Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

14

tác, giống và thời gian sinh trưởng của khoai tây, độ ẩm và mật độ trồng (Smith,

1987) [123]. Khi trồng khoai tây giống mới theo hướng thâm canh để có năng suất,

hiệu quả cao nhất thiết phải bón phân. Cần thực hiện tưới rãnh nhẹ để khoai tây

nhanh mọc trong trường hợp đất bị khô. Thực hiện vun xới 2 lần kết hợp bón thúc.

Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho khoai tây, tốt nhất bằng biện pháp tưới rãnh

(Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015) [148].

Như vậy, để trồng khoai tây đạt hiệu quả kinh tế cao thì mỗi vùng sinh thái

cần nghiên cứu để tìm ra bộ giống tốt và biện pháp canh tác phù hợp.

1.2. Một số nghiên cứu về yêu cầu ngoại cảnh đối với cây khoai tây

1.2.1. Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và năng

suất củ. Nhiệt độ trong vụ trồng bình quân 16°C - 18°C là thích hợp và cho năng

suất cao nhất. Khi nhiệt độ cao, cây khoai tây bị giảm sự đồng hóa, tăng dị hóa;

nhiệt độ ban đêm cao sẽ làm giảm sản lượng chất khô của cây. Sự phát triển tối ưu

của cây khoai tây khi nhiệt độ ban ngày 20°C, ban đêm 14°C. Nếu nhiệt độ ban

ngày ở mức 21°C - 24°C, ban đêm 10°C hoặc thấp hơn một chút, khoai tây cũng có

năng suất cao. Nhưng khi nhiệt độ bình quân dưới 10°C sẽ làm giảm sự sinh trưởng

của cây, dưới 5°C cây ngừng sinh trưởng.

Cây khoai tây có ba giai đoạn: Giai đoạn phát triển thân lá, giai đoạn hình

thành củ và giai đoạn phình to củ. Mỗi giai đoạn có u cầu nhiệt độ khác nhau. Từ

mọc đến phát triển thân lá, cây khoai tây cần nhiệt độ tương đối cao, thay đổi từ

16°C - 24°C, ở giai đoạn này thân lá phát triển đầy đủ thì năng suất củ mới cao.

Giai đoạn hình thành củ cần nhiệt độ thấp hơn. Rashid năm 1974 có nhận xét, củ

khoai tây hình thành nhanh nhất ở nhiệt độ ban ngày 20°C - 21°C và ban đêm 14°C.

Giai đoạn phình củ cần nhiệt độ thấp hơn kết hợp với ngày dài và cường độ ánh

sáng cao (Trương Văn Hộ, 2010) [17].

Nhiệt độ khơng khí thích hợp nhất cho củ khoai tây phát triển từ 18-19 0C và

nhiệt độ đất 16- 170C. nếu nhiệt độ từ 200C trở lên quá trình hình thành củ của khoai

tây bắt đầu bị kìm hãm. Nhiệt độ lên cao quá 25 0C sẽ trở ngại cho quá trình hình

thành và phát triển củ. Trong thời kỳ hình thành củ, nhiệt độ cao kéo dài gây ra hiện

tượng củ khơng được tích lũy chất khô một cách đầy đủ, dẫn đến năng suất và chất

lượng giống giảm rõ rệt ở các đời sau. (Trương Văn Hộ, 2010) [17].



15

Như vậy, cây khoai tây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao trong

điều kiện nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho thân lá phát triển là 18 - 20 0C, thân

củ phát triển là 18 - 190C. Tuy nhiên, nhiệt độ quá thấp làm cây bị chết rét, còn nhiệt

độ cao thì củ hình thành kém, nhanh thối hóa và bệnh virút phát triển mạnh. Để

nâng cao năng suất và chất lượng củ khoai tây cần nghiên cứu để có thời vụ thích

hợp với từng vùng.

