Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỷ lệ nuôi sống và sự sinh trưởng của con non trong 4 tuần đầu sau khi sinh

Tỷ lệ nuôi sống và sự sinh trưởng của con non trong 4 tuần đầu sau khi sinh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 6 : Tỷ lệ sống của con non trong 4 tuần đầu sau khi sinh (%)

Nghiệm thức

Thời gian theo dõi

II

III

I (1♂:1♀)

(ngày)

(1♂:2♀)

(1♂:3♀)

(%)

(%)

(%)

1

100,0

100,0

100,0

7

52,4

52,5

47,7

14

47,6

49,2

45,5

28

42,9

45,9

45,5

Thực tế trong chăn ni Thằn lằn bóng hoa ở một số địa phương cho thấy, khi

Thằn lằn bóng hoa non sinh ra trong 3 ngày đầu, nó rất nhanh nhẹn nhưng sau đó nó

chết dần. Vì vậy, nhiều hộ gia đình thực hiện ni Thằn lằn bóng hoa đã khơng

thành cơng với đối tượng sinh sản.

Phân tích ở Bảng 6 cho thấy, trong tuần đầu tiên tỷ lệ con non đã giảm số

lượng khá lớn, số lượng con còn lại chỉ đạt từ 47,7-52,5%. Điều này có thể giải

thích do sức sống của con non trong tuần đầu tiên rất thấp và khả năng bắt mồi kém

khi còn non do các hệ thống giác quan chưa hoàn chỉnh đặc biệt là mắt, ngồi ra khả

năng phòng vệ còn thấp, vì vậy trong tuần đầu Thằn lằn bóng hoa con dễ bị tấn

công ngay cả bởi Dế con (thức ăn động của Thằn lằn bóng hoa con). Sau 3 tuần tiếp

theo tỷ lệ nuôi sống ổn định dần, số lượng Thằn lằn bóng hoa con giảm đi khơng

đáng kể.

Thí nghiệm của chúng tôi qua 4 tuần theo dõi, tỷ lệ sống của con non ở

nghiệm thức II cho kết quả cao nhất 45,9% thấp nhất là nghiệm thức I (42,9%) tuy

nhiên sự khác nhau này không đáng kể. So với kết quả nghiên cứu của Phạm Thị

Hồng Dung và cộng sự (2017) [11] khi nghiên cứu Thằn thằn bóng hoa trong điều

kiện nuôi bán tự nhiên ở Đồng Nai đã cho biết Thằn lằn bóng hoa non đạt 25% vậy

kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn đáng kể. Có sự khác nhau này theo

chúng tơi là do chúng tơi đã sử dụng bóng đèn hồng ngoại sưởi ấm cho Thằn lằn

bóng hoa con và đàn bố mẹ khi nhiệt độ môi trường giảm thấp hoặc những hôm trời

khơng nắng, sử dụng thức ăn phù hợp về kích cỡ cũng như số lượng, đây cũng là kỹ

thuật khá quan trọng khi thực hiện chăn ni Thằn lằn bóng hoa sinh sản ở Quảng

Bình, nơi có thời tiết cực đoan và có biên độ giao động nhiệt lớn. Bởi tia hồng ngoại

giúp động vật biến nhiệt như Thằn lằn bóng hoa nâng cao nhiệt độ cơ thể tăng

cường trao đổi chất giúp tiêu hóa thức ăn, vì vậy nó sử dụng được nhiều thức ăn

hơn, sức sống và sức đề kháng cao hơn.



4.2. Anh hưởng của biên độ nhiệt độ đến tỷ lệ chết của con non trong quá

trình thí nghiệm

Nhiệt độ có vai trò rất lớn đối với động vật nói chung và đặc biệt quan trong

đối với những lồi biến nhiệt như Thằn lằn bóng hoa. Mỗi lồi đều có một ngưỡng

nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển. Kết quả sự biến động của nhiệt độ trong suốt

quá trình nghiên cứu được thể hiện cụ thể Đồ thị 2 như sau:

40

35

30

25

20



số con chết



15



Nhiệt độ thấp nhất



10



Nhiệt độ cao nhất



5

0



Biểu đồ 2 : Sự biến động nhiệt độ trong tháng 4 và số lượng con non chết trong

thí nghiệm

Trong thời gian 4 tuần theo dõi có 81 con trong số 147 con sinh ra khơng

thích nghi với điều kiện nuôi, chúng không ăn, khối lượng cơ thể giảm nhanh và

chết trong 2 tuần đầu.

