Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Về đêm gần sáng

a. Về đêm gần sáng

Tải bản đầy đủ - 0trang

11. Cơn hen có dấu hiệu báo trước.

12. SABA làm giảm viêm trong cơn hen

13. Corticoid dung làm thuốc cắt cơn hen

14. Magie sulphat sử dụng trong hen vừa và

nhẹ

15.Methylprednisolon sử dụng trong hen

nặng và rất nặng

16.Tìm câu phù hợp ghép cặp cột A với cột B



Cột A



Cột B



1.Cho bn thở oxy khi



a. Thuốc giảm viêm



2.Thuốc salbutamol



b. Khi hen là biểu hiện của sốc phản vệ



3.Corticoid



c. SpO2 < 92%



4.Adrenalin



d. Thuốc cắt cơn hen



5.LABA (thuốc dãn phế quản tác

dụng kéo dài)



15. Tình huống lâm sàng

Bé Hùng 8 tuổi, bệnh nhân HPQ bỏ thuốc dự phòng sáu tháng, hai ngày

nay trẻ hắt hơi sổ mũi, ho khò khè thấy khó thở

Khám: trẻ kích thích, SpO2 90%, ngồi chúi đầu ra trước để thở,rút lõm

lồng ngực, nói được câu ngắn, nhịp thở 45 lần/phút, khò khè thở rít nghe

thấy khơng cần ống nghe.

15.1.Mức độ nặng của cơn hen ở bệnh nhân này là:





90



Nhẹ

90

90











Vừa

Nặng

Rất nặng



15.2.Bạn xắp xếp theo thứ tự cần làm lúc ban đầu:













Hỏi tiền sử gia đình

Cho thở oxy

Cho khí dung salbutamol 3lần liên tiếp cách nhau 20 phút

Cho tiêm Methylprednisolon 1mg/kg

Cho truyền Magiesulphat



15.3.Bệnh nhân này cần đánh giá lại sau:











15 phút

30 phút

60 phút

120 phút



16. Tình huống lâm sàng:

Cháu Hùng trong tình huống trên, sau xử trí được đánh giá lại thấy: trẻ đỡ

kích thích hơn, SpO2 94-95% khơng oxy, ngồi thở, nói được câu dài, rút

lõm lồng ngực, nhịp thở 40 lần/phút, nghe phổi qua ống nghe ral rít ral

ngáy hai thì

16.1.Mức độ nặng của cơn hen ở bệnh nhân này là:











Nhẹ

Vừa

Nặng

Rất nặng



16.2 Bạn tiếp tục xử trí bệnh nhân này thế nào









Tiếp tục……

Cho…….

Đánh giá lại…….



Bảng kiểm

91



91

91



Số



Nội dung



Có (đạt)



TT



(khơng đạt)



1



Đánh giá bệnh nhân ABC



2



Đo SpO2, mạch



3



Ý thức



4



Khó thở



5



Nói/ hoạt động của trẻ



6



Nhịp thở



7



Triệu chứng cơ hơ hấp phụ



8



Nghe tiếng khò khè



9



Đánh giá mức độ nặng của cơn hen



10



Thở oxy để duy trì oxy > 94%



11



Cho khí dung salbutamol 3 lần liên tiếp

cách nhau 20 phút



12



Cho corticorid với cơn hen vừa, nặng và

rất nặng



13



Cho Magiesulphat với cơn hen nặng và rất

nặng



14



Xét nghiệm CTM, IgE, Mg



15



Làm khí máu nếu cơn hen nặng và rất

nặng



16



Đo PEF hoặc chức năng hô hấp với trẻ lớn

nếu có thể



17



Hỏi bệnh sử, tiền sử



18



Đánh giá tình trạng bệnh nhân sau 1h, nếu

tiến triển tốt đánh giá sau 2h, và sau 4



92



Khơng



92

92



THĂM DỊ CHỨC NĂNG HƠ HẤP TRONG BỆNH HEN PHẾ QUẢN

Ở TRẺ EM

Bs. Nguyễn Thị Vân Anh

Khoa Miễn dịch- Dị ứng- Khớp bệnh viện Nhi Trung ương

MỤC TIÊU:

1. Đo được chức năng hô hấp cho bệnh nhân hen phế quản

2. Đọc được kết quả 1 phiếu chức năng hô hấp và đưa ra kết luận.



