Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.35: Quan hệ giữa các cấp Hvn của kiểu rừng Rkn

Hình 3.35: Quan hệ giữa các cấp Hvn của kiểu rừng Rkn

Tải bản đầy đủ - 0trang

128



- Khai thác lâm sản trái phép

+ Khai thác lâm sản trái phép được xử lý theo Pháp luật

Kết quả phỏng vấn cán bộ Thanh tra - Pháp chế của Hạt Kiểm lâm Vườn

trước và trong những năm VQG Bù Gia Mập mới thành lập thì nạn khai thác lâm

sản diễn ra khá phổ biến, các vụ khai thác lâm sản diễn ra trên diện rộng, đây là

một trong những nguyên nhân chủ yếu trực tiếp gây suy giảm đa dạng thực vật ở

VQG Bù Gia Mập đặc biệt là các lồi cây gỗ q, hiếm nhóm IIA của Nghị định

32/NĐ-CP như Gõ đỏ, Cẩm lai bà rịa, Giáng hương trái to…Phụ lục 20 là kết quả

thống kê các vụ xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực khai thác, vận chuyển lâm

sản. Kết quả cho thấy trong 12 năm (từ năm 2005-2016) tổng số vụ vi phạm là 345

vụ, số lâm sản tịch thu là 49,18 m 3 gỗ tròn và 14,28 m3 gỗ xẻ. Trong đó, gỗ tròn

nhóm IIA (gỗ tròn nhóm IIA là gỗ thuộc phụ lục nhóm IIA Nghị định 32/2006/NĐCP) chủ yếu là gỗ Gõ đỏ, Cẩm lai, Giáng hương với khối lượng tịch thu 30,24 m 3 và

6,4 m3 xẻ. Gỗ thông thường (là các loại gỗ Bằng lăng, Sao đen, Dầu rái, Sến mủ, Trai

lý…khơng thuộc gỗ nhóm IIA) với khối lượng gỗ tròn tịch thu là 18,93 m 3 và 7,88 m3

gỗ xẻ. Kết quả này cho thấy, nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật do khai

thác trái phép tuy số lượng không lớn so với một số VQG trong vùng, nhưng khối

lượng gỗ bị khai thác là ác lồi gỗ q, hiếm và có giá trị kinh tế, ngoài ra một số vụ

khai thác trái phép lực lượng kiểm lâm không phát hiện nên không xử lý vi phạm

hành chính. Phụ lục 20 phần thống kê số vụ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

quản lý bảo vệ rừng từ năm 2005-2017 là 349 vụ, nhưng tập trung ở các năm 2005,

2006, 2007…các năm sau này số vụ xảy ra giảm dần cả về số vụ và tính chất mức

độ. Số liệu này cho thấy việc bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng

được quan tâm.

+ Khai thác lâm sản trái phép lâm sản gỗ của người dân vùng đệm

Kết quả phân tích số liệu điều tra phỏng vấn 120 hộ dân vùng đệm VQG Bù

Gia Mập của 3 xã Quảng Trực, Bù Gia Mập, Đắk Ơ được thể hiện ở Bảng 3.40. Bảng

3.40 cho thấy việc sử dụng lâm sản gỗ như sau:



129



Sử dụng lâm sản gỗ để làm nhà: Trong 120 hộ điều tra thì số hộ sử dụng tồn

bộ gỗ để làm nhà là 63 hộ, 48 hộ không làm nhà bằng gỗ nhưng vẫn sử dụng gỗ

cho các bộ phận khác như làm đòn tay, cột, cửa gỗ… tổng số gỗ sử dụng là 672,308

m3 hộ sử dụng nhiều nhất là 25 m3, hộ sử dụng ít nhất là 0,175 m3 bình quân mỗi

hộ sử dụng khoảng 6,1 m3. Số hộ sử dụng từ 7-25 m 3 là 38 hộ với khối lượng gỗ là

