Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc của luận án

Cấu trúc của luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm dùng trong luận án

1.1.1. Khái niệm về đa dang sinh học

Thuật ngữ "đa dang sinh học" được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa

học Norse và McManus vào năm 1980. Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có

liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một

lồi) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến

nay đã có hơn 25 định nghĩa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học", trong đó định nghĩa

của tổ chức FAO: "đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình

thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh

thái" được sử dụng rộng rãi hơn cả. Công ước đa dạng sinh học đã định nghĩa “Đa

dạng sinh học” có nghĩa là tính biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các

nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực

khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần. Tính đa dạng này thể hiện ở

trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh thái [22]. Đa dạng sinh học bao gồm

sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng

loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) (Từ điển Đa dạng sinh học và phát

triển bền vững, 2001) [7]. Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và

hệ sinh thái trong tự nhiên (Luật Đa dạng sinh học, 2008) [52]. Từ những định

nghĩa trên cho thấy Đa dạng sinh học chỉ sự phong phú của thế giới sinh vật ở ba

cấp độ gen, loài và hệ sinh thái.

1.1.2. Khái niệm về cấu trúc rừng



7



Husch B. (1982), cấu trúc rừng là sự phân bố kích thước của lồi và cá thể

trên diện tích rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện quan hệ đấu

tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa

các sinh vật rừng với nhau. Cấu trúc rừng là một khái niệm chung để chỉ quy luật

sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên QXTV rừng theo không gian và thời

gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [38]. Ngô Quang Đê và cs (1992) [23], cấu trúc rừng là

sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà

qua đó các lồi có đặc tính sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hòa và đạt tới

sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên. Cấu

trúc lâm phần là kết quả tổng hợp của đặc tính sinh trưởng lồi cây, điều kiện mơi

trường và biện pháp tác động (Vũ Tiến Hinh, 2012) [28].

1.1.3. Khái niệm về thực vật thân gỗ

Theo Huxley, A (1992) [89] cây thân gỗ là thực vật thân có thớ gỗ sống lâu

năm. Cây bao gồm một thân gỗ phát triển trên mặt đất, trên thân có nhiều nhánh

cấp 2 và có ngọn hướng lên trên. Mitchell, A. F. (1974) [92], Rushforth, K. (1999)

[97] Chiều cao thấp nhất của cây trưởng thành thay đổi từ 3 - 6m và đường kính

thân cây nhỏ nhất là 10 cm. Các cây thân gỗ có thân khơng đạt được những yếu tố

trên thì được gọi là cây bụi. Như vậy, thực vật thân gỗ là những cây có đường kính

D1,3 từ 10 cm và chiều cao từ 3 đến 6 mét.

1.2. Trên thế giới

1.2.1. Nghiên cứu về thảm thực vật rừng

Thực vật rừng hay lớp phủ cây cỏ trên mặt trái đất, gồm các quần thể thực

vật thân gỗ, thân thảo nó có vai trò khơng những cung cấp lâm sản phục vụ cho đời

sống con người mà còn có tác dụng bảo vệ mơi trường sinh thái, hạn chế tác hại

của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão... (Thái Văn Trừng, 1999) [67]. Phân loại thảm

thực vật là một nội dung quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thảm

thực vật rừng được hình thành, tồn tại và phát triển trên nhiều điều kiện khác

nhau. Vì vậy, sắp xếp và phân loại thảm thực vật là vấn đề rất khó và đã có nhiều hệ



8



thống phân loại khác nhau.

- Phân loại thảm thực vật theo các điều kiện sinh thái

Schimper A.F.W. (1918) đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu,

quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi. Sennhicop (1964) [57] đã đưa ra quan

điểm phân loại thảm thực vật rừng theo điều kiện nơi sống và quần xã thực vật,

trong đó có các kiểu thảm thực vật đặc trưng. Kiểu phân loại này được dùng nhiều

với loại đồng cỏ sử dụng làm cơ sở chăn nuôi và các quần xã cây trồng. Trong quần

hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng và

rừng gai. Ngồi ra, còn có thêm 2 kiểu là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt

đới (Thái Văn Trừng, 1978) [66].

