Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.41: Thống kê diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi sang mục đích khác

Bảng 3.41: Thống kê diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi sang mục đích khác

Tải bản đầy đủ - 0trang

133



Năm 2008 VQG Bù Gia Mập thực hiện Dự án “Di dời và ổn định dân xâm

canh trong lâm phần VQG ra khu vực định canh định cư” với mục đích chuyển tồn

bộ các vườn cây điều trong vùng lõi của Vườn (trước khi thành lập VQG Bù Gia

Mập người dân đã canh tác) ra ngoài vùng lõi, do vậy VQG đã tiến hành hoán đổi

175,4 ha rừng tự nhiên để người dân có đất canh tác. Như vậy, diện tích rừng tự

nhiên chuyển sang mục đích an sinh xã hội. Diện tích chuyển đổi từ rừng tự nhiên

sang mục đích khác để phục vụ Quốc phòng, an sinh xã hội, phục vụ bảo vệ rừng

cũng mang tính chất tạm thời trong một giai đoạn, song nếu cứ tiếp tục chuyển đổi

rừng tự nhiên sang mục đích khác sẽ ảnh hưởng rất lớn tính đa dạng sinh học của

VQG Bù Gia Mập.

- Cháy rừng

Cháy rừng là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm đa dạng sinh học, không

những làm cho hệ thực vật bị suy giảm ảnh hưởng mà còn ảnh hưởng đến đời sống

các loại động vật, vi sinh vật nấm. Vì vậy, cơng tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở

VQG Bù Gia Mập những năm gần đây đã được quan tâm chú trọng.

Theo số liệu báo cáo của Hạt kiểm lâm Vườn mùa khơ năm 2004 -2005 có xảy

ra cháy khoảng 40 ha rừng (chủ yếu cháy dưới tán, ở nhiều điểm) ở phân khu phục

hồi sinh thái, nơi có trạng thái rừng lồ ơ xen gỗ. Đến thời kỳ cây lồ ô bị khuy chết

hàng loạt, khi người dân đi rừng khơng có ý thức trong việc sử dụng lửa gây nên

cháy rừng. Tuy nhiên, lực lượng Kiểm lâm Vườn đã kịp thời phát hiện và huy động

lực lượng chữa cháy rừng. Đến năm 2009 có xảy ra một cháy rừng trên diện tích 2

ha tại tiểu khu 20 gây thiệt hại đến nguyên rừng. Trạng thái rừng bị cháy là rừng lồ

ô xen gỗ. Nguyên nhân cháy là do người dân vùng đệm khi đốt, dọn rẫy để tàn lửa

bay qua rừng Vườn Quốc gia Bù Gia Mập (khu vực này giáp với rẫy của người dân

vùng đệm, chỉ cách một con đường rộng 5 mét). Đám cháy cũng đã được phát hiện

và khoanh vùng đám cháy. Các năm sau này do làm tốt công tác phòng cháy, cơng

tác tun truyền giáo dục nâng cao nhận thức của người dân vùng đệm được nâng

lên, công tác tuần tra, kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng được tăng cường nên có xảy



134



ra đám cháy nhưng ở diện tích nhỏ từ 0,5 ha trở xuống đã được phát hiện và chữa

cháy kịp thời.

- Chăn thả gia súc

Chăn thả gia súc ở Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đang là vấn đề phức tạp khó

giải quyết. Hiện nay rừng tự nhiên và các bãi cỏ tự nhiên phục vụ cho việc chăn

ni gia súc ở vùng đệm khơng còn nên người dân hiện nay thường chăn thả trâu,

bò vào vùng lõi của Vườn. Họ thường chăn thả trâu, bò vào các Vườn điều do

người dân xâm canh trước đây hoặc chăn thả vào các khu vực rừng trồng của

Vườn. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của hệ động thực vật của

Vườn Quốc gia. Năm 2018, VQG Bù Gia Mập sẽ tiến hành cắt bỏ toàn bộ Vườn điều

của người dân trong vùng lõi để trồng rừng (người dân đã được chuyển đổi đất ra

khu vực định canh, định cư) nếu người dân khơng có nơi chăn thả trâu, bò họ sẽ

chăn thả vào khu vực rừng trồng mới sẽ gây ảnh hưởng lớn đến kết quả trồng

rừng.

Các Đồn biên phòng nằm trong vùng lõi của Vườn: Để cải thiện đời sống họ

cũng ni bò, heo. Mặc dù, Vườn đã tích cực tuyên truyền để họ chăn thả trong

khn viên của Đồn, nhưng do diện tích chật hẹp nên họ thường thả ra ngồi rừng.