1.2.2. Yêu cầu về ánh sáng

Khoai tây là cây ưa sáng, năng suất khoai tây phụ thuộc vào khả năng hấp

thu và hiệu quả của việc sử dụng năng lượng ánh sáng để tổng hợp nên chất khô của

củ và chỉ số thu hoạch. Cường độ ánh sáng thích hợp cho sự hình thành củ và năng

suất khoai tây là 20.000 - 50.000 lux (Allen and Scott .,1980) [50]. Trong điều kiện

khí hậu giống nhau, khơng thiếu nước hoặc dinh dưỡng và không xuất hiện sâu

bệnh hại thì sự khác nhau về sinh trưởng, phát triển và năng suất là do khả năng hấp

thu ánh sáng khác nhau giữa các giống (Spitter, 1987; Van der Zaag and Doombos

JH, 1987) [124], [132].

Độ dài ngày ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây khoai

tây. Ở điều kiện ngày dài trên 14 giờ chiếu sáng/ngày của mùa xuân và mùa hè ở

các nước ôn đới, thời gian sinh trưởng của cây khoai tây dài tới hơn 4 tháng gần 5

tháng, có thời gian phát triển thân lá dài, sau đó mới đến giai đoạn hình thành củ và

phình to củ. Người ta thấy rằng cây khoai tây trong điều kiện dài ngày có hàm

lượng hoomon gibberellin cao, nên đã làm chậm sự hình thành củ. Do thời gian sinh

trưởng dài nên năng suất khoai tây ở vùng ôn đới khá cao, về tiềm năng nhiều nơi

tới 100 - 120 tấn củ/ha, nhiều nước đạt năng suất bình quân 35 - 40 tấn/ha.

Những nước vùng nhiệt đới trồng khoai tây trong điều kiện ngày ngắn, dưới

12 giờ/ngày nên hình thành củ sớm ngay khi thân lá còn trong giai đoạn đang phát

triển. Vì vậy, thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ trên dưới 3 tháng, nên năng suất củ

thấp, tiềm năng năng suất không cao. Những giống khoai tây ở vùng ôn đới đem

trồng ở Việt Nam sẽ rút ngắn khoảng 30% thời gian trồng ở vùng ôn đới (Trương

Văn Hộ, 2010) [17].

Trong điều kiện ngày dài, cây khoai tây ra hoa, kết quả nhiều hơn ngày

ngắn. Nếu ở nhiệt độ thấp trong điều kiện ngày dài hoặc ngắn, khoai tây đều ra

củ sớm. Về cường độ ánh sáng với khoai tây, ánh sáng có cường độ mạnh sẽ làm



16

cho quá trình quang hợp tăng lên, cây phát triển thuận lợi. Nếu cường độ ánh

sáng yếu, trời nhiều mây âm u kéo dài, cây quang hợp kém, năng suất khoai tây

thấp. Mặt khác cường độ ánh sáng quá cao cũng gây ra tạo củ sớm, ra hoa nhanh

dẫn đến thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất củ thấp.

1.2.3. Yêu cầu về nước

Nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển

của cây khoai tây, đến năng suất và chất lượng của củ khoai tây. Muốn cây khoai tây

có hiệu suất quang hợp cao, đất phải đủ ẩm để cho bộ rễ hút đủ lượng nước cần thiết

và chất khoáng để điều tiết nhiệt độ của cây. Nếu đất khô hạn, lá khô sẽ bị héo, khí

khổng khép lại, hiệu suất quang hợp của cây sẽ giảm sút. Nếu thiếu nước kéo dài

trầm trọng thì cây sẽ chết. Nếu quá nhiều nước sẽ gây nên yếm khí, trong đất thiếu O 2

sẽ làm cho bộ rễ bị chết, đồng thời những khí khổng trên vỏ củ bị trương nước sẽ là

nơi để vi khuẩn và nấm xâm nhập làm thối củ (Trương Văn Hộ, 2010) [17].

Trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển cây khoai tây cần rất nhiều nước.

Theo một số nghiên cứu, một héc ta khoai tây cho năng suất củ từ 19-33 tấn/ha thì

cần từ 2.800 - 2.900 m 3 nước. Để tạo ra 100 kg củ khoai tây cần 12 - 15 m 3 nước

(Ngô Đức Thiệu và Nguyễn Văn Thắng, 1978) [41].

