Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần I. MỞ ĐẦU

Phần I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

3. Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá sự biến động một số yếu tố môi trường ở vùng nghiên cứu trong

q trình thí nghiệm đến khả năng thích nghi và sinh sản của Thằn lằn bóng hoa

Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820).

- Đánh giá tỷ lệ đực cái trong ghép đôi giao phối ảnh hưởng đến khả năng sinh

sản của Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) trong điều kiện bán

tự nhiên.

4. Đối tượng nghiên cứu

Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820), còn gọi là rắn mối

Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) thuộc họ thằn lằn bóng (Scincidae).

5. Thời gian và phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Thực hiện từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018.

- Địa điểm: Vườn thực nghiệm Nông Lâm, Trường Đại học Quảng Bình

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Tham khảo các kết quả nghiên cứu (bao gồm cả số liệu và tài liệu) đã được

thực hiện có liên quan đến đề tài bao gồm: Đặc điểm hình thái sinh học, mơi trường

sống, bệnh tật và tập tính ăn, uống, ẩn nấp, sinh sản của Thằn lằn bóng hoa Eutropis

multifasciata ở các nước và địa phương khác. Các loại thức ăn sử dụng trong nuôi

Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata, kỹ thuật ni dưỡng và chăm sóc Thằn

lằn bóng hoa Eutropis multifasciata. Giá trị dinh dưỡng và cách chế biến, bảo quản,

sử dụng thịt Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata.

Thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau: sách, báo, tạp chí trong và ngồi

nước, internet… có liên quan đến đối tượng và nội dung nghiên cứu. Thu thập

những tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu.

6.2. Phương pháp thực nghiệm

6.2.1. Vật liệu nghiên cứu

Chuồng trại thí nghiệm: được thiết kế bán tự nhiên (7mx5m, 5mx2,5m) có

mái che 3m bằng froximăng, tường được xây bằng gạch và tơn. Chuồng có thiết kế

hệ thống thốt nước. Nền chuồng được tráng ½ diện tích bằng xi măng. Đảm bảo

chuồng trại ln khơ ráo, tránh gió lùa, đón được ánh nắng mặt trời vào buổi sáng.

Trong chuồng ni có bố trí gạch 4 lỗ và rơm khơ cho Thằn lằn bóng hoa Eutropis

multifasciata trú ẩn và leo trèo.

Dụng cụ thí nghiệm: Khay, đĩa nhựa đựng thức ăn, máng uống; Bình xịt nước;

Đèn pin, vợt bắt Thằn lằn bóng hoa; Bóng đèn, dụng cụ đo nhiệt độ, ẩm độ; Phích

nước; Nồi cơm điện; Xô, rá đựng và dự trữ thức ăn; dao; kéo thu cắt thức ăn; Cân

điện tử để cân khối lượng; thước đo...

Thức ăn: Thằn lằn bóng hoa E.multifasciata là lồi ăn tạp vì vậy thức ăn của

Thằn lằn bóng hoa khá đa dạng như tơm tép cỡ nhỏ, thịt cá, trứng gà, trứng vịt băm



nhỏ, hay cả những loại thức ăn dành cho cá, các loại trái cây có vị ngọt như chuối,

dưa hấu, dứa... Ngồi ra, thức ăn của Thằn lằn bóng hoa bao gồm cả những côn

trùng nhỏ như mối, giun đất, trứng kiến, châu chấu, gián đất, dế...

Chế độ ăn uống: cho ăn và uống nước tự do.

Thằn lằn bóng hoa E.multifasciata trước khi đưa vào thí nghiệm được ni thích

nghi 1 tuần nhằm làm quen với điều kiện thí nghiệm, sau đó những cá thể tốt nhất có

trọng lượng tương đương được chọn lựa đưa vào nghiên cứu.

6.2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm ảnh hưởng tỷ lệ đực cái đến khả năng sinh sản Thằn lằn bóng hoa

Eutropis multifasciata.

- Nhân tố thí nghiệm: tỷ lệ đực cái

Các nghiệm thức là các tỷ lệ đực cái khác nhau được bố trí theo thứ tự:

- Nghiệm thức 1 (I): tỷ lệ 1:1 (đực/cái) (1♂:1♀)

- Nghiệm thức 2 (II): tỷ lệ 1:2 (đực/cái) (1♂:2♀)

- Nghiệm thức 3 (III): tỷ lệ 1:3 (đực/cái) (1♂:3♀)

Thí nghiệm được thực hiện tại vườn thực nghiệm Nông Lâm Trường Đại học

Quảng Bình từ ngày 11/1/2018 đến ngày 10/5/2018 trên 144 cá thể Thằn lằn bóng

hoa E.multifasciata có độ tuổi 28 tuần tuổi (7 tháng tuổi). Bên cạnh đó có 56 con

được bố trí ni dự phòng bổ sung cho các nghiệm thức đúng tỷ lệ nghiên cứu. Thí

nghiệm được phân lô theo nguyên tắc đồng đều vào 3 nghiệm thức ứng với 3 tỷ lệ

đực cái. Mỗi cá thể là một nhân tố thí nghiệm.