Tóm lại: Trong thời gian tới để chấm dứt việc chăn thả gia súc vào vùng lõi

của VQG Bù Gia Mập cần có sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương. VQG

Bù Gia Mập cần phải đầu tư hàng rào bảo vệ rừng trồng.

3.4.1.2. Nguyên nhân gián tiếp

Các nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật ở VQG Bù

Gia Mập được đánh giá dựa trên các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội sau đây.

- Ảnh hưởng các yếu tố tự nhiên

Kết quả phân tích, tổng hợp các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến tính đa

dạng thực vật ở VQG Bù Gia Mập như: Yếu tố vị trí, ranh giới. VQG Bù Gia Mập ở

Phía Đơng giáp với xã Quảng Trực tỉnh Đắk Nơng với chiều dài đường ranh giới

khoảng 30 km là đường ranh giới cơ giới, địa hình bị chia cắt bởi các khe suối, ranh



135



giới chưa rõ ràng, mặt khác rừng ở phía tỉnh Đắk Nơng quản lý thuộc rừng phòng

hộ và sản xuất, qui chế quản lý khác với qui chế quản lý rừng đặc dụng. Rừng phía

tỉnh Đắk Nơng các lồi cây gỗ q, hiếm có giá trị kinh tế, bảo tồn đã bị khai thác

hết do vậy người dân thường xâm nhập vào phía Vườn để khai thác. Phía Tây và

Tây Bắc của Vườn là Biên giới giữa Việt Nam và Campuchia được phân định bằng

con suối Đắk Huýt. Mặc dù, Biên giới đã được phân định bằng các cột mốc Quốc

gia, song do dòng suối Đắk Huýt nhỏ hẹp nên mùa mưa nước dâng cao tạo điều

kiện cho các đối tượng khai thác vận chuyển gỗ bằng đường thủy, mùa khô con

suối này cạn nước, các đối tượng khai thác vận chuyển gỗ bằng đường bộ nên khu

vực này nguy cơ bị mất lâm sản gỗ là rất lớn. Phía Nam và Đơng Nam của Vườn

giáp ranh với Ban quản lý rừng phòng hộ Đắk Mai đây là khu rừng tự nhiên đã bị

khai thác các loài cây gỗ có giá trị kinh tế, hiện trạng còn lại chủ yếu là rừng nghèo,

lồ ô xen gỗ. Mặc dù có ranh giới rõ ràng, song người dân ln có xu hướng xâm

nhập vào VQG Bù Gia Mập để khai thác lâm sản gỗ, lâm sản ngoài gỗ. Như vây, ảnh

hưởng của yếu tố vị trí, ranh giới ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý bảo tồn

đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng ở VQG Bù Gia Mập. Yếu

tố địa hình. VQG Bù Gia Mập là khu vực chuyển tiếp giữa Cao nguyên và đồng bằng

Nam Bộ nên địa hình bị chia cắt mạnh vùng chuyển tiếp gây khó khăn cho cơng tác

tuần tra kiểm sốt bảo vệ rừng cho lực lượng kiểm lâm. Yếu tố khí tượng thủy văn

cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo tồn đa dạng thực vật. Do đặc điểm khí

hậu gió mùa được chia làm 2 mùa rõ rêt, trong đó, mùa mưa thường đến mu ôn

với lượng mưa lớn chiếm tới 90% tổng lượng mưa cả năm nên dễ gây ra lũ lụt, xói

mòn; tạo điều kiện cho các đối tượng khai thác vận chuyển lâm sản bằng đường

thủy thông qua các con suối lớn, kho khăn cho lực lượng tuần tra kiểm sốt. Mùa

khơ kéo dài với khoảng 3-4 tháng khơ, trong đó có 1 tháng hạn, lượng mưa ít chỉ

chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, đơ ẩm khơng khí thấp chỉ đạt 30 - 50% gây

nguy cơ cháy rừng là rất lớn, đối tượng chụi tác động trực tiếp là các lồi thực vật.

Yếu tố đất đai ảnh hưởng tính đa dạng. Đất đai ở VQG Bù Gia Mập chủ yếu là đất



136



đỏ Bazan và Feralit nâu đỏ, tầng đất dày, hàm lượng chất dinh dưỡng cao thuận lợi

cho các loài thực vật rừng sinh trưởng và phát triển. Các lồi cây Nơng, Cơng

nghiệp cũng sẽ sinh trưởng và phát triển tốt trên các loại đất ở VQG Bù Gia Mập,

mặc dù từ khi thành lập Vườn đến nay không có vụ vi phạm về lấn chiếm đất rừng

để làm rẫy, song nguy cơ tiềm ẩn là rất lớn đến việc quản lý và sử dụng đất trong

VQG Bù Gia Mập.

