Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9. 22 .01 .21

Ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9. 22 .01 .21

Tải bản đầy đủ - 0trang

LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết

quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học cao.

Các tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Tơi xin chịu hồn

tồn trách nhiệm về cơng trình nghiên cứu của mình.

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận án



Tạ Hương Trang



LỜI CẢM ƠN

Luận án được hồn thành, tơi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc, chân

thành đến PGS.TS Lê Quang Hưng, người thầy hướng dẫn khoa học tận tình,

ln sẵn sàng chia sẻ quan điểm, gợi mở nhiều ý tưởng hay, mới lạ, giúp tơi

có thêm nhiều tri thức lý luận và phương pháp tư duy, làm việc khoa học.

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Khoa

học xã hội, phòng Quản lý Đào tạo, các thầy cô trong khoa Văn học đã

thường xuyên động viên, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu

của tơi.

Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Hải

Phòng, Khoa Ngữ văn – Địa lí nơi tơi cơng tác đã giúp đỡ tơi rất nhiều về mặt

thời gian để tơi hồn thành chương trình học và luận án.

Cảm ơn bố mẹ, những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, bạn

bè,... đã sẻ chia, giúp đỡ tơi trong suốt q trình nghiên cứu và hoàn thành

luận án.

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận án



Tạ Hương Trang



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU......................................... 8

1.1.Quan niệm chung về phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự - đời tư.....8

1.2.Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xi Việt Nam từ sau

1986........................................................................................................................... 17

1.3.Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư từ

sau 1986..................................................................................................................... 26

Chương 2: TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG SỰ VẬN ĐỘNG,

PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986................................ 33

2.1.Những tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn học

Việt Nam từ sau 1986................................................................................................ 33

2.2.Khái quát truyện ngắn thế sự - đời tư trong nền văn xi Việt Nam từ sau 198656

Chương 3: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT, TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG VÀ KẾT

CẤU TRONG TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986...................71

3.1.Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật.......................................................................... 71

3.2.Tổ chức tình huống.............................................................................................. 92

3.3.Nghệ thuật tổ chức kết cấu................................................................................ 101

Chương 4: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN

NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986............................................................ 119

4.1.Ngôn ngữ trần thuật........................................................................................... 119

4.2.Giọng điệu trần thuật......................................................................................... 132

KẾT LUẬN............................................................................................................ 148

DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CƠNG BỐ CĨ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN......................................................................................... 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 152



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

1.1. Trong quan niệm của lí thuyết tự sự học hiện đại thì tiểu thuyết là

thể loại tự sự cỡ lớn, có khả năng miêu tả bức tranh hiện thực rộng lớn và số

phận của một hay nhiều người. Trong khi đó, điều làm nên nét khác biệt giữa

truyện ngắn với tiểu thuyết hay những thể loại tự sự khác chính là ở chỗ dung

lượng ngắn, tập trung miêu tả một sự kiện, một tình huống hoặc một khoảnh

khắc nào đó xảy ra trong cuộc đời của nhân vật. Trong loại hình văn xi tự

sự, truyện ngắn được đánh giá là một thể loại có tính thích ứng cao với thời

đại nó tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường như

ngày nay, truyện ngắn phù hợp với thị hiếu của độc giả bận rộn khi họ khơng

có nhiều thời gian dành cho việc nhâm nhi chiêm nghiệm một tác phẩm.

Những ưu điểm kể trên khiến cho truyện ngắn là một trong những thể loại có

thể đáp ứng được u cầu đòi hỏi của thời đại đổi mới, của độc giả sau 1986.

Lựa chọn mốc 1986 chúng tôi không chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tác

phẩm mà hơn hết đó là mốc thời gian quan trọng diễn ra Đại hội VI của Đảng.

Bắt đầu từ đây văn nghệ thực sự được giải phóng kéo theo sự khai phóng các

thể loại khác về cả nội dung và hình thức biểu hiện. Mặt khác, đây cũng là

mốc thời gian ghi nhận những cách tân đáng chú ý của các thể loại văn học,

những tác phẩm truyện ngắn thực sự có giá trị cũng bắt đầu ra đời từ đây.

Văn xi nói chung, truyện ngắn giai đoạn sau năm 1986 nói riêng thực

sự đã tìm được cho mình một hướng đi mới dù đầy chơng gai song lại đạt

được những thành tựu đáng ghi nhận. Về nội dung, nó bắt đầu đi sâu vào thế

giới nội tâm của con người để tìm hiểu và khái quát thành tâm lí điển hình của

thời đại. Những mảng như chiều sâu tâm linh, cõi vô thức hay sự cô đơn bản

thể, cơ đơn nghệ sĩ... đều được nó nghiêm túc khám phá và sáng tạo. Về hình

thức, khác với quan niệm truyền thống, truyện ngắn sau 1986 không ngừng nỗ

lực kiếm tìm những phương thức biểu hiện phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của

1



văn học. Bên cạnh những cây bút vẫn kiên trì cách viết truyện truyền thống

thì một loạt các cây bút với ý thức tự làm mới mãnh liệt đã ra đời như:

Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hồi, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương...

1.2. Ở một phương diện khác, khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi căn cứ

vào chủ đề và cảm hứng của văn xi sau 1986 nổi bật lên ba khuynh hướng

chính, đó là: khuynh hướng sử thi, khuynh hướng thế sự - đời tư và khuynh

hướng triết luận. Trong ba khuynh hướng ấy thì khuynh hướng thế sự - đời tư

được đánh giá là khuynh hướng thu hút nhiều người tham gia viết nhất, trở

thành niềm say mê hứng khởi sáng tác ở nhiều cây bút truyện ngắn xuất sắc.