Thằn lằn bóng hoa E.multifasciata đảm bảo đồng đều về trọng lượng, có sức

khỏe tốt được lựa chọn bố trí ni trong 3 nghiệm thức. Ni dưỡng bằng thức ăn

tạp theo tính bản địa, cho ăn và cho uống tự do. Khi Thằn lằn bóng hoa mẹ có dấu

hiệu bụng to, đi chậm chạp. Ta đưa Thằn lằn bóng hoa mẹ vào riêng biệt từng khay

nhựa có độ cao phù hợp, lót lá, máng ăn máng uống đầy đủ, viết ngày đưa vào và ký

hiệu lơ thí nghiệm lên thau tránh nhầm lẫn. Sau khi Thằn lằn bóng hoa đẻ, Thằn lằn

bóng hoa mẹ của cả 3 lô được dồn lại nuôi 1 chuồng riêng, đối với Thằn lằn bóng

hoa con đưa vào thau lớn ni riêng từng lơ thí nghiệm để theo dõi các chỉ tiêu khác

của Thằn lằn bóng hoa con.



Bảng 1. Một số chỉ số bố trí thí nghiệm sinh sản



Chỉ số



Nghiệm thức

I (1♂:1♀)



II (1♂:2♀)



III (1♂:3♀)



Số lần lặp lại



3



3



3



Số con trong mỗi lô



16



16



16



Số (♂:♀) trong mỗi lô



8:8



5:11



4:12



Tỷ lệ đực cái (♂:♀)



1:1



1:2



1:3



Tổng số cá thể thí nghiệm (con)



48



48



48



28



28



28



25,705 ± 0,152



25,710 ± 0,180



25,838 ± 0,199



Tự do



Tự do



Tự do



Độ tuổi rắn mối đưa vào thí

nghiệm (tuần)

Khối lượng trung bình rắn mối

khi bắt đầu thí nghiệm (g)

Thức ăn tạp và uống nước



Các cá thể đực cái được nuôi chung theo từng nghiệm thức, tuy nhiên khi con

cái có dấu hiệu sinh (bụng rất to, di chuyển chậm chạp, bắt lên dễ dàng) ta chuyển

từng cá thể vào các khay riêng có đánh số tránh nhầm lẫn để đẻ. Trong quá trình

chờ đẻ, trong các khay cho chúng ăn uống đảm bảo đủ chất, nước uống tự do.

6.2.3. Phương pháp theo dõi đánh giá các chỉ tiêu về năng suất sinh sản.

- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ đẻ (%); Số con đẻ ra/ổ (con); Số con đẻ ra sống/ổ

(con); Khối lượng sơ sinh/con (g); Khối lượng con non đến 7 ngày (g), 14 ngày (g),

21 ngày (g), 28 ngày (g); Tỷ lệ nuôi sống bố mẹ đưa vào thí nghiệm; Tỷ lệ ni

sống từ sơ sinh đến 28 ngày (%). Cân khối lượng cơ thể (g) được cân bằng cân điện

tử (sai số 0,01g) 1 tuần/lần,

- Đánh giá năng suất sinh sản của Thằn lằn bóng hoa ở các nghiệm thức: Chúng

tôi dùng phương pháp theo dõi, thu thập số liệu về năng suất sinh sản của cá thể Thằn

lằn bóng hoa cái và số liệu ghi chép hàng ngày.

+ Đối với các chỉ tiêu số lượng: Theo dõi số Thằn lằn bóng hoa bố mẹ theo

từng tuần tuổi, theo dõi Thằn lằn bóng hoa sơ sinh/ổ, đếm số con đẻ ra còn sống/ổ,

số Thằn lằn bóng hoa bố mẹ còn sống qua các thời điểm theo dõi.

+ Xác định tỷ lệ nuôi sống của Thằn lằn bóng hoa bố mẹ qua thời điểm quan

sát (%).