- Phân loại thảm thực vật theo cấu trúc ngoại mạo

UNESCO (1973) [106] đã đưa ra khung phân loại chung cho thảm thực vật

thế giới thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 và nhỏ hơn. Tiêu chuẩn cơ bản của

hệ thống phân loại này là cấu trúc, ngoại mạo. Bậc phân loại cao nhất của hệ thống

này là lớp quần hệ bậc thấp nhất ở dưới phân quần hệ. Theo Udvardi (Walters và

Hamilton, 1993) trên thế giới bao gồm nhiều chỉnh thể sinh vật. Sự phân chia đó

tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và các sinh vật sống trên đó. Mỗi một chỉnh thể

được xem là một hệ sinh thái lớn bao gồm nhiều hệ sinh thái nhỏ tập hợp lại. Sự

phân bố đó tùy thuộc vào nhiều hệ sinh thái khác nhau và được phân chia thành

14 kiểu rừng (Cao Thị Lý và cs, 2002) [40].

- Phân loại thảm thực vật theo động thái và nguồn gốc phát sinh

Patrotski (1925) [47], đã đưa ra hệ thống phân loại trên cơ sở xác định

nguồn gốc hệ thực vật, hệ thống phân loại quan trọng nhất của các quần xã thực

vật. Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của

Clement. Theo đó, trên cơ sở phân loại Climax đã tạo cho quần xã thực vật ổn định

trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã

được hình thành từ lâu, trong đó khí hậu là nhân tố để xác định Climax. Dựa vào

các đặc điểm khác nhau của thảm thực vật ở các trạng thái như quần xã đỉnh cao,



9



quần xã dẫn xuất, hay quần xã ở các giai đoạn của quá trình hình thành quần xã

cao đỉnh, các quần xã có sự giống nhau về loài ưu thế, về trạng thái của các loài ưu

thế trong cấu trúc của quần xã. Theo trường phái này khẳng định tính liên tục của

thảm thực vật. Đại diện cho trường phái này là Ramenski (1938) [54], Whittaker

(1953) [108], Sotrava (1972) [58], Whittaker (1975) [109], lớp phủ thực vật phức

tạp không phải bởi các quần xã mà bởi các quần thể, nghĩa là tập hợp các cá thể

của loài.

Gần đây các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thực vật

trên cạn thành 16 kiểu quần hệ, bao gồm rừng mưa nhiệt đới, rừng mưa á nhiệt

đới, rừng mưa lạnh ôn đới, rừng xanh mưa mùa, rừng lá rộng xanh mùa hè, rừng lá

kim rộng ôn đới, kiểu quần hệ cây gỗ có gai, kiểu cây gỗ có lá rộng, kiểu thảo

nguyên rừng, kiểu trảng cỏ nhiệt đới, kiểu thảo nguyên ôn đới, kiểu đầm lầy, kiểu

hoang mạc nóng và kiểu hoang mạc khơ lạnh (Thái Văn Trừng, 1978) [66].Ngồi ra,

các nhà lâm học Hoa Kỳ còn đưa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh

cực, đa đỉnh cực (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [62].

- Phân loại thảm thực vật theo thành phần hệ thực vật

Ở châu Âu có 2 hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu: (i) hệ thống phân

loại các quần xã thực vật của Braun - Blanquet (1928) [112] theo trường phái của

Pháp (ii) hệ thống phân loại các quần xã thực vật bởi những nhà địa thực vật của

Đức (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [62]. Nguyên tắc cơ bản của trường phái này là dựa

vào loài đặc trưng để phân chia quần hợp thực vật. Yếu điểm của trường phái này

là chỉ chú ý đến lồi thực vật, ít chú ý đến các yếu tố khác, hơn nữa phương pháp

này cần một số lượng rất lớn các bảng mô tả ô tiêu chuẩn nên rất tốn kém và khó

thực hiện.

