Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
giai đoạn 2013 - 2017

giai đoạn 2013 - 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

năm 2016 được thống kê ở bảng 1.2.

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất khoai tây ở các châu lục năm 2017



Châu Á



Diện tích

(triệu ha)

10,21



Năng suất

(tấn/ha)

19,17



Sản lượng

(triệu tấn)

195,67



Châu Âu



5,37



22,69



121,76



Châu Mỹ



1,80



24,58



44,17



Châu Phi



1,89



13,22



25,01



Châu Đại dương



0,38



41,08



1,57



Châu lục



(Nguồn: FAO, 2019) [140]

Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy năm 2017, châu Á có diện tích khoai tây lớn nhất

thế giới (10,21 triệu ha), gần đây khoai tây ở vùng này có xu hướng phát triển

mạnh. Song năng suất khoai tây của châu Á còn thấp (năm 2017: 19,17 tấn/ha), thấp

hơn năng suất trung bình của thế giới và một số châu lục khác. Tuy nhiên do diện

tích trồng lớn nên sản lượng khoai tây của châu Á cao nhất thế giới (năm 2017 đạt

195,67 triệu tấn), chiếm 50,56% sản lượng khoai tây toàn thế giới. Khoai tây châu

Á được trồng tập trung ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn

Quốc, Mông Cổ...

Khoai tây là cây trồng quan trọng trong khẩu phần ăn và là nguồn dinh

dưỡng rất tốt cho nhiều người dân châu Âu. Vì thế khoai tây là cây trồng chính và

được trồng nhiều ở các nước như Ba Lan, Đức, Pháp, Hà Lan…Năm 2017 diện tích

trồng khoai tây của châu Âu là 5,37 triệu ha, chiếm 27,82% diện tích khoai tây toàn

thế giới, nhưng do năng suất cao (22,69 tấn/ha) nên sản lượng khoai tây của châu

Âu đạt cao nhất năm 2017 đạt 121,76 triệu tấn, chiếm 31,31% sản lượng khoai tây

thế giới.

Năm 2017, diện tích trồng khoai tây của châu Mỹ và châu Phi tương đương

nhau (1,80 - 1,85 triệu ha), nhưng năng suất khoai tây châu Mỹ cao (24,58 tấn/ha)

nên sản lượng đạt 44,17 triệu tấn. Trong khi đó năng suất khoai tây của châu Phi rất

thấp (13,22 tấn/ha) nên sản lượng chỉ đạt 24,01 triệu tấn, gần bằng 1/2 sản lượng

của châu Mỹ. Châu Đại dương có diện tích khoai tây thấp nhất (0,38 triệu ha), năng



22

suất khoai tây châu lục này lớn nhất (41,08 tấn/ha). Song do diện tích ít nên sản

lượng khoai tây của châu lục này thấp nhất thế giới (1,57 triệu tấn).

1.3.1.2. Tình hình sản xuất khoai tây của Việt Nam

Trước những năm 70 của thế kỷ XX, diện tích trồng khoai tây ở nước ta chỉ

khoảng 2.000 ha. Sau năm 1970, khoai tây mới được chính thức quan tâm và xem

như là một cây lương thực quan trọng (Trương Văn Hộ, 1992) [15]. Thời điểm Việt

Nam có tổng diện tích trồng khoai lớn nhất là năm 1979 với 104.700 ha, sau đó

giảm dần. Tình hình sản xuất khoai tây của Việt Nam 5 năm gần đây được thể hiện

ở bảng 1.3.

Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Việt Nam

giai đoạn 2013 - 2017

Diện tích



Năng suất



Sản lượng



(ha)



(tấn/ha)



(tấn)



2013



23.077



13,58



313.383



2014



22.823



14,09



321.700



2015



21.767



14,62



318.321



2016



21.173



14,27



302.229



2017



20.480



14,83



303.675



Năm



(Nguồn: FAOSTAT, 2019) [140]

Diện tích khoai tây của Việt Nam giảm dần trong 5 năm gần đây, từ

23,077 ha (năm 2013) đến năm 2017 chỉ còn 20,480 ha, giảm 2.597 ha.

Năng suất khoai tây Việt Nam còn thấp, năm 2017 là 14,83 tấn/ha, bằng

73,74% năng suất trung của thế giới và sản lượng đạt 303.675 tấn (FAOSTAT,

2019) [140].