467,76 m3 chiếm 70% số lượng gỗ của 120 hộ, số hộ sử dụng từ 6 - 7 m 3 là 10 hộ,

số hộ sử dụng từ 5 - 6 m 3 là 6 hộ và số hộ sử dụng khối lượng gỗ từ 5 m 3 trở xuống

là 57 hộ với khối lượng gỗ 101,048 m 3 chiếm 15%. Chỉ có 10 hộ trong số 120 hộ

điều tra không sử dụng gỗ cho làm nhà. Các loại gỗ sử dụng cho làm nhà chủ yếu là

các loại gỗ thơng thường (khơng thuộc gỗ q hiếm nhóm IIA thuộc phụ lục của NĐ

32/2006/NĐ-CP). Kết quả thể hiện Bảng 3.40.

Kết quả bảng 3.40 cho thấy khối lượng gỗ sử dụng cho việc làm nhà là rất

lớn, đặc biệt là số hộ sử dụng từ 7 – 25 m 3 chiếm tới 71%. Qua tính tốn số liệu cho

thấy các hộ sử dụng từ 3 m 3 gỗ trở lên chủ yếu là các hộ sử dụng cho làm nhà bằng

gỗ, còn các hộ sử dụng khối lượng gỗ nhỏ hơn 3 m 3 chủ yếu là sử dụng các bộ phận

trong ngôi nhà.

Sử dụng lâm sản gỗ để làm nội thất: Trong 120 hộ được điều tra chỉ duy nhất

một hộ không sử dụng gỗ để làm đồ nội thất trong nhà. Tổng số gỗ sử dụng làm nội

thất 196,614 m3/120 hộ bình quân mỗi hộ sử dụng 1,638 m3. Đồ gỗ sử dụng làm

nội thất nội thất chủ yếu như là sập, bộ bàn ghế uống nước, bộ bàn ăn, tủ,

giường…hộ sử dụng nhiều nhất là 12,97 m3, hộ sử dụng ít nhất là 0,05 m3. Số hộ sử

dụng từ 0,05- 1 m3 là 52 hộ, có 32 hộ sử dụng từ 1-2 m 3; 21 hộ sử dụng từ 2-3 m3,

có 8 hộ sử dụng từ 3-4 m3 và từ 4-5 m3 là 3 hộ, từ 5-7 m3 là 3 hộ và có một hộ sử

dụng trên 10 m3. Điều đặc biệt là các đồ nội thất chủ yếu làm bằng các loài gỗ quí,

hiếm như Gõ đỏ, Cẩm lai, Giáng hương các loại gỗ này chủ yếu đóng giường, tủ,

bàn ghế uống nước, bàn ăn còn các loại gỗ như Sao đen, Dầu Rái…chủ yếu là làm

sập để nằm. Gỗ các hộ sử dụng làm đồ nội thất chủ yếu là đi mua sản phẩm ở các

xã Đắk Ơ, Quảng Trực, Bù Gia Mập. Kết quả cho thấy nhu cầu về gỗ quí, hiếm sử



130



dụng cho đóng đồ nội thất là rất lớn, điều này là nguyên nhân trực tiếp gây nguy cơ

tuyệt chủng các lồi thực vật thân gỗ q, hiếm.



Bảng 3.40: Tổng hợp số liệu điều tra sử dụng gỗ trong vùng đệm

VQG Bù Gia Mập

Sản phẩm

STT



Mức SD

1

0,05-1 m3

2

1- 2 m3

3

2 - 3 m3

4

3 - 4 m3

5

4 - 5 m3

6

5 - 6 m3

7

6 - 7 m3

8

Trên 7 m3

Tổng cộng



Gỗ làm nhà

Số hộ

27

13

8

0

9

6

10

38

111



KL (m3)

13,51

21,6

22,74

0

43,2

35,5

68

467,76

672,31



Gỗ làm nội thất

Số hộ

52

32

21

8

3

2

2

2

120



KL (m3)

26,82

44,75

53

27

14,12

10,5

0

20,58

196,61



Gỗ nguyên liệu

Số hộ

8

12

4

4

0

1

1

1

31



KL (m3)