Nghiên cứu về phân loại thảm thực vật trên thế giới đã được tiến hành từ

lâu, hầu hết các nghiên cứu về phân loại thảm thực vật đều hướng vào việc xây

dựng khung phân loại, trên cơ sở đó xác định các kiểu thảm thực vật phục vụ cho

các nghiên cứu tiếp theo như kinh doanh rừng, đánh giá hiện trạng, phân bố của



10



thảm thực vật. Đối với lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng thực vật và cấu trúc rừng thì

việc nghiên cứu thảm thực vật là một nội dung cần thiết nhằm xác định đối tượng,

môi trường, cảnh quan và các yếu tố sinh thái liên quan đến nơi sống, điều kiện

sinh trưởng phát triển của thực vật làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược bảo tồn

loài, bảo tồn sinh cảnh.

1.2.2. Nghiên cứu về đa dạng và các chỉ số đa dạng sinh học

Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật trên thế giới

được bắt đầu từ rất sớm bằng những cơng trình phân loại về thực vật và động vật.

Vấn đề này ngày nay đã trở thành một chiến lược trên thế giới. Nhiều tổ chức quốc

tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển

đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu. Đa dạng sinh học (ĐDSH) của hệ sinh thái

đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái. Tuy nhiên,

ĐDSH ngày càng bị đe dọa bởi nạn phá rừng và suy thoái rừng do nhiều nguyên

nhân trực tiếp hoặc gián tiếp khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu, bảo tồn ĐDSH đã trở

thành một nhiệm vụ quan trọng ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu.

Trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu định lượng đa dạng thực vật

thơng qua việc tính tốn các chỉ số đa dạng bằng phương pháp sử dụng ô định vị, ơ

mẫu với các kích thước khác nhau.

Curtis và MacIntosh (1951) [86] đã so sánh vai trò của các loài trong quần xã

theo chỉ số giá trị quan trọng (IV) thông qua ba đại lượng: độ thường gặp tương

đối (F%), mật độ tương đối (N%) và độ ưu thế tương đối (G%) theo công thức: IV%

= (F% + N% + G%)/3. Robert K.C. and Jonathan A.C. (1994) [96] khi nghiên cứu

ĐDSH đã hướng dẫn tính tốn số lượng ơ đo đếm ĐDSH bằng phương pháp ngoại

suy. Theo phương pháp này, số lượng ô đo đếm trong từng khu vực nghiên cứu

được xác định dựa vào số lồi tích lũy qua các ơ đo đếm. Nếu số lồi khơng tăng

lên thì số lượng ơ đo đếm sẽ dừng lại và ngược lại, nếu số lồi còn tăng thì tiếp tục

mở rộng số lượng ơ đo đếm.

Có thể thấy nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới được tiến hành từ rất



11



sớm, những chỉ số đánh giá ĐDSH được nhiều nước trên thế giới quan tâm áp

dụng, trong đó chỉ số Shannon và Weiner (1963) [98] được áp dụng phổ biến khi

xác tính ĐDSH ở một khu vực nào đó; chỉ số mức độ quan trọng thường được áp

dụng khi tính tốn tỷ lệ tổ thành sinh thái của các lồi trong quần xã thực vật. Cho

đến nay thì những chỉ số này vẫn được áp dụng phổ biến. Các nghiên cứu đa dạng

trên thế giới sử dụng các kích thước ô mẫu khác nhau để nghiên cứu. Tuy nhiên, ơ

mẫu có diện tích 01 ha được sử dụng nhiều nhất để nghiên cứu ĐDSH cho một

vùng rộng lớn, đặc biệt là nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ. Khi đo đếm các

chỉ tiêu sinh trưởng của cây rừng thường đo các cây gỗ có đường kính D1,3 ≥ 10 cm.