Hiện nay ở nước ta, khoai tây được sản xuất nhiều ở các tỉnh như Thái Bình,

Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, và

Vĩnh Phúc. Khoai tây là cây trồng chủ lực được đưa vào cơ cấu giống cây trồng vụ

đông, các giống khoai tây được nông dân ưa chuộng và trồng phổ biến như: Solara,

Marabel, Diamond và VT2 phục vụ cho ăn tươi; Atlantic và Sinora phục vụ chế biến.



23

Sau vùng đồng bằng sông Hồng, Lâm Đồng là vùng sản xuất khoai tây quan

trọng thứ 2 của cả nước. Diện tích khoai tây của Lâm Đồng biến động từ 2.5003.000 ha/năm với năng suất khoai tây trung bình cao hơn 20 - 30% so với năng suất

khoai tây trung bình ở vùng đồng bằng sơng Hồng. Các giống khoai tây được sản

xuất chủ yếu là giống Utatlan (07) và PO3 phục vụ ăn tươi; các giống Atlantic,

FL2215, FL2027 và FL2137 phục vụ chế biến (Phạm Xuân Tùng và cs., 2003,

2008) [43], [44].

Diện tích khoai tây vụ đơng nước ta có tiềm năng phát triển lớn, mục tiêu

trong 5 năm tới (2018-2023), đưa diện tích ổn định khoảng xung quanh 30.000 ha, 5

năm tiếp theo đạt 35.000 - 40.000 ha; năng suất bình quân 18 - 20 tấn/ha, giá trị thu

nhập là 100 - 120 triệu đồng/ha/vụ (trong 3 tháng) với quan điểm phát triển bền vững

gắn với chế biến, tiêu thụ, sản xuất bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao chuỗi giá trị,

tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân (Cục Trồng trọt, 2017) [6].

Như vậy, diện tích và năng suất bình qn của Việt Nam như hiện nay là thấp

và không ổn định, chưa khai thác được tiềm năng to lớn của khoai tây, cây khoai tây

còn có thể đóng góp nhiều hơn nữa vào tổng thu nhập sản phẩm nông nghiệp của

nước ta. Nguyên nhân chính của hiện tượng trên là do việc sử dụng giống đã thối

hóa, chất lượng củ giống thấp làm giảm năng suất, giảm hiệu quả sản xuất khoai

tây. Điều kiện khí hậu ở Việt Nam ít thuận lợi cho khoai tây sinh trưởng, phát triển:

Nhiệt độ cao, ngày ngắn và điều kiện khí hậu khơng thích hợp nên khoảng cách

giữa năng suất thực tế với tiềm năng năng suất là rất lớn (chỉ bằng 10%) và thời vụ

gieo trồng ngắn, chỉ trồng được 1 đến 2 vụ/năm (Caldiz, D. O., et al., 2001) [65].

Thời vụ gieo trồng ngắn không chỉ trồng được ít vụ mà năng suất cây trồng cũng

khơng cao (Hunt, 1993) [92]. Do điều kiện khí hậu không thuận lợi nên thời gian

sinh trưởng của các giống khoai tây nhập nội khi trồng ở Việt Nam thường bị rút

ngắn, chỉ khoảng 85 - 115 ngày (Nguyễn Văn Thắng và cs, 1996) [38]. Thời gian

sinh trưởng ngắn là yếu tố bất lợi, hạn chế nhiều đến năng suất và phẩm chất khoai

tây (Trương Văn Hộ và cs, 1990) [14].

1.3.1.4. Sản xuất khoai tây hàng hóa tại Việt Nam

Sản xuất khoai tây hàng hóa tại Việt Nam đang được quan tâm và có điều

kiện để phát triển. Hiện nay Việt Nam có nhiều giống khoai tây năng suất cao, sạch

bệnh vừa phục vụ chế biến và ăn tươi, nhiều mơ hình sản xuất khoai tây hàng hóa

được xây dựng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.



24

Kết quả nghiên cứu của đề tài “Xây dựng mơ hình nhân giống và sản xuất

khoai tây hàng hoá cho hiệu quả kinh tế cao đối với giống Sinora và Marabel” tại

huyện Nam Sách và Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương cho năng suất trung bình từ 18,5 - 19,9

tấn/ha (Viện Khoa học nơng nghiệp Việt Nam, 2011) [150].

Tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, vụ đông năm 2018, huyện đẩy mạnh

liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cây khoai tây giúp người nơng dân duy trì, phát

triển vụ đơng bền vững. Việc hình thành mối liên kết “4 nhà” trong chuỗi sản xuất

nơng nghiệp, tạo tiền đề cho việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung

và nâng cao hiệu quả của các hình thức sản xuất, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ

cấu cây trồng gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp hướng tới một nền nông nghiệp

hiện đại, bền vững (Báo Nam Định, 2018) [137].

Tại Vĩnh Phúc, mơ hình mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân là mơ

hình liên kết sản xuất cây khoai tây theo hướng hàng hóa. Doanh nghiệp đã liên kết

chặt chẽ với người nơng dân, hỗ trợ máy móc phục vụ làm đất, tập huấn kỹ thuật

chăm sóc và thu mua toàn bộ sản phẩm. Phương thức liên kết sản xuất giữa doanh

nghiệp và nông dân đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Người nông dân được hỗ trợ

giống, vật tư và từng bước tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa lớn, giúp người nơng

dân học hỏi được nhiều kinh nghiệm, kiến thức sản xuất mới và dần từ bỏ thói quen

sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và lạc hậu. Doanh nghiệp đã xây dựng được vùng

nguyên liệu, ổn định đầu vào của sản xuất, đảm bảo đầu ra cho nông dân (Báo Điện

tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014) [135].

Tại Hà Nội, việc liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân đã thành

công trong việc triển khai mơ hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Mơ

hình đã được xây dựng trên diện tích 100 ha tại huyện Sóc Sơn, Mỹ Đức và Ứng

Hòa trên giống khoai tây Marabel. Mơ hình đã cho hiệu quả vượt trội, là động lực

cho người dân yên tâm phát triển sản xuất (Báo Kinh tế và Đô thị, 2018) [136].

Tại Thái Nguyên, nhiều đề tài, dự án đã được triển khai nhằm xây dựng mơ

hình sản xuất khoai tây theo hướng hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Dự án “Xây dựng

mơ hình sản xuất khoai tây theo hướng hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”

được thực hiện từ năm 2009 - 2010. Dự án được tiến hành trên hai giống Sinora và

Eben trong điều kiện vụ đơng tại huyện Đại Từ và Định Hóa. Dự án đã xây dựng được

mơ hình sản xuất khoai tây theo hướng hàng hóa tạo vùng nguyên liệu phục vụ chế



25

biến, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, nâng cao được hiệu quả kinh tế của cây khoai tây

trên một đơn vị diện tích (Sở Khoa học và Cơng nghệ Thái Ngun, 2010) [142].

Dự án “xây dựng mơ hình sản xuất khoai tây hàng hóa trên giống Atlantic và

Marabel tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên” (do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm

làm chủ trì) đã được tiến hành từ năm 2010-2011 trên địa bàn 3 huyện Định Hóa,

Phổ Yên và Đại Từ. Đã xây dựng được vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ ăn tươi

và cho chế biến công nghiệp. Thơng qua mơ hình canh tác về khoai tây cho nông

dân tại các điểm triển khai dự án và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao nhận

thức của người dân về sản xuất khoai tây hàng hóa và thương mại hóa sản phẩm, tạo

điều kiện để nông dân làm quen dần với kinh tế thị trường về sản xuất khoai tây

theo hướng hàng hóa (Sở Khoa học và Cơng nghệ Thái Ngun, 2011) [143].

1.3.2. Tình hình tiêu thụ khoai tây trên thế giới và Việt Nam

1.3.2.1. Tình hình tiêu thụ khoai tây trên thế giới

Sản lượng khoai tây tươi năm 2016 - 2017 của Trung Quốc đạt ở mức trên

100 triệu tấn, tăng khoảng 3% so với 97 triệu tấn trong năm 2015-2016 do sự mở

rộng diện tích khoai tây và các điều kiện thời tiết bình thường ở các khu vực sản

xuất chính, ở phía Bắc Trung Quốc. Tứ Xuyên, Cam Túc, Quý Châu, Vân Nam và

Nội Mông là những tỉnh sản xuất khoai tây lớn nhất ở Trung Quốc, chiếm khoảng

60% tổng sản lượng khoai tây tươi của Trung Quốc (Global Agricultural

Information Network, 2016) [83].

