Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

biến gần các nơi con người sống, bờ sông và các con suối rộng, nơi đất thấp hoặc có

độ cao tương đối. Thằn lằn bóng hoa rất linh hoạt dưới ánh nắng ban ngày, sưởi ấm

và tìm thức ăn ởcác nơi phát hoang hoặc trên các tảng đá, thân cây, hàng rào và các

bức tường có bề mặt thơ ráp [10].

Lồi bò sát này thường ở khe bụi gần nhà, mương, suối… Chúng bắt mồi bằng

cách rình ở nơi trú ẩn, chủ yếu ăn côn trùng cánh thẳng (gián, dế, châu chấu,…) đôi

khi ăn cả thực vật xanh (lá cỏ) [1] .

Thằn lằn bóng hoa có “tập tính điều nhiệt”. Sáng sớm chúng ra khỏi nơi ẩn

nấp và phơi nắng để hấp thụ nhiệt, tiêu hóa thức ăn. Những ngày nắng nóng chúng

ít phơi nắng mà chủ yếu là nâng nhiệt độ cơ thể từ nền đất ẩm. Khi nắng nhất trong

ngày chúng lại tìm nơi ẩn nấp và quay trở lại chỗ sưởi ấm khi mặt trời xuống thấp

và nhiệt độ khơng khí đã giảm xuống. Tập tính này giúp chúng duy trì nhiệt độ

khoảng 36 39oC trong khi nhiệt độ mơi trường có thể dao động từ 29 44oC [4].

Chúng cũng là loài động vật biến nhiệt, nhạy cảm với sự thay đổi của yếu tố

thời tiết (nhiệt độ, mưa, nắng), có chu kỳ hoạt động mùa và ngày đêm rõ ràng [12].

Khi gặp nguy hiểm, con vật chạy rất nhanh về nơi trú ẩn, tạm náu ở đó một

thời gian rồi lặng lẽ bò trong lớp cỏ đi nơi khác. Nó cũng dễ dàng tự cắt đi để

chạy khi bị bắt và ở chỗ cắt sẽ mọc đi mới. Đi có thể mọc lại vài lần [16].

Tập tính tự đứt đi ở Thằn lằn bóng hoa xảy ra khi chúng gặp nguy hiểm: kẻ

thù tấn công vào phần đi, có sự va chạm vào phần đi (bị đè)… Khi Thằn lằn

đang chạy trốn, chỉ cần một động tác giữ hay tóm phần đi của chúng thì ngay lập

tức phần ni đó tự động đứt ra chúng chạy thốt và phần đi bị đứt vẫn giãy giụa.

Sau một tuần chỗ bị đứt liền hẳn và một tuần tiếp theo nhú đuôi bắt đầu mọc (phần

đuôi tái sinh) [10].

Thằn lằn bóng lột xác vào mùa xuân hè, thường sau những cơn mưa và có thể

lột ba, bốn lần trong mùa. Sau khi lột xác, chúng cũng ăn da như nhiều loài thằn lằn

khác [16].

Sau khi lột xác, những lớp tế bào biểu bì ở bên dưới sẽ tạo nên lớp vẩy mới.

Hiện tượng lột xác ở thằn lằn bóng cũng như ở lưỡng cư được tiến hành dưới tác

dụng của kích thích tố giáp trạng và mấu não dưới [14].

Khi bắt đầu lột xác, Thằn lằn bóng hoa cà cơ thể mình vào những cành cây

hay hốc đất làm cho lớp da bong ra thành từng mảng. Khác với sự lột xác ở rắn

thành xác rắn, thằn lằn có hiện tượng ăn phần xác mới lột xong. Màu sắc cơ thể

Thằn lằn bóng hoa trước và sau khi lột xác khác nhau. Trước khi lột xác có màu

sẫm hơn. Và sau khi mới lột xác lớp vẩy mới có màu xanh và bóng hơn so với màu

sắc vẩy bình thường [10].