Nghiên cứu của Deblonde et al., (1999) [70] chỉ rõ, năng suất và yếu tố cấu

thành năng suất bị tác động mạnh bởi tổng lượng nước tưới. Tuy nhiên tác động của

hạn đến cây trồng phụ thuộc vào thời gian, giai đoạn và mức độ nghiêm trọng của

khô hạn (Jefferies, 1995) [96]. Hạn thường tác động mạnh ở 3 giai đoạn: sinh

trưởng, phình to củ và chín. Thiếu nước ở giai đoạn cuối của thời gian sinh trưởng

sinh dưỡng làm cho khoai tây có năng suất thấp nhất, thiếu nước ở giai đoạn chín

thì củ khoai tây lại to nhất (Fabeiro et al., 2001) [78].

Nghiên cứu của Iqbal et al., (1999) [94] cũng cho kết quả là, hạn xuất hiện

vào giai đoạn chín làm giảm năng suất ít nhất, xuất hiện sớm sẽ ảnh hưởng mạnh

nhất đến năng suất, tiếp theo là giai đoạn hình thành củ. Điều đó được Kashyap et

al., (2003) [99] giải thích rằng, hầu hết các giai đoạn nhạy cảm với sự thiếu nước là

ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng nên thiếu nước ở giai đoạn này ảnh hưởng đến

năng suất mạnh nhất.



17

Như vậy, nước rất cần thiết cho sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất của

cây khoai tây. Thiếu nước ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng ảnh hưởng nhiều nhất

đến năng suất. Vì vậy trong điều kiện ở miền Bắc Việt Nam, vụ đơng thường có

lượng mưa thấp và biến động giữa các vùng khá lớn nên cần nghiên cứu chế độ tưới

nước hợp lý cho khoai tây trong từng điều kiện cụ thể.

1.2.4. Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của khoai tây

Củ khoai tây khi phát triển có khả năng dịch chuyển các phân tử đất yếu hơn

so với nhiều loại rễ củ khác nên đòi hỏi lớp đất mặt, là nơi khoai tây hình thành củ

phải rất tơi xốp. Các loại đất cát pha, đất nhẹ, thậm chí là đất cát là thích hợp với

cây khoai tây. Các loại đất nặng và quá ẩm ướt, cây khoai tây phát triển không tốt

và thường bị bệnh thối ướt gây hại. Trên các loại đất nặng, hàm lượng tinh bột trong

củ giảm, củ cũng nhỏ đi nhiều. Mặt khác khoai tây còn sinh trưởng, phát triển và

cho năng suất giảm dần khi trồng liên tiếp từ vụ này sang vụ khác trong nhiều năm

trên cùng một chân đất (Đường Hồng Dật, 2005) [7].

Đất trồng khoai tây thích hợp là đất phù sa nhẹ, đất cát pha, đất nhẹ tơi xốp

có lượng mùn cao, lớp đất canh tác dày, giữ ẩm tốt, có điều kiện tưới nước và thốt

nước. Nếu trồng trên đất thịt nặng, củ sẽ phát triển khơng đều, bị méo mó, mã củ

xấu. Khoai tây có thể phát triển được trên đất có độ pH từ 4,8 - 7,1. Do chịu được

chua mặn nên ở Hà Lan đã dùng khoai tây là cây tiên phong trồng trên đất mới lấn

biển có độ chua cao. Tuy nhiên, độ pH lý tưởng với khoai tây là 5,2 - 6,4. Nếu đất

có độ pH kiềm trên 7, khoai tây dễ bị nhiễm bệnh ghẻ củ. Đất có hàm lượng clo cao

sẽ giảm hàm lượng chất khô của củ (Trương Văn Hộ, 2010) [17].

Đất có tầng canh tác dày và tơi xốp khả năng giữ nước và thơng khí tốt là

thích hợp nhất với khoai tây và sẽ cho năng suất cao nhất. Đất có pH từ 5 - 7, nhưng

thích hợp nhất là 6 - 6,5.

Đất lý tưởng cho sự phát triển của khoai tây là đất tiêu nước tốt, dễ vỡ vụn.