Qua biểu đồ sự biến đổi nhiệt độ trong tháng 4 và số lượng con non chết trong

thí nghiệm ta có thể nhận thấy rằng với nhiệt độ trong ngày thấp dưới 25 độ thì số

lượng con non chết cao. Ngược lại với biên độ nhiệt cao số con non chết giảm dần

thậm chí là khơng có con chết. Từ đó ta có thể Thấy thằn lằn bóng hoa là lồi ưa

nhiệt chúng tồn tại phát triển ở nhiệt độ ca. Trong mơ hình nhân ni Thằn lằn bóng

hoa ở điều kiện bán tự nhiên ta nên đảm bảo nhiệt độ chuồng trại luôn ở mức ổn

định và phù hợp với đặc điểm sinh lý Thằn lằn bóng hoa bằng cách tạo nhiệt nhân

tạo.

4.3. Sự sinh trưởng của con non trong 4 tuần đầu sau khi sinh

Tổng 3 nghiệm thức, tính từ ngày 11/4/2018 đến ngày 13/4/2018 có 23 ổ đẻ

với 147 con non được sinh ra, đến ngày 9/5/2018 còn 66 con sống sót, tỉ lệ sống sót

trung bình của chúng đạt 45%.

Trong số 66 con sống sót, chúng tơi tiến hành lấy số liệu về khối lượng sinh



trưởng của con non trong 4 tuần đầu sau khi sinh được trình bày ở Bảng 7.

Bảng 7: Khối lượng sinh trưởng tích lũy trung bình của Thằn lằn bóng

hoa con trong 4 tuần đầu sau khi sinh (g)

Nghiệm thức

Giai đoạn

P

III

(ngày tuổi)

I (1♂:1♀) II (1♂:2♀)

(1♂:3♀)

1



0,86 ±

0,013



0,86 ±

0,011



0,85 ±

0,013



0,857



7



0,92 ±

0,03



0,96 ±

0,02



0,90 ±

0,02



0,219



14



1,09 ±

0,05



1,14 ±

0,04



1,03 ±

0,04



0,160



21



1,54 ±

0,08



1,65 ±

0,07



1,68 ±

0,08



2,07 ±

0,13



2,044 ±

0,09



2,084 ±

0,08



28



0,074

0,958



Ghi chú: P: Xác suất thống kê; giá trị trung bình của các nghiệm thức có ý nghĩa thống kê

khi P <0,05



Nơi đẻ của Thằn lằn bóng hoa là các ổ đẻ đã được bố trí bằng lá khơ, ơ gạch

kín đáo, Thằn lằn bóng hoa đẻ con với hình thức nỗn thai sinh. Kết quả Bảng 7 ta

thấy, khối lượng sinh trưởng tích lũy của Thằn lằn bóng hoa con tăng liên tục theo

thời gian nuôi, qua 4 tuần theo dõi khối lượng con non giữa các nghiệm thức xấp xỉ

bằng nhau. Khối lượng con non của 3 lơ thí nghiệm có sự chênh lệch rất ít và khơng

có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05), điều này có nghĩa là tỷ lệ đực cái khi ghép đôi

giao phối không ảnh hưởng đến khối lượng con non.

Khối lượng sơ sinh trung bình (1 ngày tuổi) trong thí nghiệm của chúng tơi là

0,85 – 0,86g/con, kết quả này tương đương với nghiên cứu của Phạm Thị Hồng

Dung (2017) [11] khi nghiên cứu Thằn lằn bóng hoa nuôi trong điều kiện bán tự

nhiên ở Đồng Nai, đã cho biết con sơ sinh của Thằn lằn bóng hoa có khối lượng

trung bình 0,84 ± 0,36g. Nghiên cứu của Ngô Đắc Chứng và cộng sự (2015) [9],

con sơ sinh Thằn lằn bóng hoa có khối lượng trung bình 1,26 ± 0,04 g thì kết quả

nghiên cứu của chúng tơi thấp hơn. Sự khác biệt này theo chúng tơi có thể do sự

khác nhau về điều kiện nuôi.