1.3.2. Đặc điểm sinh sản của Thằn lằn bóng hoa

Thằn lằn bóng hoa trưởng thành ở 6 7 tháng tuổi, bắt đầu sinh sản ở 8 9

tháng tuổi. Thằn lằn bóng có tập tính ghép đơi vào mùa xn và sinh sản vào mùa



hè. Chúng sinh sản mạnh vào mùa mưa khi lượng thức ăn dồi dào. Thằn lằn bóng

hoa đẻ mỗi lần từ 3 – 5 con. Con non lúc mới sinh có chiều dài khoảng 8cm kể cả

đi. Sau khi sinh, Thằn lằn mẹ còn có tập tính chăm sóc con trong một thời gian

nhất định rồi mới để con tự lập [1].

Thằn lằn bóng hoa thụ tinh trong, phương thức sinh sản theo phương thức

noãn thai sinh (hay đẻ trứng thai) (ovoviparity). Noãn thai sinh là một phương thức

sinh sản ở động vật trong đó phơi phát triển bên trong trứng được giữ lại trong cơ

thể của mẹ cho đến khi chúng đã sẵn sàng nở ra, chúng đẻ con nhưng không phải do

mang thai mà do trứng sau khi thụ tinh nằm lại trong ống dẫn trứng đến khi nở

thành con, phôi phát triển thành con nhờ chất dinh dưỡng dự trữ trong nỗn hồng

chứ không phải lấy từ cơ thể mẹ. Trứng thiếu vỏ dai và phát triển trong cơ thể mẹ,

cụ thể trong noãn quản tới khi thành con. Đây là trường hợp đẻ trứng thai thường

thấy ở một số ít Thằn lằn bóng và rắn,… [2]. Trứng được ấp trong cơ thể con mẹ có

điều kiện nhiệt độ thuận lợi hơn nhiều so với bên ngoài. Con con phát triển nhờ chất

dinh dưỡng có trong trứng, hồn tồn khơng có liên quan gì đến sự cung cấp chất

dinh dưỡng từ cơ thể mẹ như sự đẻ con ở thú sau này [7].

Sự sai khác sinh dục của Thằn lằn bóng khơng rõ ràng. Phần đi của Thằn lằn

đực phình to hơn so với con cái, có khe huyệt rộng, phồng hơn vì chứa gai giao cấu.

Màu sắc và kích thước khơng có sự khác nhau [2].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Chúc Linh, có thể phân biệt được con đực

và con cái dựa vào màu sắc cơ thể. Vẩy họng con đực có màu vàng nhạt, con cái có

màu trắng đục. Hai bên sườn của con cái có những đốm trắng rõ và nhiều hơn con

đực, phân bố từ hai bên sườn kéo dài đến đi. Còn con đực, những đốm trắng chủ

yếu phân bố ở phần sau chi sau và đuôi. Màu sắc vẩy thân con cái đậm hơn con đực

[10].

1.3.3. Đặc điểm về thức ăn của Thằn lằn bóng hoa Eutropis

multifasciatus (Kuhl, 1820)

Trong tự nhiên, Thằn lằn bóng hoa là lồi ăn tạp, thức ăn chủ yếu là cơn

trùng và cơ sở thức ăn của chúng phụ thuộc vào điều kiện mơi trường [10].

Việc ni Thằn lằn bóng hoa hiện nay chủ yếu dựa trên kinh nghiệm Anh Lê

Hoàng Dũng (Bến Tre), người đầu tiên ni Thằn lằn bóng hoa cho biết, ban đầu

chúng chỉ ăn mồi động vật như trùn hay tổ mối, sau ni quen chúng có thể ăn thịt

heo băm nhỏ hay thức ăn công nghiệp [24].

Theo thạc sĩ Nguyễn Văn Thuyết (Bạc Liêu), thằn lằn con trong tuần đầu cho

ăn các loại sâu nhỏ, tuần thứ hai trở đi có thể ăn được các loại sâu bọ, tép cá, cào

cào, châu chấu,... băm nhỏ hay để nguyên. Mỗi tuần nên bổ sung vitamin tổng hợp

và khoáng chất một lần kết hợp sát trùng chuồng trại và thay đổi nguồn thức ăn

[19].

Theo Hồ Chí Linh (Bến Tre), thức ăn chủ yếu của Thằn lằn bóng hoa là các

loại côn trùng như mối, dế, gián, cào cào, sâu hoặc có thể cho ăn ếch, nhái con, cá



băm nhỏ,... Món khối khẩu của Thằn lằn bóng hoa là con mối, lượng thức ăn cho

1.000 con trong ngày là khoảng 0,5 kg [26].