Đất có hàm lượng sét cao cần được xử lý đặc biệt như luân canh cây trồng thích

hợp, trồng cây che phủ và các hoạt động cày xới đúng cách để duy trì năng suất

trong một thời gian dài. Các loại đất có hữu cơ cao, nếu thốt nước đầy đủ, cũng có

thể sản xuất khoai tây chất lượng cao, đặc biệt cho thị trường ăn tươi. Đất cát, có

chứa ít đất sét hoặc ít chất hữu cơ khi được tưới tiêu và bón phân đúng cách, sẽ cho

năng suất và chất lượng chế biến cao. Mặc dù, khoai tây chịu được đất có tính axít

nhưng sẽ có lợi khi nâng pH đất đến 6,0 - 6,5 giúp gia tăng hấp thụ lượng P và K



18

trong đất, làm tăng hoạt tính của vi sinh vật, tăng sự phân huỷ của chất hữu cơ để

giải phóng N và tăng khả năng trao đổi cation đất (Bohl và Johnson, 2010) [61].

Đất trồng khoai tây có pH nằm trong khoảng 5,5 - 6,8. Ở pH này khoai tây ít

bị bệnh ghẻ hay sần lỗ vỏ. Hàm lượng tinh bột của khoai tây thu được cao nhất khi

trồng trên đất kiềm yếu hoặc trung tính. Tuy nhiên, nghiên cứu khác đã ghi nhận

hàm lượng tinh bột của củ ở pH đất trồng trong phạm vi 5,4 - 6,05 cao hơn cả. Khi

trồng ở đất chua yếu có pH = 5 thì khoai tây chín sớm hơn, điều này làm giảm hàm

lượng chất khô của cây. Để đạt năng suất cao nên duy trì độ ẩm của đất khoảng

65%. Tùy thuộc vào nhiệt độ ngày và giai đoạn phát triển của cây mà lượng nước

tưới được tính tốn nhằm duy trì độ ẩm của đất. Tưới sát ngày thu hoạch làm giảm

độ cứng và gia tăng các vấn đề trong lưu trữ (Kader và Rolle, 2004) [97].

Khoai tây có thể trồng được trên các loại đất: đất cát pha, đất thịt nhẹ,

đất phù sa có tầng canh tác dày, nhiều mùn. Để cây khoai tây sinh trưởng tốt, năng

suất cao thì cần bố trí trồng trên các chân đất vàn, vào cao; đất có độ tơi xốp, thuận

tiện trong việc tưới tiêu và thốt nước tốt. Khoai tây đơng thường được bố trí trên

chân đất 2 vụ lúa (lúa đơng xn + lúa mùa + khoai tây đông). Cày bừa, làm đất nhỏ

vơ sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng vụ trước. Lên luống càng cao càng tốt, lên luống

đơn, luống rộng 0,6 - 0,7 m (trồng 1 hàng) hoặc lên luống kép, luống rộng 1,2 - 1,4

m (trồng 2 hàng). Rãnh luống rộng từ 30 - 40 cm, sâu từ 15 - 25 cm (Thái Hà và

Đằng Mai, 2011; Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015) [12], [148].

Khoai tây yêu cầu một lượng dinh dưỡng lớn và đầy đủ các nguyên tố đa

lượng và vi lượng. Trung bình một tấn củ khoai tây (kể cả thân lá tương ứng) lấy đi

từ đất là 5,68 kg N, 1,11 kg P2O5, 8,92 kg K2O. Với năng suất 15 tấn/ha cây khoai

tây đã lấy đi 88 kg N, 17 kg P 2O5, 134 kg K2O, 19 kg CaO và 16 kg MgO. Rasco và

Aromin, (1994) [116] cũng kết luận rằng, năng suất khoai tây phụ thuộc nhiều vào

dinh dưỡng đất và khả năng cung cấp của con người. Trong hầu hết các trường hợp

có sự tương quan giữa khối lượng chất khô và nồng độ N, P, K. Tuy nhiên mỗi

nguyên tố dinh dưỡng đều tác động đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai

tây theo góc độ khác nhau.

Khoai tây là một trong những loại cây trồng cho năng suất cao, do đó đòi hỏi

nhiều chất dinh dưỡng để phục vụ q trình sinh trưởng và phát triển. Nitơ (N), phốt

pho (P) và kali (K) là những yếu tố quan trọng nhất cần thiết cho việc hình thành

năng suất và sản lượng khoai tây. Ở nhiều khu vực sản xuất khoai tây, lượng phân



19

bón đạm và lân được sử dụng rộng rãi, trong khi kali thường bị bỏ qua (Pervez et

al., 2013) [111].