Tổng sản lượng tinh bột khoai tây của Trung Quốc trong giai đoạn 2016

-2017 đạt khoảng 600.000 tấn, tăng khoảng 9% so với 550.000 tấn vào năm 2015 2016, do sản lượng khoai tây tươi tăng và nhu cầu ngày càng tăng của ngành chế

biến thực phẩm. Sản lượng khoai tây chiên của Trung Quốc tiếp tục xu hướng tăng

trưởng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thị trường. Trong niên vụ 2016 -2017,

sản lượng khoai tây chiên thái lát và khoai tây chiên của Trung Quốc đạt 430.000 tấn

và 310.000 tấn, tương ứng tăng 9 và 13% so với các năm trước. Sản lượng khoai tây

chiên đông lạnh 2016 - 2017 đạt khoảng 230.000 tấn, tăng 9% so với 210.000 tấn

trong năm 2015 - 2016 (Global Agricultural Information Network, 2016) [83].



26

Nhập khẩu khoai tây chiên đông lạnh trong năm 2016 - 2017 khoảng

160.000 tấn, tăng 5% so với 152.000 tấn trong năm 2015 - 2016 do nhu cầu trong

nước tăng. Hoa Kỳ tiếp tục thống trị thị trường nhập khẩu khoai tây chiên của Trung

Quốc, với thị phần 72% trong 2015 - 2016, tiếp theo là Canada và Bỉ, chiếm 23%

tổng lượng nhập khẩu khoai tây chiên đông lạnh của Trung Quốc trong năm 2015,

2016 (Global Agricultural Information Network, 2016) [83].

Từ năm 2010 và năm 2011, hàng năm, xuất khẩu khoai tây tươi của Trung Quốc

đạt ổn định từ 300.000 - 450.000 tấn, trong niên vụ 2015-2016 ước tính đạt 381,424

tấn. Malaysia, Việt Nam và Nga là 3 thị trường xuất khẩu khoai tây tươi của Trung

Quốc chiếm trên 65% tổng sản lượng xuất khẩu khoai tây tươi của Trung Quốc trong

niên vụ 2015 - 2016 (Global Agricultural Information Network, 2016) [83].

Lượng khoai tây chế biến ở Mỹ chiếm 64% tổng lượng khoai tây ở Mỹ trong

thập niên 2000 (so với 35% trong thập niên 1960). Trong thập niên 2000, mỗi năm,

trung bình một người Mỹ tiêu thụ ≈25 kg khoai tây đông lạnh, ≈19 kg khoai tây

tươi, ≈7,7 kg khoai tây chiên và ≈6,4 kg sản phẩm khoai tây khô. Năm 2016, Hoa

Kỳ tiêu thụ hơn ≈34 kg khoai tây chế biến mỗi người. Trong khoai tây chế biến, sản

phẩm khoai tây thỏi đông lạnh chiếm 59%, khoai tây chiên lát từ 21%. Theo điều

tra, sản phẩm khoai tây rán và khoai tây chiên tăng rất mạnh trong những năm tới

(USDA, 2017) [130].

Các loại sản phẩm chế biến chủ yếu từ khoai tây của Hoa Kỳ bao gồm khoai tây

chiên lát, các loại sản phẩm khô (như tinh bột, bột khoai tây), khoai tây chiên thỏi đông

lạnh, các loại sản phẩm đơng lạnh khác, sản phẩm đóng hộp và một số loại sản phẩm

khác. Trong đó, lượng khoai tây chiên đông lạnh chiếm đa số trên 50% tổng số các

loại sản phẩm chế biến trong cả 3 năm, 2014, 2015 và 2016. Tiếp đến là khoai tây

rán và các loại sản phẩm khô (tinh bột và bột khoai tây) (USDA, 2017) [130].