1.3.4. Giá trị Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus

Theo nhiều tài liệu ghi chép lại, thịt Thằn lằn bóng hoa là một vị thuốc bổ, có

giá trị dinh dưỡng rất cao. Trẻ con đêm ngủ thở khò khè, cho ăn thịt Thằn lằn bóng

hoa sẽ khỏi ngay. Theo kinh nghiệm dân gian, thịt Thằn lằn bóng hoa nấu cháo cho

trẻ ăn chữa gầy yếu, xanh xao, chậm lớn, hen suyễn. Thằn lằn bóng hoa (1 con) đốt

tồn tính, tán bột, rây mịn, uống với rượu chữa khí kết làm tắc đường tiểu tiện, tiểu

ra máu, sưng âm vật, dương vật. Phụ nữ có thai khơng được dùng [18].

Ăn thịt Thằn lằn bóng còn giúp da mặt phụ nữ thêm mịn màng.

Thằn lằn bóng hoa trị chứng hen suyễn, gầy yếu, suy dinh dưỡng, nhức mỏi,

da khô sần, các chứng hư nhược, sinh lý yếu... rất tốt. Chả Thằn lằn bóng là món ăn

bài thuốc tốt cho trẻ bị suy nhược cơ thể, suy dinh dưỡng, thiếu cân. Thằn lằn bóng

bọc lá lốt nướng trị chứng đau mỏi lưng, tay chân tê phong thấp, nhức mỏi khá công

hiệu [28].

Những năm gần đây, Thằn lằn bóng hoa đã bắt đầu được người dân sử dụng

như là một nguồn thực phẩm bởi một số đặc điểm như thịt trắng, thơm ngon và có

giá trị dinh dưỡng cao. Hiện nay Thằn lằn bóng hoa được sử dụng như những món

ăn đặc sản trong các nhà hàng, có thể chế biến thành một số món ăn như: chiên,

nướng, xào lăn, rơ ti, nấu cháo,…[22].

Bên cạnh những tác dụng về mặt y học, Thằn lằn bóng hoa còn giúp tiêu diệt

cơn trùng làm hại nông nghiệp. Ngược lại chúng cũng là thức ăn cho các nhóm

động vật khác như chim, thú và cả các lồi bò sát lớn [7]. Điều này chứng tỏ Thằn

lằn bóng hoa là một mắt xích quan trọng trọng trong chuỗi, lưới thức ăn của quần xã

sinh vật. Do vậy, sự tồn tại của chúng là rất quan trọng trong hệ sinh thái, đặc biệt là

trong hệ sinh thái nông nghiệp

2. Lịch sử nghiên cứu Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl,

1820)

2.1. Trên thế giới

- Những nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư bò sát trên thế giới đã ghi nhận sự

phân bố các loài Thằn lằn giống Eutropis ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Bên cạnh

những nghiên cứu về phân loại học, thành phần loài và phân bố thì đặc điểm sinh

học, sinh thái học của các loài Thằn lằn giống Eutropis cũng được các nhà khoa học

trên thế giới quan tâm và tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX.

Theo Bull oCk (1966), thành phần thức ăn của M. multifasciata ở Singapore là

các lồi cơn trùng thuộc các nhóm: Hình nhện (Arachnida), Chân đều (Isopoda), Cánh

thẳng (Orthortera), Cánh cứng (Coleoptera) và Cánh màng (Hymenoptera). [9]

Vào năm 1991, Vitt và Blackburn đã công bố nghiên cứu về sinh thái và lịch

sử đời sống của lồi Thằn lằn nỗn thai sinh M. bistriata ở Amazon, Braxin. Lồi



M. bistriata đạt đến độ chín sinh dục gần hết năm thứ nhất của đời sống, con cái

sinh sản lứa đầu tiên lúc một năm tuổi. Con cái có thân và đầu lớn hơn con đực.