5,6

19,48

10,76

14,41

0

5

6

10

71,21



Ghi chú: Mức SD: Mức sử dụng. KL: khối lượng

Sử dụng lâm sản gỗ làm nguyên liệu: Đây là nguồn lâm sản gỗ (tích trữ trong

gia đình để dùng sau này). Trong 120 hộ chỉ có 31 hộ sử dụng gỗ làm nguyên liệu

với tổng số gỗ là 71,21 m3 số hộ tích trữ nhiều nhất là 01 hộ với khối lượng 10 m 3

(chủ yếu là gỗ thành phẩm như cánh cửa, đòn tay gỗ…) Số hộ sử dụng từ 0,05- 1

m3 là 8 hộ, có 12 hộ sử dụng từ 1-2 m 3; 4 hộ sử dụng từ 2-3 m 3, có 4 hộ sử dụng từ

3-4 m3 và từ 4-6 m3 là 2 hộ và chỉ có một hộ sử dụng trên 10 m 3. Gỗ nguyên liệu tích

trữ này chủ yếu là các loại gỗ Sao, Dầu với số lượng nhiều, còn các lồi Gõ đỏ, Cẩm

lai, Giáng hương thì số lượng rất ít.



131



Từ kết quả điều tra về nhu cầu sử gỗ trong nhân dân vùng đệm cho thấy nhu

cầu sử dụng gỗ cho sinh hoạt của người dân vùng đệm là rất lớn nhất là sử dụng gỗ

để làm nhà. Điều này cho thấy áp lực về nhu cầu sử dụng gỗ từ người dân vùng

đệm là rất lớn, với nhu cầu sử dụng quí, hiếm để làm đồ nội thất là 1,638 m 3/hộ là

nguy cơ gây suy giảm và có thể dẫn đến tuyệt chủng các lồi cây gỗ q. Mặc dù

việc khai thác gỗ để sử dụng trong nhân dân mang tính chất tạm thời trong một

giai đoạn nào đó, song nó đã phần nào ảnh hưởng trực tiếp tính đa dạng thực vật

ở VQG Bù Gia Mập.

- Chuyển đổi rừng tự nhiên sang mục đích khác

Kết quả điều tra số liệu diễn biến tài nguyên rừng VQG Bù Gia Mập từ năm

2004 đến năm 2017 ở Bảng 3.41. Diện tích loại đất, loại rừng đã thực hiện chuyển

mục đích sử dụng gồm:

+ Chuyển đổi rừng tự nhiên sang mục đích Quốc phòng

Chuyển đổi rừng tự nhiên làm đường tuần tra Biên giới

Theo kết quả theo dõi năm 2004 chuyển 123 ha rừng tự nhiên làm con đường

tuần tra biên giới để phục vụ mục đích Quốc phòng, con đường này đi dọc đường

biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia làm chia cắt sinh cảnh, đặc biệt ảnh hưởng đến

khả năng di cư của các loài thực động vật…

- Chuyển đổi rừng tự nhiên làm các Đồn Biên phòng

Từ năm 2004 đến nay VQG Bù Gia Mập đã chuyển 14,8 ha rừng tự nhiên để

xây dựng 03 Đồn biên phòng trong vùng lõi của Vườn. Tồn bộ diện tích này được

khai thác trắng để xây dựng các cơng trình của Đồn biên phòng làm mất đi vĩnh

viễn các lồi thực vật rừng trên diện tích giải phóng mặt bằng xây dựng đồn biên

phòng. Năm 2017 Thủ tướng chính phủ đã đồng ý chuyển 3,0 ha để xây dựng thêm

một Đồn biên phòng. Như vậy tổng diện tích chuyển đổi rừng tự nhiên sang làm

các Đồn biên phòng là 17,8 ha.

Chuyển đổi rừng tự nhiên để làm đường điện phục vụ cho quốc phòng

Năm 2012 Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đã chuyển 12 ha rừng tự nhiên để Bộ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.35: Quan hệ giữa các cấp Hvn của kiểu rừng Rkn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×