự vận động của thể tài truyện ngắn này thăng giáng theo nhịp chuyển

dời của lịch sử và để đến thời kì sau đổi mới, hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận

lợi, nó một lần nữa được phục hồi và hứa hẹn sẽ có những thành tựu đáng

mong đợi.

Trong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tư

như một công cụ khảo sát diện mạo một thể loại văn học dưới góc nhìn thể

tài. Cho nên, truyện ngắn thế sự - đời tư trước hết cũng mang những đặc trưng

thi pháp của thể loại truyện ngắn, một thể loại tự sự hiện đại độc đáo. Thứ

nữa, nó khai thác thể tài thế sự - đời tư dưới một góc nhìn, cách tiếp cận riêng,

mang hơi thở của lịch sử, thời đại, những tìm tòi, sáng tạo và tư tưởng riêng

của nhà văn. Xét đến cùng, truyện ngắn thế sự - đời tư cũng là một loại hình

diễn ngơn tự sự gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan, sản phẩm của một

hình thái ý thức xã hội, lịch sử mà nền tàng là tinh thần dân chủ, nhân văn, đối

thoại, hồi nghi. Thực tế đây khơng hẳn là một khái niệm mới mà chúng tôi đi

nghiên cứu một thể loại trong tiến trình lịch sử văn học, chịu ảnh hưởng trong

các tiêu chí phân chia của trường phái Pospelov. Với khái niệm cơng cụ này,

11



chúng tơi sẽ có dịp tìm hiểu kỹ hệ thống thi pháp của thể tài truyện ngắn này

ở nhiều cấp độ, phương diện như trần thuật, kết cấu, ngôn ngữ, để thấy những

thành tựu, đóng góp, cả hạn chế, nhược điểm, nhưng quan trọng hơn là sự vận

động, phát triển của thể tài trong lịch sử văn học và sự sáng tạo của các nhà

văn đổi mới.

1.1.2. Quan niệm chung về phương thức trần thuật

Với bất cứ tác phẩm nào thuộc loại hình tự sự (truyện) thì trần thuật

ln là yếu tố then chốt, phương diện cơ bản. Theo đó, trần thuật thường được

hiểu là “việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự

kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định”

[94; tr.364]. Cho nên, có thể nói rằng trần thuật chính là việc tổ chức tác

phẩm tự sự theo một điểm nhìn, cách nhìn nhất định. Trần thuật gắn liền với

tất cả các yếu tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm như bố cục, kết cấu,

tổ chức không gian, thời gian, ngơn ngữ, giọng điệu. Nó là một hệ thống tổ

chức phức tạp “nhằm đưa hành động, lời nói của nhân vật vào đúng vị trí của

nó để người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý định tác giả (mối quan hệ giữa

câu chuyện và cốt truyện)” [94; tr.364].

Việc trần thuật bao giờ cũng gắn với một người kể và điểm nhìn nhất

định. Một tác phẩm tự sự có thể được kể theo người kể chuyện ở ngôi thứ ba,

đứng ngồi quan sát, ngơi thứ hai hoặc ngơi thứ nhất, tự thuật. Điểm nhìn trần

thuật có thể thay đổi linh hoạt, đan cài, di chuyển, luân phiên trong một tác

phẩm. Có nhiều cách trần thuật gắn với người trần thuật như trần thuật ở ngôi

thứ ba khách quan, trần thuật theo ngôi thứ nhất do một nhân vật trong tác

phẩm đảm nhiệm, trần thuật bằng dòng ý thức, độc thoại nội tâm. Mỗi điểm

nhìn này gắn với một tọa độ khơng gian, thời gian tạo thành trường nhìn, thể

hiện cách nhìn, cách cảm, lập trường, tư tưởng của người trần thuật và của tác

giả. Mỗi sự thay đổi sẽ đem đến một sắc thái, bình diện miêu tả, tái hiện, hay

tái tạo thế giới khác nhau, đem đến cảm xúc, ý nghĩa đa tầng lớp. Ngoài ra,

12



cách thành phần trần thuật còn gồm khơng gian, thời gian, giọng điệu, ngôn

ngữ, tiết tấu, nhịp điệu… Những yếu tố này tương tác, kết hợp hài hòa tạo nên

cấu trúc trần thuật nghệ thuật trong tác phẩm tự sự. Tuy nhiên, hai yếu tố then

chốt liên quan đến phương thức trần thuật là người kể chuyện và điểm nhìn

trần thuật.