Thời kỳ sinh sản tối đa 9 - 12 tháng số lứa thay đổi 2 - 9. [11]

Các năm tiếp theo, có nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về sinh thái

học lồi Thằn lằn bóng giống Eutropis như: Năm 2002, Wymann và Whiting tiến

hành nghiên cứu về sinh thái loài Thằn lằn bóng M. margaritif ở Nam Phi. Cũng

trong năm 2006, Ji et al., mơ tả về sự lưỡng hình giới tính và sinh sản của cá thể cái

của M. multifasciata ở Trung Quốc. Das et al., 2008 công bố một lồi mới thuộc

giống Eutropis (nhánh Mabuya châu Á) có tên là Eutropis tammanna. [9]

Gần đây, Datta-Roy et al. (2012) đã nghiên cứu phát sinh chủng loại của

Thằn lằn bóng Eutropis châu Á bằng cách sử dụng các chỉ thị 12S, 16S rRNA ty

thể và chỉ thị DNA nhân. Trong nghiên cứu này tác giả có sử dụng mẫu E.

longicaudata thu tại Phong Nha - Kẻ Bàng, Việt Nam. Các lồi Thằn lằn bóng

giống Mabuya (Eutropis) ở nhiều nơi trên thế giới đã được nghiên cứu về đa dạng

di truyền, phát sinh chủng loại dựa vào nhiều loại DNA marker khác nhau. Tuy

nhiên, ở Việt Nam thì chưa có cơng trình nào đề cập đến mối quan hệ phát sinh

chủng loại của giống này. [11]

2.2. Ở Việt Nam

Ở nước ta, Morice là người đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu về bò

sát. Năm 1875, ơng đã tiến hành thu thập mẫu vật các lồi Bò sát ở khu vực Nam

Bộ và lập nên danh sách các lồi Bò sát ở khu hệ này, tạo nền tảng cho các cơng

trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19 [23].

Những nghiên cứu về Bò sát ở Bắc Bộ có J. Anderson (1878), ở Nam Bộ có J.

Tirant (1885), G. Boulenger (1890), Flower (1896). Cơng trình nghiên cứu

đáng chú ý là của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến

1944, đã thống kê, mơ tả được 177 lồi và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ

Rắn, 44 lồi và lồi phụ Rùa trên tồn Đơng Dương. Trong đó có nhiều lồi của

miền Bắc Việt Nam (Bourret R. 1936, 1941, 1942). Đáng chú ý là những công trình

nghiên cứu của Bourret R có nói nhiều đến Bò sát ở khu vực Bắc Trung Bộ. Ơng

cơng bố và bổ sung nhiều lồi cho danh lục Bò sát, Ếch nhái (Bourret R. 1934,

1937, 1939, 1940, 1943) [23].

Từ năm 1954, nghiên cứu về khu hệ Bò sát, Ếch nhái Việt Nam mới được

tiến hành ở Miền Bắc. Đào Văn Tiến (1960) nghiên cứu khu hệ động vật có xương

sống ởVĩnh Linh đã thống kê được nhóm Bò sát, Ếch nhái có 12 lồi. Năm 1977,

nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại Ếch nhái Việt Nam và

cơng bố 87 lồi Ếch nhái thuộc 3 bộ 12 họ. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khoá

định loại thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài Thằn lằn trong đó có 6 lồi lần

đầu tiên phát hiện ở Việt Nam. Năm 19811982, nghiên cứu các đặc điểm phân



loại, xây dựng khoá định loại và đã xác định ở Việt Nam có 167 lồi rắn thuộc 9

họ 69 giống [23].

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) nghiên cứu Bò sát, Ếch

nhái từ năm 1956 1975 trên tồn Miền Bắc thống kê được 159 lồi bò sát thuộc 2

bộ, 19 họ và 69 loài Ếch nhái thuộc 3 bộ, 9 họ [23].

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) báo cáo danh lục khu hệ Bò

sát, Ếch nhái Việt Nam gồm 160 lồi Bò sát và 90 lồi Ếch nhái. Các tác giả còn

phân tích sự phân bố địa lý, theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài [23].

Hoàng Xuân Quang (1993) điều tra thống kê danh lục Bò sát, Ếch nhái ở các

tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 lồi Bò sát xếp trong 59 giống 17 họ và 34 loài Ếch nhái

của 14 giống 7 họ. Tác giả đã bổ sung cho danh lục Bò sát, Ếch nhái Bắc Trung Bộ

23 lồi, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài. Bên cạnh đó tác giả còn phân

tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố Bò sát, Ếch

nhái trong nước. Năm 1998, tác giả đã bổ sung 12 lồi cho khu hệ Bò sát, Ếch nhái

Bắc Trung Bộ, trong đó có 1 giống, 1 lồi cho khu hệ Bò sát, Ếch nhái Việt Nam

[23].