1.3.2.2. Tình hình chế biến và tiêu thụ khoai tây của Việt Nam

Khoai tây ở Việt Nam hiện được tiêu thụ chủ yếu phục vụ ăn tươi thị trường

nội địa, xuất khẩu lượng nhỏ sang Indonesia. Ngành chế biến khoai tây mới xuất

hiện chưa được 10 năm, nhưng đang phát triển rất mạnh mẽ mở ra hướng đi cho

xuất khẩu khoai tây. Khoai tây chế biến hiện đang được các công ty đầu tư sản xuất

vùng nguyên liệu như PepsiCo, Orion… Tiêu dùng khoai tây đang chuyển từ thị



27

trường tiêu thụ tươi sang các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng. Sản phẩm chế

biến từ khoai tây đã khá đa dạng như khoai tây chiên lát, khoai tây chiên thỏi và

tinh bột. Sản phẩm khoai tây chiên là và chiên thỏi đã trở nên quen thuộc với người

Việt Nam, với các thương hiệu như Zon Zon, Snack, Bim Bim và Wavy.

Hiện nay, mỗi nhà máy có nhu cầu khoảng 180.000 tấn khoai tây nguyên

liệu/năm. Tuy nhiên, sản xuất khoai tây trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 3040% nhu cầu, phần còn lại là phải nhập khẩu từ rất nhiều nước khác nhau. Tổng nhu

cầu khoai tây dành cho chế biến khoảng 15.000 tấn/năm, nhưng chỉ có 35% trong số

đó là sử dụng nguyên liệu trong nước, các nhà chế biến vẫn phải nhập khẩu khoai

tây/năm từ Anh, Trung Quốc, Hà Lan.

Tỷ trọng thị trường khoai tây chế biến nội địa là: 40% sản phẩm tiêu thụ ở

siêu thị; 20% bán cho các nhà hàng khách sạn; 30% tiêu thụ qua đại lý; 5% bán cho

các trường học; 5% cho người bán rong. Tuy nhiên, tại Việt Nam khoai tây chế biến

vẫn chưa thực sự được coi là món ăn phổ biến, mà thường chỉ dùng để làm quà cho

trẻ em, hoặc vào những dịp đặc biệt như sinh nhật, lễ hội, Tết... Dạng sản phẩm chủ

yếu được người tiêu dùng ưa chuộng là khoai tây chiên, rất ít người quan tâm tới

các dạng sản phẩm khác, bởi nhiều nguyên nhân: khoai tây chế biến còn rất mới với

hầu hết người tiêu dùng, nhiều người từng sử dụng nhưng không để ý đấy là sản

phẩm của khoai tây.

1.3.3. Tình hình sản xuất khoai tây tại Thái Nguyên

1.3.3.1. Tình hình sản xuất khoai tây

Khoai tây được trồng phổ biến tại Thành Phố Thái Nguyên, thị xã Sơng

Cơng, các huyện Đồng Hỷ, Phú Bình, Định Hóa, Đại Từ, Phổ Yên và Phú Lương.

Những năm gần đây, bà con nông dân đã được tập huấn và chuyển giao các biện

pháp kỹ thuật đồng bộ nhằm xây dựng mơ hình sản xuất khoai tây vụ đơng hàng

hóa với quy mơ lớn nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao trên

thị trường, chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng vụ đông, thâm canh tăng vụ trên địa

bàn toàn tỉnh, một số kỹ thuật cơ bản đã được chuyển giao với chủ trương đưa cây

khoai tây thành một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh (Sở Khoa học và

Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2013) [145].



28

Một số giống khoai tây được trồng phổ biến tại Thái Nguyên như Solara,

Sinora, Atlantic và Marabel là những giống có năng suất cao, khả năng kháng tốt

với một số đối tượng sâu, bệnh hại, phù hợp đưa vào cơ cấu giống trồng trong vụ

đông của tỉnh Thái Nguyên (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2012,

2013) [144], [145].

Bảng 1.4. Tình hình sản xuất khoai tây tại Thái Nguyên

giai đoạn 2014 - 2017

Toàn tỉnh



Thành Phố Thái Nguyên



Huyện Phú Lương



Diện



Năng



Sản



Diện



Năng



Sản



Diện



Năng



Sản



tích



suất



lượng



tích



suất



lượng



tích



suất



lượng



(ha)



(tấn/ha)



(tấn)



(ha)



(tấn/ha)



(tấn)



(ha)



(tấn/ha)



(tấn)



2014



500



12,62



6.311



28



15,18



425



45



14,20



639



2015



627



13,01



8.207



51



14,96



763



38



15,11



574



2016



624



13,18



8.225



45



14,89



670



29



14,41



417



2017



511



13,63



6.965



67



15,43



1034



23



15,13



347



Năm



(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2017) [4]

Số liệu ở bảng 1.4 cho thấy, Tổng diện tích trồng khoai tây của toàn tỉnh Thái

Nguyên đạt 500 ha trong năm 2014, đạt trên 620 ha trong giai đoạn 2015 - 2016 và

giảm chỉ còn trên 511 ha trong năm 2017, chiếm khoảng 2 - 3% tổng diện tích trồng

khoai tây của cả nước.