- Ảnh hưởng của các yếu tố Kinh tế- Xã hội

Áp lực của người dân vùng đệm vào Vườn Quốc gia Bù Gia Mập là rất lớn.

Người dân vùng đệm của VQG Bù Gia Mập chủ yếu là dân tộc bản địa S’Tiêng và

M’Nông và một số đồng bào dân tộc di cư từ phía Bắc vào cư trú sau năm 1975. Tỷ

lệ người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 60%. Đặc biệt xã Quảng trực tỉnh

Đắk Nông tỷ lệ này tới 80%. Người dân vùng đệm từ xưa đến nay sống phụ thuộc

vào rừng. Các khu rừng tự nhiên ở vùng đệm đã bị khai thác để chuyển đổi sang

trồng cao su theo chủ trương của Nhà nước những năm 2006-2009. Do vậy, người

dân khơng còn nơi để khai thác những thứ cần thiết từ rừng để phục vụ cuộc sống

nên họ thường lén lút vào rừng VQG Bù Gia Mập để khai thác. Các xã vùng đệm là

các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đắk Nơng và Bình Phước đời sống của người dân

gặp nhiều khó khăn, kỹ thuật sản xuất nơng nghiệp lạc hậu, độc canh cây điều,

năng suất thấp do giống cây điều chưa được cải thiện để phù hợp với sự biến đổi

khí hậu như hiện nay.

- Khai thác lâm sản ngồi gỗ: Khai thác lâm sản ngoài gỗ ở VQG Bù Gia Mập

diễn ra khá phức tạp làm ảnh hưởng đến đời sống các loài động thực vật. Mặc dù

luật pháp đã cấm mọi hành vi xâm nhập rừng VQG dưới mọi hình thức, song do đời

sống của người dân còn nhiều khó khăn nên họ thường xuyên xâm nhập VQG để

khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ. Các loại lâm sản ngồi gỗ họ thường sử dụng

đó là măng cây lồ ơ, lá nhíp (rau rừng), khai thác cây lồ ô về để đan lát. Mặc dù lâm

sản gỗ rất quan trọng đối với cộng đồng người dân vùng đệm, nhưng phần đông

người dân ở đây cho rằng tài nguyên LSNG mới thực sự quan trọng đối với họ.



137



Những lý do mà người dân giải thích rằng nguồn tài nguyên LSNG quan trọng là: (1)

tài nguyên LSNG thì dễ kiếm và là nguồn cung cấp thực phẩm hàng ngày cho đồng

bào. Giả sử VQG Bù Gia Mập canh gác q nghiêm ngặt khơng cưa được cây thì vẫn

có thể khai thác LSNG làm thức ăn cho gia đình trong ngày, (2) tài nguyên LSNG là

nguồn thức ăn truyền thống, lá làm men nấu rượu, làm thuốc thuốc chữa bệnh

không thể thay thế được (3) tài nguyên LSNG là nguồn rau sạch trong bối cảnh thức

ăn thị trường không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, (4) tài nguyên LSNG là

nguồn thu nhập đáng kể trong những ngày nông nhàn.

3.4.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật ở VQG Bù Gia Mập

Từ những kết quả nghiên cứu về tính đa dạng và cấu trúc rừng của hai kiểu

rừng chính ở VQG Bù Gia Mập. Kết quả phân tích những nguyên nhân gây suy giảm

đa dạng thực vật đề tài luận án đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học

nói chung và bảo tồn đa dạng thực vật thân gỗ nói riêng sau:

3.4.2.1. Giải pháp xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu

Hiện nay với các phần mềm công nghệ trong các ngành rất phát triển nhằm

cập nhật, quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc truy xuất, đề xuất các giải pháp

cho nhà quản lý là rất cần thiết. Đề tài luận án này sử dụng một số phần mềm ứng

dụng để tạo lập, quản lý dữ liệu theo không gian và thười gian phục vụ nghiên cứu

khoa học, bảo tồn đa dạng thực vật.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu trên phần mềm BioMon 32

Toàn bộ số liệu ở các QXTV được thu thập và nhập vào phần mềm BioMon

32 để quản lý, truy xuất, lưu trữ theo các trình tự các sau:

Số liệu được nhập vào phần mềm BioMon 32 theo từng Quadrat (ô thứ

cấp). Mỗi tiêu chuẩn định vị bao gồm có 25 (Quadrat) tương ứng với 25 (ơ thứ cấp)

ở ngồi hiện trường. Các ô tiêu chuẩn định vị (các QXTV đại diện cho các trạng thái

rừng IIIA1, IIIA2, IIIA3 của hai kiểu rừng Rkx và Rkn) ký hiệu là Plot 1 đến Plot 6.