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) công bố danh lục Bò sát, Ếch nhái Việt

Nam gồm 256 lồi bò sát và 82 lồi Ếch nhái [20].

Như vậy, các cơng trình nghiên cứu về Bò sát ở nước ta chỉ tập trung nghiên

cứu vào việc số lượng loài cũng như phân bố của chúng mà không đi sâu vào

nghiên cứu từng đối tượng riêng rẽ.

Theo các tài liệu đã công bố thì giống thằn lằn bóng ở Việt Nam có ba loài phổ

biến. Ở miền đồng bằng và trung du có Thằn lằn bóng hoa Mabuya multifasciata

Kuhl và thằn lằn bóng đi dài Mabuya longicaudata. Miền trung du và miền núi

có thằn lằn bóng Sapa Mabuya chapaensis [1].

Thằn lằn bóng hoa Mabuya multifasciata Kuhl thuộc họ Thằn lằn bóng

(Scincidae). Ở miền Bắc thường gọi chúng tên khác là Thằn lằn bóng, còn ở miền

Nam gọi là rắn mối. Lồi Thằn lằn bóng này có một số đặc điểm hình thái là có thân

thon và tròn dài, đi nhọn dài bằng thân; bốn chân đều có 5 ngón có móng; da có

vảy sừng nhỏ, sắp xếp như vảy cá, nhẵn bóng, màu xanh xám nhạt, có hai đường

vạch đen chạy dọc hai bên sườn [1].

Ở Việt Nam, Thằn lằn có nhiều ở vùng đồng bằng và miền núi từ Bắc vào

Nam. Thường gặp ở bụi cây quanh nhà, ngoài vườn, bãi cỏ, bờ mương, ven suối.

Những nghiên cứu về vùng phân bố của Thằn lằn bóng hoa của Trần Đình Nghĩa

(2005) đã khẳng định chúng phân bố ở nhiều sinh cảnh: hốc đá ven đường, khe đá

ven chân núi, đồi chè, bờ dậu, trên mái nhà dân [18].

Ngồi ra, nhóm tác giả Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Andrew

Grieser Johns, Cao Tiến Trung, Hồ Anh Tuấn, Chu Văn Dũng trong nghiên cứu ếch



nhái, bò sát ở khi bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (2008) cho rằng Thằn lằn bóng hoa

ở Việt Nam có khu phân bố rất rộng, cụ thể như sau:

- Miền Bắc chủ yếu tập trung ở các tỉnh Cao Bằng, Lai Châu, Tuyên Quang,

Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Sơn La, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh,

Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Ninh Bình.

- Ở khu vực miền Trung – Tây Ngun, lồi Thằn lằn bóng hoa có phân bố

Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Kom Tum, Gia Lai,

Đăk Lăk, Lâm Đồng, Ninh Thuận.

- Ở Nam Bộ, Thằn lằn bóng hoa được ghi nhận có sự hiện diện ở các tỉnh Bình

Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Kiên Giang, Cần Thơ, Cà Mau [5].

Theo quyển 1000 cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – tập 2 và

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi, Thằn lằn bóng hoa hay còn

gọi là rắn mối. Thịt của rắn mối có rất giàu protit ăn được, còn có chất gì chữa bệnh

đặc biệt khác thì chưa biết được [18].

Năm 2011, Nguyễn Thị Chúc Linh thực hiện đề tài nghiên cứu “Bước đầu

nghiên cứu đặc điểm sinh học và thử nghiệm nuôi Thằn lằn bóng hoa (Mabuya

multifasciata Kuhl) trong điều kiện phòng thí nghiệm”. Đề tài nghiên cứu này

khẳng định loài Thằn lằn bóng hoa có thể ni thử nghiêm được, chúng vẫn có khả

năng sinh trưởng và phát triển trong điều kiện nuôi nhốt ở Đà Lạt. [10].