Người kể chuyện hiểu theo nghĩa đen chính là người kể câu chuyện cho

người đọc nghe. Đây là nhân vật trung tâm của tự sự vì trên danh nghĩa tồn

bộ văn bản tự sự là sản phẩm của họ tạo ra. Bản thân người kể chuyện với các

yếu tố về chỗ đứng, điểm nhìn, cách thức kể lại câu chuyện sẽ tác động mạnh

đến cấu trúc truyện kể cũng như mạch truyện trong tác phẩm. Người kể

chuyện có vị trí, vai trò đặc biệt trong nghệ thuật tự sự. Nó chính là một

phương diện quan trọng thể hiện chủ thể, bởi thái độ của người kể chuyện với

thế giới câu chuyện được kể thống nhất, hoặc ít nhất cũng thống nhất ở một

phần, một phương diện nào đó với quan điểm, với lập trường tư tưởng của tác

giả. Vì vậy, mỗi loại hình diễn ngôn tự sự đều phải xây dựng một người kể

chuyện đặc thù để kể câu chuyện mà chủ thể muốn gửi tới đối tượng tiếp

nhận. R.Barthes từng nói “tự sự là cái có thể chuyển ngữ được mà khơng phải

chịu một tổn hại cơ bản nào”, và vai trò chuyển ngữ ấy đặt lên người kể

chuyện, điểm khác biệt cơ bản của tác phẩm tự sự với một bài thơ trữ tình hay

một diễn ngơn triết học.

Trong hệ thống trần thuật của một diễn ngôn tự sự, mối liên hệ giữa các

yếu tố người kể chuyện - nhân vật - người nghe được thiết lập trong một

chỉnh thể của chiến lược giao tiếp thể loại. Mối quan hệ hoàn chỉnh của ba

yếu tố đã đặt ra một vấn đề khác gắn bó chặt chẽ với người kể chuyện - vấn

đề điểm nhìn. Mỗi nhân vật người kể chuyện bao giờ cũng gắn với một vị trí,

một chỗ đứng nhất định trong khơng, thời gian, trong mơ hình cấu trúc truyện

kể của thể loại, tạo nên những điểm nhìn khác nhau. Như vậy, điểm nhìn nghệ

thuật gắn liền với người kể chuyện. Nó thể hiện rõ vị trí của người kể với câu

13



chuyện được kể, từ đó xác định quyền năng của người kể chuyện trong tác

phẩm. Do đó, điểm nhìn nghệ thuật gắn với cái nhìn của chủ thể, mối quan

tâm của anh ta với các vấn đề được kể, tạo ra cái nhìn nghệ thuật cho tác

phẩm. Mỗi điểm nhìn thể hiện một vai, vị thế phát ngơn nào đó của chủ thể.

Trong nghệ thuật tự sự, vấn đề điểm nhìn thuộc về các kỹ thuật, nguyên tắc tự

sự. Nó là một trong những vấn đề then chốt của kết cấu tác phẩm, “cung cấp

một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc

điểm phong cách ở trong đó” [94; tr.113]. Tuy nhiên, nhìn từ hệ hình cấu trúc

văn bản tự sự, nghệ thuật kể chuyện có ba điểm nhìn: điểm nhìn nhân vật,

điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn của người đọc. Khi truyện kể trở

nên phức tạp hơn thì điểm nhìn thứ tư nảy sinh từ sự khác biệt rõ rệt giữa

người kể chuyện và tác giả.

Trong tác phẩm tự sự, điểm nhìn có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố cơ

bản nhất tạo nên phương thức trần thuật của văn bản, là phương tiện để tổ

chức, kết cấu văn bản nghệ thuật. Do đó, dựa vào việc sử dụng điểm nhìn mà

người ta phân chia ra nhiều phương thức tự sự/ trần thuật khác nhau. Theo Từ

điển thuật ngữ văn học thì “phương thức trần thuật được cấu thành bởi sự

phối hợp giữa tiêu cự trần thuật và cách kể” [94; tr.267]. Tiêu cự trần thuật có

thể chia thành hai loại: trần thuật biết hết - điểm nhìn tồn tri vầ trần thuật

theo điểm nhìn nhân vật - điểm nhìn hạn tri. Còn tư cách kể gắn với người kể

chuyện nên có thể chia thành người kể lộ diện (kể theo ngôi thứ nhất) hoặc

người kể ẩn tàng (kể theo ngơi thứ ba hoặc ngơi thứ hai).