Sau 4 tuần theo dõi, khối lượng sinh trưởng tích lũy trung bình đạt 2,04 – 2,08

g/cá thể. Tăng nhiều nhất vào tuần thứ 4 với 0,4 – 0,5 g/cá thể/tuần, ít nhất vào tuần

thứ 1 chỉ đạt 0,04 – 0,09/cá thể/tuần. Có sự khác nhau này theo thực thế thí nghiệm

chúng tơi nhận thấy bước sang tuần thứ 4 ngoài Dế con làm thức ăn động, Thằn lằn

bóng hoa đã ăn được thức ăn tĩnh giống như bố mẹ nó được băm nhỏ. Điều này

chứng tỏ, cho Thằn lằn bóng hoa làm quen với thức ăn tĩnh sớm và Thằn lằn bóng

hoa con chỉ cần vượt qua tuần đầu tiên, qua tuần thứ 2, 3, 4 tốc độ sinh trưởng của

con non phát triển tốt.



Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Kết quả thí nghiệm cho thấy với tỷ lệ đực cái ghép đôi giao phối 1:2 cho số

lượng con non sinh ra 60,61% cao nhất và thời gian đẻ tập trung ngắn, điều này rất

có ý nghĩa trong việc xây dựng mơ hình chăn ni Thằn lằn bóng hoa sinh sản có

hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ đực cái 1:2 không ảnh hưởng đến khối

lượng sơ sinh của Thằn lằn bóng hoa.

Nhiệt độ mơi trường ở địa điểm thí nghiệm trong 4 tháng đầu năm 2018 có

mức nhiệt 19,2 - 25,6 oC vì vậy phải sử dụng đèn úm trong những thời điểm nhiệt

độ môi trường thấp. Kết quả tỷ lệ nuôi sống của đàn Thằn lằn bóng hoa bố mẹ là

82,5%; Số con non thu được trong 4 tuần đầu là 147 con, Tỷ lệ ni sống Thằn lằn

bóng hoa con đạt 42,9 - 45,9%.

2. Kiến nghị

Thằn lằn bóng hoa là đối tượng ni mới ở một số tỉnh thành ở nước ta hiện

nay. Tuy nhiên, ở Quảng Bình có một số hộ đang ni nhưng khơng thành cơng như

mong đợi, ngun nhân chính đó là do người chăn nuôi không khống chế được

nhiệt độ chuồng ni đặc biệt là những ngày mưa rét. Vì vậy, người chăn nuôi phải

dùng đèn úm khi nuôi để tạo ra nguồn nhiệt nhân tạo phù hợp cho đối tượng này.

Ngồi ra, trong q trình ni Thằn lằn bóng hoa con cần phải chú ý đảm bảo

thức ăn cho Thằn lằn bóng hoa con là Dế con có kích cỡ và số lượng phù hợp với

khả năng bắt mồi của Thằn lằn bóng hoa.

Do thời gian nghiên cứu có hạn, vì vậy nên tiếp tục nghiên cứu khả năng sinh

của các cặp ghép đôi ở các tháng trong năm để có kết luận khách quan về số

lứa/năm của Thằn lằn bóng hoa ở điều kiện ni tại Quảng Bình.

Nghiên cứu các loại thức ăn ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của Thằn lằn

bóng hoa ở giai đoạn phát triển (đối tượng cho thịt).



TÀI LIỆU THAM KHAO

[1]. Đỗ Tất Lợi (2009), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y

học và Thời đại, trang 1024 – 1025.

[2]. Đào Văn Tiến (1971), Động vật học có xương sống. Nhà xuất bản Đại học và

trung học chuyên nghiệp, Hà nội, trang 191.

[3]. Đỗ Văn Tiến (1997), Động vật có xương sống tập 1. Nhà xuất bản Đại học

và trung học chuyên nghiệp, trang 197 -202.

[4]. Hà Đình Đức (1994), Động vật có xương sống. Nhà xuất bản Khoa học và

Kinh tế, trang 70.

[5]. Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Andrew Grieser Johns, Cao Tiến

Trung, Hồ Anh Tuấn, Chu Văn Dũng (2008), Nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở khu

bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, trang 37.

[6]. Lê Thắng Lợi, Ngô Đắc Chứng (2009), Một số đặc điểm sinh học, sinh thái

của 2 lồi Thằn lằn bóng giống Mabuya Fitzinger, 1826 (M. longicaudata, M.

multifasciata) ở Thừa Thiên Huế. Hội thảo quốc gia về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt

Nam Lần thứ nhất, Huế, 28/11/2009, nxb. Đại học Huế, tr. 225 - 232.

[7]. Lê Vũ Khôi (2007), Động vật có xương sống. Nhà xuất bản giáo dục, trang

216 217.

[8]. Ngơ Đắc Chứng, Hồng Thị Thương, Phùng Thị Huyền Trang, Ngơ Văn

Bình, (2015), Đặc điểm sinh sản và tăng trưởng của Thằn lằn bóng hoa Eutropis

multifasciatus (Kuhl, 1820) (Reptilia, Squamata, Scincidae). Tạp chí Khoa học

Đại học Huế, T.108, S. 9: 25 - 37.