Whittaker (1975) [109] và Sharma (2003) [99] đã phân biệt 3 loại đa dạng

sinh học loài khác nhau: đa dạng alpha (), đa dạng beta () và đa dạng gama ().

Các chỉ số tính tốn của ĐDSH được thiết lập để mô tả sự ĐDSH cho những vùng

khác nhau về địa lý. Tổng số loài trong một quần xã thường được mô tả bằng chỉ số

đa dạng alpha. Sự đa dạng alpha rất gần với khái niệm về sự giàu có của lồi và có

thể dùng để so sánh tổng số loài trong những HST khác nhau. Khái niệm về tính đa

dạng beta mơ tả mức độ dao động thành phần lồi khi các yếu tố mơi trường thay

đổi. Tính đa dạng gamma áp dụng cho những khu vực rộng lớn hơn về mặt địa lý.

Magurran A.E. (2004) [90] khi nghiên cứu định lượng ĐDSH, tác giả tập trung vào

mơ tả sự đa dạng về lồi, bao hàm hai chỉ số ĐDSH là alpha () và beta (). Các mơ

hình về độ phong phú lồi, các phương pháp ước lượng độ giàu có và các phân tích

thống kê về ĐDSH cũng được trình bày một cách rõ ràng. Theo đó, mức độ đồng

đều hoặc đường cong ưu thế loài được sử dụng để đánh giá về mức độ ĐDSH,

đồng thời hướng dẫn cách lựa chọn chỉ số ĐDSH phù hợp đúng cho từng phạm vi

nghiên cứu.

Dallimer F. (1992) [87] đã thiết kế một vùng rộng lớn để giám sát đa dạng

sinh học ở khu vực nhiệt đới với diện tích 25 ha (500 x 500 m), chia thành 25 ơ với

diện tích mỗi ơ là 1 ha/ơ. Trong ô 1 ha lại được chia thành 25 ô với diện tích 400



12



m2/ơ được gọi là những ơ đo đếm. Trong ô đo đếm lại được chia thành 16 ô nhỏ,

mỗi ơ có diện tích 25 m 2 (5 x 5 m). Blanc L. và cs (1996) [82] đã thiết lập 5 ơ định vị,

mỗi ơ có diện tích 1ha trên vùng đất thấp ở VQG Cát Tiên, sau đó tiến hành thu

thập dữ liệu của các cây gỗ có đường kính ngang ngực ≥ 10 cm, đo chiều cao cây và

phân ra thành tầng cây trội với chiều cao cây ≥ 25 m, tầng dưới có chiều cao < 25

m, rồi tiến hành thống kê số lượng cá thể. Tác giả đã tính tốn định lượng một số

chỉ tiêu đa dạng sinh học như chỉ số đa dạng Shannon-Weiner cho kết quả thấp

nhất 1,98 và cao nhất là 5,64, chỉ số phong phú loài thấp nhất là 57 và cao nhất là

91, chỉ số đa dạng Simpson cao nhất là 0,97 và thấp nhất là 0,51 tương đương với

chỉ số ưu thế Simpson là (0,03 và 0,49). Tính chỉ số quan trọng IV của lồi bằng

cơng thức IVIi = Di x Gi trong đó; Di = (ni/n) *100 là mật độ tương đối của loài thứ I

và Gi = (gi/g) *100 là tiết diện ngang tương đối của loài thứ i. Tác giả đã tính số

cây/ha của 5 ơ tiêu chuẩn, số cây giao động từ 195 cây/ha đến 540 cây/ha. Tiết

diện ngang dao động từ 29,3 đến 69,41 m 2/ha. Phân bố số cây ở cấp kính từ 10-20

cm là cao nhất.