Có rất nhiều quan niệm chia phương thức trần thuật thành nhiều loại

hình khác nhau. Song trên những điểm dị biệt vẫn có nét đại đồng là chủ yếu

dựa vào cách kể ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, gắn với cái nhìn tồn tri và

hạn tri, người kể lộ diện và ẩn tàng. Theo đó, nhìn chung, chúng ta có thể chia

thành một số phương thức sau:

1. Kể theo ngôi thứ ba, khách quan, người kể biết hết, tiêu cự bằng

14



không.



15



2. Kể theo ngôi thứ ba, người kể biết hết, có bình luận.

3. Kể theo ngơi thứ ba, chủ quan do vận dụng điểm nhìn của nhân vật

(tiêu cự bên trong).

4. Kể theo ngôi thứ nhất của người kể bàng quan, đứng ngồi.

5. Kể theo ngơi thứ nhất có bình luận.

6. Kể theo ngơi thứ nhất mang điểm nhìn của người trong cuộc [94;

tr.267-268].

Bản thân sự phân chia thành các phương thức trần thuật trên đây đã thể

hiện quá trình vận động, phát triển của thể loại tự sự trong lịch sử văn học.

Khảo sát nghệ thuật tự sự trong tiến trình văn học chúng tơi nhận thấy phương

thức trần thuật theo ngôi thứ ba xuất hiện khá sớm, từ trong văn học dân gian

và trung đại, còn phương thức trần thuật theo ngơi thứ nhất, từ điểm nhìn bên

trong xuất hiện muộn hơn, bắt đầu từ các tác phẩm văn học hiện đại. Ngay

trong cùng một phương thức trần thuật theo ngơi thứ ba thì các tác phẩm tự sự

dân gian, trung đại chủ yếu theo các phương thức 1 và 2, phương thức 3 đến

thời cận, hiện đại mới có. Bởi chỉ khi xuất hiện ý thức cá nhân mạnh mẽ, rõ

rệt, biểu hiện trực tiếp, cụ thể thì điểm nhìn bên trong mới được sử dụng trong

nghệ thuật tự sự, để kể truyện đời và truyện của mình bằng góc nhìn, kinh

nghiệm, tư tưởng của cá nhân. Khái niệm “tiêu cự” trong phương thức trần

thuật giúp khu biệt được đặc trưng của từng thời kỳ, giai đoạn văn học khác

nhau có cùng một hình thức trần thuật: ví dụ như việc trần thuật theo ngơi thứ

ba trong văn học trung đại và hiện đại.

1.1.3. Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự, đời tư

Tìm hiểu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư, chúng

tôi vẫn sử dụng khái niệm phương thức trần thuật và các hình thức phương

thức trần thuật của tự sự nói chung. Tuy nhiên, khảo sát một thể loại tự sự cỡ

nhỏ là truyện ngắn, gắn với thể tài thế sự - đời tư trong bối cảnh văn học Việt

Nam những năm đổi mới (từ sau 1986), chúng tôi xem xét những phương

16



thức trần thuật đặc trưng được sử dụng, lý giải cặn kẽ hơn về các phương thức

trần thuật đó. Từ đó, chúng tơi sẽ bước đầu nhận diện đặc trưng thể loại gắn

với thể tài sẽ chi phối đến hệ thống thi pháp, ngôn ngữ nghệ thuật, mà với tự

sự thì quan trọng bậc nhất vẫn là trần thuật, sự kể, cách kể, chiến lược kể.