Số con còn sống đến cuối kỳ

Tỷ lệ ni sống cộng dồn =

x 100 %

Số con đầu kỳ



+ Tỷ lệ đẻ: Theo dõi hàng ngày đối với cá thể mẹ sinh sản tính từ khi có con

cái đầu tiên đẻ con.

Xác định tỷ lệ đẻ (%) là tổng số Thằn lằn bóng hoa cái đẻ khi quan sát liên tục

được tính từ khi có con cái đầu tiên đẻ con/số con cái đưa vào quan sát.

+ Xác định tỷ lệ nuôi sống con non ở các thời điểm 1 ngày, 7 ngày, 14 ngày,

21 ngày, 28 ngày

Số con non còn sống ở các thời điểm (con)

Tỷ lệ nuôi sống con non ở các thời điểm (%) =



x 100%

Số con non theo dõi ban đầu (con)



- Đánh giá khả năng sinh trưởng của Thằn lằn bóng hoa con Eutropis

multifasciata qua độ sinh trưởng tích lũy:

Thằn lằn bóng hoa con khi sinh ra từ 3 ngày liên tục được chuyển vào ni lơ

thí nghiệm khác được đánh số tương tự như bố mẹ của chúng. Quan sát hàng ngày

và hàng tuần để theo dõi, ghi nhận các chỉ tiêu nghiên cứu về khả năng sinh trưởng

của rắn mối con từ tuần tuổi 1 đến 4 tuần tuổi như sau:

Độ sinh trưởng tích luỹ (g/con): Độ sinh trưởng tích luỹ là khối lượng cơ thể

Thằn lằn bóng hoa tại các thời điểm thực hiện các phép đo.

Khối lượng Thằn lằn bóng hoa con xác định theo 1 tuần/lần. Dùng cân phân

tích điện tử (sai số ±0,001g) để cân xác định khối lượng Thằn lằn bóng hoa (1 ngày

tuổi, 7 ngày tuổi, 14 ngày, 21 ngày tuổi, 28 ngày tuổi) trước khi cho Thằn lằn bóng

hoa ăn.

6.3. Phương pháp xử lí số liệu

Số liệu thu thập được xử lý sơ bộ trên Excel sau đó xử lý thống kê trên phần

mềm Minitab 16.



Phần II. NỘI DUNG

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Tổng quan về Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820)

1.1. Nguồn gốc và phân bố

- Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) là bò sát thuộc họ Họ

Thằn Lằn Bóng (Scincidae) được Kuhl mơ tả khoa học đầu tiên năm 1820, còn có

tên gọi khác là rắn mối. Ngồi ra Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl,

1820) còn có tên đồng nghĩa Mabuya multifasciata (Kuhl, 1820); Scincus

multifasciatus (Kuhl, 1820).

- Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) phân bố Phân bố:

Việt Nam phân bố hầu hết ở các tỉnh nước ta từ Lai Châu (Bình Lư), cho đến Minh

Hải, Kiên Giang, Cà Mau. Phân bố trên thế từ Ấn Độ đến Trung Quốc (Đài

Loan, Hải Nam, Vân Nam) Thái Lan, Myanma, Lào, Campuchia, Việt, Singapore,

Indonesia, bán đảo Malaysia… [ 5]

1.2. Phân loại Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820)

Trong hệ thống phân loại Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl,

1820) thuộc họ Scincidae được Kuhl mô tả khoa học đầu tiên năm 1820.

- Ngành: Ngành Động Vật Có Dây Sống (Chordata)

- Lớp: Lớp Động Vật Bò Sát (Reptilia)

- Bộ Bò Sát Có Vẩy (Squamata)

- Họ Thằn Lằn Bóng (Scincidae)

- Chi Eutropis

- Lồi E. multifasciata

Tên khác: Thằn lằn bóng hoa, rắn mối

Tên khoa học: Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820)

Tên đồng nghĩa: Mabuya multifasciata (Kuhl, 1820); Scincus multifasciatus

(Kuhl, 1820).

1.3. Đặc điểm Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820).

1.3.1. Đặc điểm nhận dạng

Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) có vảy bóng, đi

hình trụ, vào những ngày nắng chúng thường kiếm ăn ở các bụi cây ven thủy vực,

ven núi, ven đường. Gặp nhiều từ giữa tháng 2 và hoạt động mạnh vào ngày nắng

ráo, từ 7 – 11 giờ và từ 14 – 18 giờ, ban đêm ít hoạt động. Chúng thường nhút nhát,

thấy người là ẩn nấp ngay vào hang hoặc kẽ đá. Thằn lằn bóng hoa ăn côn trùng

cánh cứng, dế, gián, kiến, châu chấu, sâu, lá cây,...[15].