Terry C. H và CS (2001) [104] đã thiết lập hơn 300 ơ mẫu có kích thước 1 ha

(100 x 100 m) ở 23 quốc gia, được ký hiệu là: BDP. Xung quanh các ô mẫu này thiết

lập 38 ơ mẫu thứ cấp có kích thước 1.000 m2 (20 x 50 m), được ký hiệu MWP. Trong

các ơ mẫu đo đếm các cây có đường kính ngang ngực ≥ 10cm. Để đánh giá đa dạng

thực vật, tác giả đã xác định chỉ số quan trọng (IV) và đặc biệt là nghiên cứu chỉ số

che phủ vùng dựa trên mật độ tương đối và tiết diện ngang tương đối theo công

thức: Chỉ số che phủ vùng (CV%) = Mật độ tương đối (RF%) + Ưu thế tương đối (RD

%).

Slik J. W. F và cs (2003) [101] đã phân tích hệ thực vật cây họ Dầu trên vùng

đất thấp ở Borneo trên cơ sở thiết lập 28 ô mẫu nghiên cứu ở 6 vùng khác nhau và

rút ngẫu nhiên 640 cá thể, đo đếm các cây có D 1,3 ≥ 9,8cm. Sử dụng phương pháp

phân tích ma trận tương đồng, sơ đồ nhánh UPGMA của Sorensen và Steinhaus

(1943) [102] để phân tích mối quan hệ giữa các vùng nghiên cứu, sự ảnh hưởng



13



của nhân tố lượng mưa hàng năm, điều kiện địa hình đến cấu trúc hệ thực vật giữa

các ô nghiên cứu. Kết quả đã kết luận đa dạng thực vật phụ thuộc rất lớn vào yếu

tố địa hình và lượng mưa hàng năm.

Wending Huanga và cs (2003) [107] đã nghiên cứu những ảnh hưởng của

cấu trúc và tổ thành loài đến đa dạng loài trong rừng nhiệt đới bằng cách sử dụng

dữ liệu của 279 ô điều tra ĐDSH tại Khu Bảo tồn East Usambara Mountains (EUM)

ở Đơng Bắc Tanzania trong số 25 “điểm nóng” về bảo tồn ĐDSH trên toàn cầu. Tác

giả đã sử dụng phương pháp lấy mẫu điều tra thảm thực vật dựa trên trên một hệ

thống ô lưới 450 x 450 m được xây dựng trên tuyến điều tra, trong đó thiết lập 1 ơ

có diện tích 50 x 20 m đo tất cả các cây có D



1,3



≥ 10 cm. Kết quả cho thấy: (1) độ



giàu và độ phong phú của loài ở (EUM) có thể so sánh với độ giàu có và độ phong

phú lớn nhất ở khu vực Trung và Nam Mỹ và trong khu vực Đơng Nam Á; (2) Khơng

có sự khác biệt đáng kể về số lượng loài giữa rừng thành thục và rừng bị khai thác

hoặc bị cháy trước đó hay những khu vực mà trước đó là rẫy. Tuy nhiên, độ giàu có

của lồi và mật độ lâm phần trong rừng thành thục nguyên sinh ít hơn đáng kể so

với khu rừng bị tác động. Điều này có nghĩa rằng ĐDSH của rừng thành thục

nguyên sinh ổn định hơn và sự tác động thường xuyên của con người sẽ đe dọa sự

ổn định của đa dạng sinh học. Kết quả nghiên cứu này cũng đã khẳng định, tính đa

dạng của các lồi thực vật trong rừng nhiệt đới Tanzania đã bị ảnh hưởng đáng kể

bởi cấu trúc rừng và thành phần lồi có trong rừng.