1.2.5. Yêu cầu về độ ẩm đất

Kết quả nghiên cứu cho thấy các loại đất khác nhau có khả năng giữ nước, giữ

nhiệt, trao đổi dinh dưỡng khác nhau nên có ảnh hưởng khác nhau đến sự sinh trưởng

của khoai tây và qua đó ảnh hưởng đến hàm lượng chất khô, hàm lượng tinh bột trong

củ. Loại đất hấp thụ nước tốt và thống khí là cần thiết cho sự phát triển và hình thành

củ (Brandenberger et al., 2012) [ 63].

Độ ẩm đất có ảnh hưởng đến hàm lượng chất khô của khoai tây và chất

lượng chế biến của chúng. Trong những vùng hạn hoặc bán hạn, biện pháp tưới là

không thể thiếu khi trồng khoai tây. Ở những vùng ẩm hơn, ngoài việc lợi dụng

nước trời qua mưa cũng cần phải bổ sung một lượng nước tưới nhất định. Điều kiện đất

đủ độ ẩm sẽ đảm bảo khoai tây có năng suất cao, tốt nhất nên duy trì một độ ẩm đồng

nhất trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng của cây khoai tây. Việc tưới quá dư thừa

nước hoặc khoảng cách giữa hai lần tưới quá xa có thể làm giảm năng suất hoặc cây có

sinh trưởng lại hoặc làm nứt củ. Để thu được khoai tây có hàm lượng chất khô cao cần

phải tránh tưới quá muộn vào lúc thu hoạch. Mưa quá nhiều hoặc tưới quá muộn

thường làm giảm năng suất và làm giảm tỷ trọng của củ (Smith, 1987) [123 ].

Khoai tây là một cây rất mẫn cảm với sự thiếu hụt nước trong đất. Ngay cả

khi được tưới, đôi khi khoai tây vẫn bị stress nước, đặc biệt là những ngày nắng và

nóng. Sự thiệt hại do stress nước của khoai tây phụ thuộc vào thời điểm bị thiếu

nước, thời gian và cường độ stress (Costa và MacKerron, 2000) [68].

Tại Nam Phi, thiếu nước xảy ra vào lúc bắt đầu hình thành củ cho đến lúc tạo

củ là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành sinh khối và năng suất

củ. Khi được tươi đầy đủ trong điều kiện này, củ cho năng suất cao nhất. Hiệu suất tưới

nước thay đổi tùy theo phương pháp tưới và thời gian trồng, hiệu quả tưới nước vào vụ

thu cao hơn vụ đông (Steyn et al., 2007) [126].

Đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của tưới đến chất lượng chế biến của khoai

tây, nhận thấy ở cơng thức khoai tây có tưới, khoai tây chưa thành thục vào lúc thu

hoạch. Trong củ có chứa nhiều đường khử dẫn đến màu sắc của chip sau khi rán có

màu đậm hơn. Khi tưới nước cho khoai tây ở các mức độ ẩm đất đạt 25, 50 và 75%

không gây ảnh hưởng đến tỷ trọng của củ, trong khi đó ở độ ẩm cao hơn gây ra sự

giảm sút hàm lượng tinh bột. Điều kiện thời tiết bất thường có thể làm cho khoai tây



20

có củ có hình dạng bất thường hoặc nảy mầm, tạo củ thứ cấp, làm đen thịt củ hoặc

tim rỗng. Lượng mưa ảnh hưởng đến hàm lượng nước và sự nhạy cảm của cây trồng

đến các tổn thương cơ học và thối hỏng. Thời tiết khơ hạn, rồi mưa có thể làm phát

sinh vết nứt hoặc sinh trưởng thứ cấp ở khoai tây. Nhiệt độ đất cao, thiếu độ ẩm tạm

thời của đất và thiếu hay dư thừa nitơ gây hàm lượng đường cao và tinh bột thấp ở

phần cuống củ ở khoai tây chế biến làm nâu thịt củ khi chế biến. Do thiếu nước gây

ra những thay đổi trong hoạt động hoặc các enzyme chuyển hóa cacbohidrat

chuyển từ chức năng tổng hợp tinh bột thành chức năng huy động tinh bột

(Thompson et al., 2008) [128].