Số tiết:-



Lý thuyết: 4

Thực hành: 40



NỘI DUNG

Cho dù việc chẩn đoán hen hen là một chẩn đốn lâm sàng, thăm dò

chức năng hơ hấp có thể hữu ích trong những trường hợp khơng điển hình

(ho mãn tính, nhất là ho về đêm, hoặc viêm phế quản tái phát ở người

không hút thuốc, …) và trong việc theo dõi bệnh nhân hen để hiệu chỉnh

phát đồ điều trị.

Hô hấp ký và đường cong lưu lượng thể tích cho phép đo đạc khách

quan hội chứng tắc nghẽn phế quản, kèm theo thử nghiệm hồi phục bằng

thuốc giãn phế quản (thông thường là thuốc đồng vận giao cảm bêta–2). Ở

93



93

93



những người có thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) bình

thường và test đáp ứng với thuốc giãn phế quản âm tính, thử nghiệm kích

thích phế quản bằng méthacholine được chỉ định để chẩn đốn tình trạng

tăng tính kích thích phế quản khơng đặc hiệu.

Hô hấp ký và thử nghiệm thở ra gắng sức (TTKTRG : FEV1 và lưu



lượng đỉnh, LLD)

Hô hấp ký đo các thể tích khí vận hành và lưu lượng khí thở ra tối

đa trong một hơi thở ra gắng sức. Phương pháp này cho phép vẽ đường

cong lưu lượng - thể tích (Hình 1) và xác định các thơng số thường sử dụng

nhất trong đánh giá hen như FEV1, dung tích sống gắng sức (DTSGS),

dung tích sống thở chậm (DTSTC), tỷ số FEV1/DTSTC và LLD.



Hình 1 : Đường cong lưu lượng - thể tích (LLD : lưu lượng đỉnh ;

FEV 50 : thể tích thở ra tối đa ở 50% dung tích sống).

94



94

94



Thở ra gắng sức được tiến hành bằng cách cho bệnh nhân hít vào tối

đa và thở ra càng nhanh càng tốt trong vòng khoảng 6 giây. Động tác này

được lập lại cho đến khi đạt được ít nhất 3 giá trị chấp nhận được (FEV1 có

tính lập lại với chỉ số dao động dưới 5%).

FEV1 là tham số có tính lập lại cao nhất, giúp nhận dạng hội chứng

tắc nghẽn phế quản (HCTNPQ). HCTNPQ được chẩn đoán dựa vào tỉ số

FEV1/DTS (chọn lựa giá trị cao nhất giữa DTSGS và DTSTC, thông

thường là DTSTC) trong khi mức độ nặng của HCTNPQ phụ thuộc trực

tiếp vào FEV1 (bảng 1). Theo tài liệu khuyến cáo của Hội Lồng ngực Hoa

kỳ và Hội Hô hấp Châu Âu năm 2005, HCTNPQ được chẩn đoán khi tỉ số

FEV1/DTS giảm dưới giới hạn thấp 5 phần trăm của dân số chuẩn dựa theo

tuổi, giới tính, chủng tộc, chiều cao và cân nặng của người bệnh. Việc sử

dụng giá trị ngưỡng cố định 70% của tỷ số FEV1/DTS có thể bị chỉ trích vì

nó thường cao hơn ở người trẻ và sau đó giảm dần một cách sinh lý khi tuồi

gia tăng (Hình 2).