Mục đích của việc xây dựng cơ sở dữ liệu trên phần mềm BioMon 32 là quản lý các

cá thể thực vật trên ô mẫu định vị bằng không gian và thời gian. Với mỗi một cá thể



138



có mã hóa số hiệu cây, vị trí tương đối của cá thể cây rừng trong mỗi ô thứ cấp, ô

tiêu chuẩn định vị. Thời gian cập nhật dữ liệu.

Việc tạo lập, quản lý sử dụng cơ sở dữ liệu bằng phần mềm được trình bày ở

Phụ lục 21. Sử dụng phần mềm BioMon 32 có một ưu điểm nổi bật là khi thay thế

một cá thể cây rừng khi bị chết hoặc khơng còn bằng một cá thể cây khác phần

mềm sẽ tự động cập nhật tồn bộ thơng tin của cá thể mới (điều này thuận tiện

cho công tác nghiên cứu động thái rừng).

- Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu trên phần mềm MapInfo 11.0

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý trên phần mềm MapInfo thuận lợi và

dễ ràng hơn trên phần mềm BioMon 32. Toàn bộ dữ liệu điều tra trong các ô tiêu

chuẩn định vị được nhập vào phần mềm phần mềm MapInfo 11.0 thông qua phần

mềm Excel các dữ liệu được truy xuất thể hiện trực quan về mặt không gian, đặc

biệt là có thể liên kết dữ liệu từ phần mềm MapInfo 11.0 với phần mềm Google

Earth để chia sẻ thông tin trên toàn cầu. Việc truy xuất dữ liệu cũng thuận tiện và

dễ ràng, các thơng số thơng tin về lồi cây cũng được thể hiện như mã số cây, tên

loài cây, đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, trữ lượng cây tại thời điểm

đo đếm…Một phần quan trọng trong quản lý dữ liệu bằng phần mềm MapInfo 11.0

là cho phép cho ta chuyển dữ liệu sang phần mềm Google Earth để chia sẻ thơng

tin trên tồn cầu. Tuy nhiên, hạn chế của việc tạo lập, quản lý, truy xuất cơ sở dữ

liệu của phần mềm MapInfo 11.0 là không tự cập nhật sự thay đổi về phân tích các

thơng tin của từng loài cây một cách tự động như phần mềm BioMon 32 hoặc phải

trải qua một số công đoạn chuyển đổi mới có thể cho các kết quả về đa dạng thực

vật như phần mềm BioMon 32.

Kết quả truy xuất dữ liệu ở phần mềm MapInfo ít thơng tin, không cho biết

thời gian khởi tạo dữ liệu tại thời điểm nhập dữ liệu nên việc ứng dụng phần mềm

này cho việc nghiên cứu lâu dài và nghiên cứu động thái rừng bị hạn chế. Tuy

nhiên, phần mềm MapInfo có một thế mạnh là có thể liên kết với phần mềm mở

Google Earth để chia sẻ thông tin trên tồn cầu và đưa ra các thơng tin về mặt



139



khơng giai một cách trực quan. Hình 3.36 thể hiện kết quả ứng dụng phần mềm

trong việc tạo lập, quản lý cơ sở dữ liệu bằng phần mềm MapInfo.



Hình 3.36: Cơ sở dữ liệu được cập nhật trong MapInfo

- Quản lý thông tin, chia sẻ dữ liệu bằng phần mềm Google Earth

Quản lý thông tin dữ liệu trên phần mềm Google Earth cho phép lưu trữ

thông tin giống như phần mềm Mapinfo 11.0 tuy nhiên nó cho phép chia sẻ thơng

tin dữ liệu về đa dạng sinh học trên tồn cầu.



Hình 3.37: Quản lý dữ liệu đa dạng thực vật bằng phần mềm Google Earth

Hình 3.37 cho thấy việc quản lý đa dạng thực vật nói riêng và đa dạng sinh

học nói chung cho ta các thơng tin về mặt khơng gian, vị trí, tọa độ các cá thể cây

rừng trên hiện trường.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.41: Thống kê diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi sang mục đích khác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×