1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai tây trên thế giới và Việt Nam

1.3.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và Việt Nam

1.3.1.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới

Khoai tây được trồng rộng rãi ở 130 nước trên thế giới, từ 71 độ vĩ tuyến Bắc

đến 40 độ vĩ tuyến Nam. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới 5 năm gần đây

được trình bày ở bảng 1.1.

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới

giai đoạn 2013 - 2017

Năm



Diện tích

(triệu ha)



Năng suất

(tấn/ha)



Sản lượng

(triệu tấn)



2013



19,29



19,39



374,07



2014



18,88



20,14



380,26



2015



18,91



19,91



376,58



2016



19,08



19,62



374,25



2017



19,30



20,11



388,91



(Nguồn: FAO, 2019) [140]

Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy, diện tích khoai tây của thế giới trong những năm

gần đây tăng giảm không đáng kể, từ 19,29 triệu ha (năm 2013), đến 19,30 triệu ha

(năm 2016). Năng suất biến động từ 19,39 - 20,14 tấn/ha, đạt cao nhất năm 2014

(20,14 tấn/ha) và sản lượng khoai tây đạt cao nhất năm 2017 (388,91 triệu tấn).

Do điều kiện sinh thái, mức độ thâm canh và trình độ sản xuất khác nhau nên

năng suất khoai tây chênh lệch rất lớn. Tình hình sản xuất khoai tây ở các châu lục



21

năm 2016 được thống kê ở bảng 1.2.

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất khoai tây ở các châu lục năm 2017



Châu Á



Diện tích

(triệu ha)

10,21



Năng suất

(tấn/ha)

19,17



Sản lượng

(triệu tấn)

195,67



Châu Âu



5,37



22,69



121,76



Châu Mỹ



1,80



24,58



44,17



Châu Phi



1,89



13,22



25,01



Châu Đại dương



0,38



41,08



1,57



Châu lục



(Nguồn: FAO, 2019) [140]

Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy năm 2017, châu Á có diện tích khoai tây lớn nhất

thế giới (10,21 triệu ha), gần đây khoai tây ở vùng này có xu hướng phát triển

mạnh. Song năng suất khoai tây của châu Á còn thấp (năm 2017: 19,17 tấn/ha), thấp

hơn năng suất trung bình của thế giới và một số châu lục khác. Tuy nhiên do diện

tích trồng lớn nên sản lượng khoai tây của châu Á cao nhất thế giới (năm 2017 đạt

195,67 triệu tấn), chiếm 50,56% sản lượng khoai tây toàn thế giới. Khoai tây châu

Á được trồng tập trung ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn

Quốc, Mông Cổ...

Khoai tây là cây trồng quan trọng trong khẩu phần ăn và là nguồn dinh

dưỡng rất tốt cho nhiều người dân châu Âu. Vì thế khoai tây là cây trồng chính và

được trồng nhiều ở các nước như Ba Lan, Đức, Pháp, Hà Lan…Năm 2017 diện tích

trồng khoai tây của châu Âu là 5,37 triệu ha, chiếm 27,82% diện tích khoai tây tồn

thế giới, nhưng do năng suất cao (22,69 tấn/ha) nên sản lượng khoai tây của châu

Âu đạt cao nhất năm 2017 đạt 121,76 triệu tấn, chiếm 31,31% sản lượng khoai tây

thế giới.

Năm 2017, diện tích trồng khoai tây của châu Mỹ và châu Phi tương đương

nhau (1,80 - 1,85 triệu ha), nhưng năng suất khoai tây châu Mỹ cao (24,58 tấn/ha)

nên sản lượng đạt 44,17 triệu tấn. Trong khi đó năng suất khoai tây của châu Phi rất

thấp (13,22 tấn/ha) nên sản lượng chỉ đạt 24,01 triệu tấn, gần bằng 1/2 sản lượng

của châu Mỹ. Châu Đại dương có diện tích khoai tây thấp nhất (0,38 triệu ha), năng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×