Bên cạnh đó, chúng tơi cũng mở rộng khảo sát, tìm hiểu mọi yếu tố chi

phối đến các phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư như tình

huống/ sự kiện, kết cấu, ngơn ngữ, giọng điệu… để có cái nhìn tồn tri, đa

chiều, thấu đáo, đặt phương thức trần thuật trong chỉnh thể tổ chức nghệ thuật

của tác phẩm tự sự. Do đó, khái niệm phương thức trần thuật của truyện ngắn

thế sự - đời tư được hiểu linh động, mang tính chất cơng cụ như một cách tiếp

cận thể loại văn học này trong giai đoạn văn học đổi mới. Từ đó, chúng tơi đi

khu biệt, chỉ ra những đặc điểm riêng, mang tính đặc thù trong nghệ thuật trần

thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư với các kiểu thể tài khác như lịch sử, khu

biệt trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư trong giai đoạn văn học đổi mới

sau 1986 với truyện ngắn nói riêng và các thể loại tự sự nói trong trong giai

đoạn văn học sử thi 1945-1975.

Vì thế, chúng tôi không định nghĩa duy danh hay đưa ra khái niệm mới.

Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư là yếu tố hạt nhân, đặc

trưng nổi bật để chúng tơi tìm hiểu, khảo sát, diễn giải và tái hiện một phần

diện mạo của thể loại trong sự vận động của một giai đoạn văn học có nhiều

biến đổi mang tính bước ngoặt. Và việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các

phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư thời kỳ từ sau 1986 đến

nay cũng là một cách thay đổi tọa độ, điểm nhìn, phương pháp tiếp cận các

hiện tượng trong lịch sử văn học: khơng đi theo lối mòn của lý thuyết phản

ánh mà tìm hiểu bề sâu cấu trúc thể loại trong sự phát triển, thay đổi. Do đó,

trần thuật là một cách thức đặc sắc, đặc thù và hữu dụng nhất để tái tạo hiện

thực trong các truyện ngắn, thể loại vẫn được coi là khái quát thế giới từ một

lát cắt, khoảnh khắc.

17



1.2. Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôi

Việt Nam từ sau 1986

Vào những năm đầu của thế kỉ XX, phương thức trần thuật trong các

tác phẩm tự sự đã được giới nghiên cứu nước ta quan tâm và chú ý. Theo cách

hiểu truyền thống mà Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, phương thức trần

thuật được hiểu là: “Phương thức trần thuật được cấu thành bởi sự phối hợp

giữa tiêu cự trần thuật và tư cách kể. Tiêu cự trần thuật có thể chia thành hai

loại: trần thuật biết hết và trần thuật theo điểm nhìn nhân vật. Tư cách kể có

thể chia thành người kể lộ diện (kể theo “ngôi thứ nhất”) hoặc người kể ẩn

tàng (kể theo “ngôi thứ ba” hoặc “ngôi thứ hai”). Hai yếu tố này kết hợp với

nhau tạo thành các phương thức tự sự khác nhau theo quan điểm của từng

chuyên gia...” [94; tr.267]. Tuy nhiên, trong q trình nghiên cứu chúng tơi

thấy phương thức trần thuật được phát triển theo nghĩa rộng hơn chứ khơng

chỉ bó hẹp trong khn khổ của “ngơi kể” mà Từ điển thuật ngữ văn học đã

nêu. Khái niệm phương thức trần thuật mà chúng tôi sử dụng là một phương

diện cơ bản của tự sự, bao gồm rất nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức và cấu

trúc một văn bản. Ở đây, chúng tôi bước đầu ghi nhận một số xu hướng nghệ

thuật trần thuật của truyện ngắn đương đại như sau: sự đa dạng hóa điểm nhìn

trần thuật; sự gia tăng hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất; ngôn ngữ trần

thuật giàu chất hiện thực đời thường; nhịp điệu trần thuật nhanh, tính thơng

tin cao; truyện ngắn vận dụng nhiều hình thức trần thuật, trong đó tính chất đa

thanh của giọng điệu trần thuật biểu hiện ở sự đan cài các giọng điệu khác

nhau. Khác với văn học các giai đoạn trước, ta sẽ bắt gặp trong truyện ngắn từ

sau 1986 đến nay những chất giọng đặc biệt, đặc trưng như: giọng điệu mỉa

mai, châm biếm, giọng điệu hoài nghi bên cạnh những chất giọng truyền

thống như giọng khách quan, giọng ngợi ca,...

Trong lí thuyết tự sự học thì phương thức trần thuật là một phạm trù

nghiên cứu khá phức tạp. Nó bắt đầu manh nha từ chủ nghĩa hình thức Nga,

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×