Boris. C (2004) [83] khi nghiên cứu chức năng và hoạt động đánh giá nông

nghiệp trong một vùng tác giả đã chú ý đến việc đánh giá tác động của con người

đến ĐDSH vùng nông nghiệp và các biện pháp bảo tồn. ĐDSH rất phức tạp và nó

được chia ra các mức độ đó là đa dạng gen, lồi, hệ sinh thái và q trình hệ sinh

thái và giữa chúng có quan hệ với nhau. Khi đánh giá ĐDSH các tác giả đã sử dụng

công cụ đánh giá bằng định lượng, các chỉ số cơ bản sử dụng trong nghiên cứu

định lượng đó là: Từ việc đo đếm trực tiếp đã đưa ra được các taxa như là số họ,

chi, loài, thứ, kiểu sinh thái của mỗi vùng, sử dụng một số chỉ số định lượng khác



14



như độ phong phú loài (Species richness S) được tính bởi cơng thức S = n i trong đó

ni lồi thứ i. Chỉ số đa dạng Alpha (H α’) được tính bởi cơng thức (Hα’) = pi lnpi trong

đó pi là tần suất xuất hiện lồi thứ i. Chỉ số Beta (H β’) = (S/m)-1, trong đó S là tổng

số loài trong khu vực nghiên cứu, m là số lồi trung bình của mỗi vùng. Chỉ số đồng

đều J được tính bởi cơng thức J = H’/lnS. Chỉ số ưu thế D tính bởi cơng thức D =

∑pi2. Chỉ số hiếm Ir = ∑Ci/S, trong đó Ci là hệ số hiếm của loài nghiên cứu (biến động

từ 1 - 13).

Gaurino. C, Napolitano. F (2006) [88] đã nghiên cứu các quần xã thực vật và

ĐDSH ở vùng Taburno-Camposauro với diện tích vùng nghiên cứu 137,8 km 2 và ở

độ cao trên 1.300 m so với mực nước biển với ô nghiên cứu (1 x 1 km). Bằng việc

điều tra thống kê các loài thực vật, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được các loài hiếm

và mức độ hiếm. Căn cứ kết quả tính tốn chỉ số hiếm IR để đánh giá mức độ hiếm

của từng loài và quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu theo các thang bậc sau

đây: IR từ 78,08 - 95% là loài hiếm R (Rare species), khi chỉ số IR từ 95 - 97% là loài

rất hiếm MR (Very rare species), chỉ số IR > 97% là loài cực kỳ hiếm RR (Extremely

rare species). Từ kết quả đánh giá mức độ hiếm của từng loài, quần xã tác giả đưa

ra các biện pháp bảo tồn các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu.

Mijan Uddin S.M. và Misbahuzzaman K. (2007) [91] khi nghiên cứu đa dạng

thực vật ở VQG Dulhazara Safari của Bangladesh đã sử dụng chỉ số Margalef (d) để

đánh giá độ phong phú loài và sử dụng chỉ số đa dạng Shannon - Weiner (H’e) để

xác định sự đa dạng về loài. Phương pháp được sử dụng để đánh giá tính đa dạng

lồi thực vật là phương pháp lấy ngẫu nhiên phân tầng. Số ô mẫu được xác định

bằng việc áp dụng đường cong tích lũy lồi và kích thước mẫu dùng để điều tra

được lấy bằng 40% hệ số biến động trừ 10% sai số.

Addo - FordJour P. và cs (2009) [81] khi nghiên cứu đa dạng thực vật trong

rừng ẩm nửa rụng lá sau tác động của con người và sự xâm lấn của thực vật thuộc

Khu Bảo tồn Tinte Bepo ở 3 khu rừng (không bị tác động: UF, bị tác động- xâm lấn:

DIF và bị tác động: DF). Những kiểu rừng này được chọn ở những khu rừng có địa



15



hình tương đối giống nhau để loại bỏ tác động của chúng đối với thành phần thực

vật. Mỗi loại rừng lập 3 ơ có kích thước 50 x 50 m. Mỗi ô này lại được chia thành 4

ơ nhỏ hơn có kích thước là 25 x 25 m để dễ ràng thu thập số liệu. Tiến hành đo tất

cả các cây cây có D1,3 ≥ 10 cm và chiều cao Hvn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ

giàu có về lồi của tất cả các dạng sống cao nhất ở khu UF tiếp theo là ở khu DIF và

khu DF. Định lượng đa dạng thực vật trong khu UF có chỉ số Shinnon Weiner (H’e =

3,6) cao hơn chỉ số Shinnon Weiner so với khu DIF (H’e = 3,3) và DF (H’e = 2,9).

- Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn ĐDSH

Tài nguyên thiên nhiên là có hạn trong khi nhu cầu của nhân loại thì ngày

một tăng, một mặt là sự tăng dân số rất nhanh, mặt khác là sự đòi hỏi trong tiêu

dùng và mức sống của con người cũng tăng lên không ngừng. Thêm vào đó, tự con

người làm ơ nhiễm mơi trường sống thông qua chiến tranh, khai thác quá mức

hoặc qui hoạch tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng chưa hợp lý.

Nhận thức được giá trị không thể thiếu của ĐDSH đối với sự tồn tại của xã hội loài

người và sự suy giảm với tốc độ ngày càng nhanh, nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời

để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trên

phạm vi toàn cầu như: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN); Chương trình

mơi trường Liên hợp Quốc (UNEP); Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF);

Chương trình con người và sinh quyển (MAB); Uỷ ban giáo dục môi trường và công

viên quốc gia, Uỷ ban các VQG. Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của chúng ta đang

phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu những tài nguyên đó bị giảm sút thì

cuộc sống của chúng ta sẽ bị đe doạ. Vì vậy, sau Hội nghị tại Rio De Janeiro (Brazil)

tháng 6 năm 1992 nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách

mang tính chất chỉ dẫn đã ra đời. Năm 1990 WWF đã xuất bản cuốn sách về tầm

quan trọng của ĐDSH (The importance of biological diversity); IUCN, UNEP và WWF

đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy); IUCN và UNEP

đưa ra chiến lược bảo tồn ĐDSH toàn cầu (Global biological strategy). Năm 1991,

Ngân hàng Thế giới (WB), WWF xuất bản cuốn bảo tồn ĐDSH thế giới (Conserving



16



the World’s biological diversity) hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn “Cứu lấy trái

đất” (Carring for the earth). Cùng năm, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược

ĐDSH và chương trình hành động. Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề

ra các phương pháp để bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát

triển trong tương lai. Một trong những nỗ lực mà nhiều quốc gia đã triển khai đó là

dành nhiều diện tích để thành lập các khu BTTN để bảo tồn tại chỗ (In-Situ) các hệ

sinh thái điển hình, các lồi động thực vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt

chủng. Đây là giải pháp vô cùng quan trọng và cũng được coi là ưu việt nhất trong

công tác bảo vệ cả hệ sinh thái lẫn tài nguyên sinh vật, đặc biệt là đối với những

lồi có vùng phân bố hẹp và các loài đặc hữu.

1.2.3. Nghiên cứu cấu trúc rừng

Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học,

hệ sinh thái rừng (HSTR) và đặc biệt là để xây dựng những mơ hình lâm sinh hiệu

quả và bền vững. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng được chia thành ba dạng cấu

trúc: (i) cấu trúc sinh thái, (ii) cấu trúc khơng gian (cấu trúc hình thái) và (iii) cấu

trúc thời gian (cấu trúc tuổi). Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá

trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật

với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái, cấu

trúc rừng là hình thức bên ngồi phản ánh nội dung bên trong của HSTR.

Baur G. N. (1964) [5] đã đưa ra những tổng kết rất phong phú về các nguyên

lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản như: rừng đều tuổi, rừng

không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa.

Odum E. P (1971) [94] đã hoàn thiện học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở

thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A. G (1935) [103]. Khái niệm hệ sinh

thái đã được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan

điểm sinh thái học.

* Nghiên cứu mơ tả hình thái cấu trúc rừng

Kraft (1884) lần đầu đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng với 5 cấp dựa vào



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc của luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×