Văn học trước 1975 quan tâm đến nội dung “viết cái gì” của các nhà

văn. Chính vì thế mà sự tỏa bóng của “chủ nghĩa đề tài” khá rộng lớn trong

văn xuôi. Những đề tài như ca ngợi cuộc chiến vĩ đại của dân tộc, những tấm

gương người tốt, việc tốt được đề cao còn những đề tài đi sâu vào miêu tả số

phận của cá nhân hay đời sống cá thể riêng biệt thì sẽ bị cấm đốn thậm chí

nhiều nhà văn bị treo bút trong một thời gian dài vì những gì họ viết ra khơng

đúng với tinh thần của thời đại. Song sang đến giai đoạn sau 1986, nhờ lời

kêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà văn học được “cởi trói”. Cảm

hứng sử thi tồn tại trong suốt những năm tháng chiến tranh và một vài năm

sau đổi mới đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự - đời tư khi con người dần

trở về với cuộc sống thường nhật. Lựa chọn cảm hứng này trong sáng tác, các

nhà văn được mặc sức khám phá thế giới mn hình mn vẻ với những nhân

dạng tồn tại trong hiện thực đó. Mặt khác, nó cũng chi phối đến các phương

diện khác thuộc trần thuật học trong tác phẩm mà cụ thể là điểm nhìn trần

thuật, tổ chức tình huống, kết cấu, ngơn ngữ và giọng điệu... Có thể thấy đây

là một hướng đi dù khơng có nhiều cách tân quyết liệt về mặt hình thức nhưng

đã khắc tạc trên cây cổ thụ văn chương nỗi đằm sâu của những nhà văn sống

có trách nhiệm và nặng lòng với đời sống con người.

1.3. Nếu như văn học giai đoạn trước năm 1975 quan tâm đến nhà văn

2



thể hiện nội dung gì trong sáng tác của mình, những nội dung ấy có phù hợp

với lí tưởng của thời đại hay khơng, có giá trị cổ vũ tinh thần và ý chí của con

người trong thời đại ấy như thế nào... thì giai đoạn từ sau 1986, cái mà văn

học và công chúng quan tâm là nhà văn - anh đã làm mới “đứa con tinh thần”

của mình như thế nào, nói một cách khác là anh đã có thêm tiếng nói, cách

nói gì. Trong xu thế đổi mới, những gì anh viết ra nếu bị coi là cũ kĩ sẽ khơng

có chỗ đứng trong lòng bạn đọc, vì thế nỗ lực cách tân và làm mới trở thành

tuyên ngôn trong sáng tác của họ. Theo đó, nghệ thuật trần thuật trong tác

phẩm được đề cao hơn bao giờ hết, nó là “sự trình bày liên tục bằng lời văn

các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một

cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định” (Trần Đình

Sử). Trong cấu trúc tác phẩm văn xi nói chung, truyện ngắn nói riêng thì

trần thuật bao gồm các yếu tố cấu thành nên một tác phẩm hoàn chỉnh, đồng

thời cũng tạo nên một “chất” khác lạ để phân biệt sáng tác của người này với

người khác, góp phần tạo nên cái “tầm” của nhà văn. Nhà văn nếu lựa chọn

hình thức trần thuật phù hợp sẽ đem lại hiệu quả trong cách truyền tải nội

dung, tư tưởng của tác phẩm.

Với những lí do trên, tìm hiểu Phương thức trần thuật của truyện ngắn

thế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 chính là một cách để phân

tích, đánh giá đầy đủ những đặc điểm, thành tựu của truyện ngắn Việt Nam

thời kì đổi mới trên các phương diện: đối tượng, nội dung phản ánh và hình

thức nghệ thuật. Bên cạnh đó chúng tơi mong muốn kết quả nghiên cứu của

luận án này sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tác

nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và phổ thơng.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu, đánh giá đặc điểm phương thức trần thuật của truyện ngắn

thế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 để khẳng định sự thống

3



nhất biện chứng giữa đối tượng, nội dung biểu hiện với phương thức thể hiện

trong thể loại truyện ngắn, khẳng định rõ thêm thành tựu của văn học Việt

Nam thời kì đổi mới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Đưa ra quan niệm về truyện ngắn thế sự - đời tư từ góc nhìn của lí

thuyết tự sự học hiện đại, từ sự khu biệt giữa truyện ngắn thế sự - đời tư với

các khuynh hướng truyện ngắn khác như truyện ngắn theo khuynh hướng sử

thi, truyện ngắn theo khuynh hướng triết luận.

- Chỉ ra những cơ sở cho sự phát triển của truyện ngắn theo khuynh

hướng thế sự - đời tư, tái hiện diện mạo của truyện ngắn theo khuynh hướng

này trong văn học Việt Nam từ sau 1986.

- Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua các phương

diện như: điểm nhìn trần thuật, cách tổ chức tình huống, kết cấu.

- Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua ngôn ngữ

và giọng điệu trần thuật.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn trong

văn học Việt Nam hiện đại (từ sau 1986 đến nay). Từ những khảo sát trên

thực tế tác phẩm, chúng tôi phân loại truyện ngắn thành 3 khuynh hướng: sử

thi, thế sự - đời tư và triết luận. Cảm hứng sáng tác chủ đạo là tiêu chí để

chúng tơi phân loại truyện ngắn thành các khuynh hướng như vậy. Trong đó

chúng tơi đặc biệt quan tâm tìm hiểu sự vận động và phát triển của truyện

ngắn thế sự - đời tư, lí giải những đặc điểm riêng của thể tài truyện ngắn này

trên cơ sở những lí thuyết chung về thể loại. Luận án tập trung vào phương

thức trần thuật bao gồm: điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống, kết cấu,

ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.

4



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9. 22 .01 .21

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×