Chúng là lồi bò sát có thân hình to, nặng nề, thường có từ năm đến bảy

đường kẻ đậm trên lưng màu đồng thanh. Phía bên hơng sậm màu có các đốm trắng

viền đen hoặc có một đốm lớn màu cam ở vài con. Loài động vật máu lạnh này phổ



biến gần các nơi con người sống, bờ sông và các con suối rộng, nơi đất thấp hoặc có

độ cao tương đối. Thằn lằn bóng hoa rất linh hoạt dưới ánh nắng ban ngày, sưởi ấm

và tìm thức ăn ởcác nơi phát hoang hoặc trên các tảng đá, thân cây, hàng rào và các

bức tường có bề mặt thơ ráp [10].

Lồi bò sát này thường ở khe bụi gần nhà, mương, suối… Chúng bắt mồi bằng

cách rình ở nơi trú ẩn, chủ yếu ăn côn trùng cánh thẳng (gián, dế, châu chấu,…) đôi

khi ăn cả thực vật xanh (lá cỏ) [1] .

Thằn lằn bóng hoa có “tập tính điều nhiệt”. Sáng sớm chúng ra khỏi nơi ẩn

nấp và phơi nắng để hấp thụ nhiệt, tiêu hóa thức ăn. Những ngày nắng nóng chúng

ít phơi nắng mà chủ yếu là nâng nhiệt độ cơ thể từ nền đất ẩm. Khi nắng nhất trong

ngày chúng lại tìm nơi ẩn nấp và quay trở lại chỗ sưởi ấm khi mặt trời xuống thấp

và nhiệt độ khơng khí đã giảm xuống. Tập tính này giúp chúng duy trì nhiệt độ

khoảng 36 39oC trong khi nhiệt độ mơi trường có thể dao động từ 29 44oC [4].

Chúng cũng là loài động vật biến nhiệt, nhạy cảm với sự thay đổi của yếu tố

thời tiết (nhiệt độ, mưa, nắng), có chu kỳ hoạt động mùa và ngày đêm rõ ràng [12].

Khi gặp nguy hiểm, con vật chạy rất nhanh về nơi trú ẩn, tạm náu ở đó một

thời gian rồi lặng lẽ bò trong lớp cỏ đi nơi khác. Nó cũng dễ dàng tự cắt đi để

chạy khi bị bắt và ở chỗ cắt sẽ mọc đi mới. Đi có thể mọc lại vài lần [16].

Tập tính tự đứt đi ở Thằn lằn bóng hoa xảy ra khi chúng gặp nguy hiểm: kẻ

thù tấn công vào phần đi, có sự va chạm vào phần đi (bị đè)… Khi Thằn lằn

đang chạy trốn, chỉ cần một động tác giữ hay tóm phần đi của chúng thì ngay lập

tức phần ni đó tự động đứt ra chúng chạy thốt và phần đi bị đứt vẫn giãy giụa.

Sau một tuần chỗ bị đứt liền hẳn và một tuần tiếp theo nhú đuôi bắt đầu mọc (phần

đuôi tái sinh) [10].

Thằn lằn bóng lột xác vào mùa xuân hè, thường sau những cơn mưa và có thể

lột ba, bốn lần trong mùa. Sau khi lột xác, chúng cũng ăn da như nhiều loài thằn lằn

khác [16].

Sau khi lột xác, những lớp tế bào biểu bì ở bên dưới sẽ tạo nên lớp vẩy mới.

Hiện tượng lột xác ở thằn lằn bóng cũng như ở lưỡng cư được tiến hành dưới tác

dụng của kích thích tố giáp trạng và mấu não dưới [14].

Khi bắt đầu lột xác, Thằn lằn bóng hoa cà cơ thể mình vào những cành cây

hay hốc đất làm cho lớp da bong ra thành từng mảng. Khác với sự lột xác ở rắn

thành xác rắn, thằn lằn có hiện tượng ăn phần xác mới lột xong. Màu sắc cơ thể

Thằn lằn bóng hoa trước và sau khi lột xác khác nhau. Trước khi lột xác có màu

sẫm hơn. Và sau khi mới lột xác lớp vẩy mới có màu xanh và bóng hơn so với màu

sắc vẩy bình thường [10].

1.3.2. Đặc điểm sinh sản của Thằn lằn bóng hoa

Thằn lằn bóng hoa trưởng thành ở 6 7 tháng tuổi, bắt đầu sinh sản ở 8 9

tháng tuổi. Thằn lằn bóng có tập tính ghép đơi vào mùa xn và sinh sản vào mùa



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×