[9]. Ngô Đắc Chứng, Nguyễn Thị Trường Thi, Phùng Thị Huyền Trang (2015),

Đặc điểm sinh sản và tăng trưởng của Thằn lằn bóng đi dài Eutropis

longicaudatus (Hallowell, 1856) Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl,

1820) (Reptilia, Squamata, Scincidae). Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài

nguyên sinh vật, Hội thảo khoa học toàn quốc lần thứ 6: 1293 - 1299.

[10]. Nguyễn Thị Chúc Linh (2011), Khóa luận tốt nghiệp “Bước đầu nghiên

cứu đặc điểm sinh học và thử nghiệm ni thằn lằn bóng hoa (Mabuya

Multifasciata)trong điều kiện phòng thí nghiệm”. Trường Đại học Đà Lạt.

[11]. Phạm Thị Hồng Dung (2017), Luận văn thạc sĩ sinh học “Nghiên cứu ni

Thằn lằn bóng đi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1856) và Thằn lằn

bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) trong điều kiện bán tự nhiên ở

Đồng Nai”. Đại học sư phạm Huế.

[12]. Sổ tay hướng dẫn Giám sát và điều tra đa dạng sinh học (2003), Nhà xuất

bản Giao thông vận tải, trang 176.

[13]. Trần Kiên (1978), Sinh thái động vật. Nhà xuất bản Giáo dục, trang 79 89



[14]. Trần Kiên và Trần Hồng Việt (2009), Động vật có xương sống. Nhà xuất

bản Đại học sư phạm, trang 174 -216.

[15]. Trần Đình Nghĩa, Phan Huy Dục, Hà Đình Đức, Bùi Cơng Hiển, Nguyễn

Xuân Huấn, Nguyễn Xuân Quảng, Nguyễn Xuân Quýnh, Đặng Thị Sỹ, Nguyễn

Nghĩa Thìn, (2005), Sổ tay thực tập thiên nhiên. Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia

Hà Nội, trang 120.

[16]. Võ Văn Chi (1988), Từ điển động vật và khoáng thuốc ở Việt Nam. Nhà xuất

bản Y học, trang 310.

[17]. Vũ Quang Mạn và Trịnh Nguyên Giao (2002), Hỏi đáp về tập tính động vật.

Nhà xuất bản Giáo dục, trang 56.

[18]. 1000 cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam- tập 2 (2006), Nhà

xuất bản Khoa học và Kinh tế, trang 2016

Các trang web

[19]. http://agriviet.com/nd/1019nuoiranmoi/

[20].

http://dantri.com.vn/c20/s20487037/danitbonghevequenuoiranmoi.htm [21].

http://www.ebook.edu.vn/?page=1.15&view=3541

[22]. http://laodong.com.vn/Doisong/Dacsanranmoivuonque/39844.bld [23].

http://www.scribd.com/doc/6756625/LunvnttNghim

[24]. http://sokhcn.bariavungtau.gov.vn/tanhung/Newsdetail.aspx?

mid=39&nid=332&sfcus=5

[25].http://sonongnghiep.bentre.gov.vn/chnnuoi/mohinh/1003nuoirnmimohin hmi

bntre.html

[26]. http://violet.vn/binhlong/entry/showprint/entry_id/6451150

[27]. http://www.ykhoanet.com/yhoccotruyen/baiviet/29_318.htm

[28]. https://baomoi.com/bat-ngo-voi-nhung-tac-dung-chua-benh-cua-ranmoi/c/21462266.epi

[29]. https://www.quangbinh.gov.vn/3cms/gioi-thieu-chung-14532.htm

[30]. https://vi.wikipedia.org/wiki/Eutropis_multifasciata

[31].https://www.accuweather.com/vi/vn/dong-hoi/355698/currentweather/355698



PHỤ LỤC HÌNH ẢNH



Mơ hình chuồng ni bán tự nhiên và các nghiệm thức



Thức ăn động của thằn lằn bóng (Dế và Giun)



Thức ăn tĩnh của thằn lằn bóng (cơm trộn trứng, tép, thịt ...xay

nhỏ)



Thằn lằn bóng hoa con từ 1-4 tuần tuổi



Cân bằng cân điện tử lấy số liệu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ nuôi sống và sự sinh trưởng của con non trong 4 tuần đầu sau khi sinh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×