Năm 2017, Phạm Thị Hồng Dung thực hiện đề tài “ Nghiên cứu nuôi Thằn lằn

bóng hoa Eutropis multifascuatus (Kuhl, 1820) trong điều kiện bán tự nhiên ở Đồng

Nai” đã nhận định nhiệt độ chuồng nuôi từ 25-33 oC là tối ưu với sự phát triển của

Thằn lằn bóng hoa [11].

3. Tổng quan điều kiện tự nhiên và xã hội vùng nghiên cứu

3.1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Quảng

Bình nằm ở nơi hẹp nhất theo chiều Đông – Tây của dải đất hình chữ S của Việt

Nam (50km theo đường ngắn nhất tính từ biên giới Việt Lào ra biển Đơng).

Vị trí địa lý: Toạ độ địa lý ở phần đất liền là:

• Điểm cực Bắc: 18005’ 12" vĩ độ Bắc

• Điểm cực Nam: 17005’ 02" vĩ độ Bắc

• Điểm cực Đơng: 106059’ 37" kinh độ Đơng

• Điểm cực Tây: 105036’ 55" kinh độ Đơng

Phía bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía tây giáp nước

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có chung biên giới với Lào 201,87km, phía đơng

giáp với biển Đơng với đường bờ biển dài 116,04km [29]

Địa hình Quảng Bình hẹp có đặc trung chủ yếu là hẹp và dốc, nghiêng từ tây

sang đơng, đồi núi chiếm 85% diện tích tỉnh và bị chia cắt mạnh. Hầu như tồn bộ

vùng phía tây tỉnh là núi cao 1.000-1.500m, trong đó cao nhất là đỉnh Phi Co



2017m, kế tiếp là vùng đồi núi thấp, phân bố theo kiểu bát úp. Gần bờ biển có dạng

lưỡi liềm hoặc dẻ quạt.

Khí hậu Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và ln bị tác động bởi khí

hậu của phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt:

+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm

1.500 - 2.000mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11.

+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24 oC - 25 oC. Ba

tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.

Bảng 2: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm ở Quảng Bình

Nhiệt độ trung

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

bình/ tháng

Cao nhất (oC)

22 23 25 29 32 34 34 33 31 28 26 23

o

Thấp nhất ( C)

17 18 20 23 25 27 27 26 25 23 21 18

Nguồn: [29]



Quảng Bình có hệ thống sơng suối khá lớn với mật độ 0,8 - 1,1 km/km2. Có

năm sơng chính là sơng Rn, sơng Gianh, sơng Lý Hồ, sơng Dinh và sơng Nhật

Lệ. Có khoảng 160 hồ tự nhiên và nhân tạo với dung tích ước tính 243,3 triệu m3.

Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có

khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc

trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng.[29]

Về động vật có 493 lồi, 67 lồi thú, 48 lồi bò sát, 297 lồi chim, 61 lồi cá...

có nhiều lồi q hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi

lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ...

Về đa dạng thực vật với diện tích rừng 486.688 ha, trong đó rừng tự nhiên

447.837 ha, rừng trồng 38.851ha, trong đó có 17.397 ha rừng thơng, diện tích khơng

có rừng 146.386 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống lồi: có 138 họ, 401

chi, 640 lồi khác nhau. Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ q như lim, gụ, mun,

huỵnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác. Quảng Bình là một trong

những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc. Hiện nay trữ lượng gỗ là 31triệu m3

[29].

3.2. Đặc điểm xã hội tỉnh Quảng Bình

Dân số Quảng Bình năm 2016 có 877.702 người. Phần lớn cư dân địa phương

là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều

gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem,

v.v... sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã

miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Dân cư phân bố không đều, 80,36%

sống ở vùng nông thôn và 19,64% sống ở thành thị.

Dãi đất Quảng Bình như một bức tranh hồnh tráng, có rừng, có biển với

nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: Đèo Ngang, đèo Lý Hoà,



cửa biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ

Bàng được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới.

Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hố Bàu Tró, các di chỉ thuộc

nền văn hố Hồ Bình và Đơng Sơn, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan,

Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngô, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều

địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự

Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh

v.v... Trong q trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hố nổi tiếng và được

truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn- Hà- Cảnh - ThổVăn- Võ- Cổ - Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và

nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu

Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp...[29]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×