Năng suất khoai tây trung bình của toàn tỉnh dao động xung quanh 13 tấn/ha

thấp hơn so với năng suất khoai tây trung bình của cả nước (>14 tấn/ha). Tổng sản

lượng khoai tây của toàn tỉnh dao động từ trên 6.000 đến trên 8.000 tấn chiếm

khoảng 2% tổng sản lượng khoai tây của cả nước.

Thành Phố Thái Ngun có tổng diện tích trồng khoai tây đạt 28 ha trong

năm 2014 và có xu hướng tăng trong những năm qua và đạt 67 ha trong năm 2017.

Năng suất khoai tây trung bình đạt từ 14,89 - 15,43 tấn/ha cao hơn năng suất trung

bình của tồn tỉnh. Tổng sản lượng khoai tây của Thành Phố Thái Nguyên đạt 425

tấn trong năm 2014, chiếm 6,7% và tăng lên trên 1.000 tấn trong năm 2017, chiếm

14,8% tổng sản lượng khoai tây của tồn tỉnh.



29

Huyện Phú Lương có xu hướng giảm diện tích trồng khoai tây trong những

năm gần đây. Năm 2014, tồn huyện có 45 ha trồng khoai tây chiếm 9% tổng diện

tích khoai tây của tồn tỉnh và giảm khoảng 1/2 trong năm 2017. Năng suất khoai

tây trung bình của toàn huyện chỉ đạt 14,20 tấn/ha trong năm 2014 nhưng đã tăng

cao trong những năm qua và đạt 15,13 tấn/ha trong năm 2017. Tổng sản lượng

khoai tây của toàn huyện Phú Lương dao động 300 - 639 tấn, chiếm 5,4 - 7,7%

tổng sản lượng khoai tây của toàn tỉnh.

1.3.3.2. Một số thuận lợi khó khăn trong sản xuất khoai tây tại Thái Nguyên

* Thuận lợi

- Điều kiện khí hậu, đất đai tương đối phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của

cây khoai tây, tiềm năng đất trồng khoai tây vụ đông rất lớn, khả năng phát triển khoai

tây cao (thời gian sinh trưởng ngắn 80-90 ngày) ưa lạnh không bị áp lực thời vụ.

- Thị trường tiêu thụ khoai tây tại Thái Ngun rất lớn có nhiều cơng ty,

nhiều trường đại học, người dân đã nhận thức được giá trị của cây khoai tây và có

nhu cầu mở rộng diện tích trồng khoai tây.

- Thái Nguyên đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là đưa

cây màu vụ đơng vào sản xuất nên có nhiều chính sách trợ giá giống, xây dựng mơ

hình trình diễn, hướng dẫn kỹ thuật trồng khoai tây cho nơng dân.

* Khó khăn

- Người dân chưa biết kỹ thuật trồng khoai tây, bón phân, tưới nước, vun

gốc.. chưa đủ, chưa đúng quy trình kỹ thuật.

- Chưa có bộ giống tốt và thích hợp, người dân chủ yếu trồng giống khoai tây

nhập khẩu thương phẩm từ Trung Quốc dẫn đến tình trạng chất lượng giống rất kém,

giống bị nhiễm sâu bệnh năng suất thấp, thiếu kho lạnh bảo quản khoai làm giống.

- Thiếu mối quan hệ sản xuất - tiêu thụ, giữa doanh nghiệp - nông dân, sản

lượng hầu hết nông dân tự tiêu thụ.

- Trồng chăm sóc khoai tây khó và tốn công hơn một số cây trông vụ đông

khác. Giá khoai tây giống cao, đầu tư trồng 1 ha khoai tây lớn nên nhiều người dân

khơng có kinh phí đầu tư. Khoai tây nhiều sâu bệnh, chưa có biện pháp phòng trừ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

giai đoạn 2013 - 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×