95



95

95



Hình 2 : Giá trị bình thường của tỷ số FEV1/DTS theo tuổi (đường nét

liền) và ngưỡng dao động dưới 5% (đường nét đứt) thu được từ

phương trình hồi qui tuyến tính của Hội Phổi châu Âu ở nam và

nữ gốc Âu châu từ 18 đến 70 tuổi (Raffestin_RMR).



Bảng 1 : Phân độ nặng nhẹ Hội chứng tắc nghẽn phế quản dựa vào thể

tích khí thở ra giây đầu tiên (FEV1) (theo tiêu chuẩn của Hội lồng ngực

Hoa kỳ và Hội Phổi châu Âu 2005).

Hội chứng tắc nghẽn phế quản

96



FEV1

96

96



Nhẹ



> 70%



Vừa



60% - 69%



Hơi nặng



50% - 59%



Nặng



35% - 49%



Rất nặng



< 35%



Cho dù Hô hấp ký đo được FEV1 và tỷ số FEV1/DTS là tiêu chuẩn

vàng để đánh giá hen, xét nghiệm này cần dụng cụ chuyên biệt và bệnh

nhân phải di chuyển đến phòng mạch bác sĩ hoặc bệnh viện để làm. Đo lưu

lượng đỉnh bằng LLD kế là một phương tiện đơn giản, rẻ tiền và dễ sử

dụng cho bệnh nhân trong việc theo dõi bệnh hen.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh có sự tương quan chặt chẽ giữa

FEV1 và LLD, một chỉ số tốt cho biết mức độ tắc nghẽn khí đạo. Tuy nhiên

LLD khơng thể hồn tồn thay thế cho FEV1 vì có độ lập lại thấp, phụ

thuộc nhiều vào sự gắng sức của bệnh nhân và cho xu hướng đánh giá thấp

đi HCTNKQ so với TTKTRG. Tuy nhiên LLD có thể là một phương tiện

tốt để theo dõi bệnh với điều kiện được tiến hành đúng cách.

Trong lần khám bệnh đầu tiên, bệnh nhân phải được hướng dẫn cách

đo LLD bằng LLD kế do bác sĩ hoặc y tá có chun mơn đảm nhiệm.

Người bệnh phải ở trong trạng thái nghỉ ngơi, ngồi hoặc đứng đều được,

đầu giữ thẳng. Sau một hơi hít vào thật sâu và ngừng ngắn (< 2 giây),

người bệnh thở ra mạnh nhất và mím mơi thật chặt quanh ống thở miệng.

Hơi thở ra khơng cần phải kéo dài vì LLD chỉ đánh giá phần đầu của thở ra

gắng sức. TTKTRG và LLD dùng để đánh giá mức độ nặng (bảng 2) và

mức độ kiểm soát bệnh hen.

97



97

97



Bảng 2 : Phân độ nặng nhẹ của bệnh hen (Viện sức khỏe quốc gia

Hoa kỳ, 1997)

Độ



Đặc tính bệnh trước điều trị

Triệu chứng (TC)



TC về



Chức năng hô hấp



đêm

Độ 1 : nhẹ <1 lần /tuần hoặc không TC, ≤ 2 lần



TTKTRG hoặc LLD



– từng cơn LLD bình thường giữa cơn,



≥80%



/tháng



cơn ngắn, mức độ thay đổi



Dao động LLD <

20%



Độ 2 : nhẹ ≥ 1 lần /tuần như ng < 1

– kéo dài



>2



FEV1 hoặc LLD



lần /ngày, các cơn có thể ảnh lần/tháng ≥80%

hưởng đến sinh hoạt



Dao động LLD = 2030%



Độ 3 :



TC hàng ngày, sử dụng mỗi



> lần



FEV1 hoặc LLD >



vừa– kéo



ngày thuốc đồng vận bêta-2



/tuần



60% et < 80%



dài



tác dụng ngắn, ≥ 2 lần/tuần



Dao động LLD >



và có thể kéo dài nhiều ngày



30%



Độ 4 :



TC liên tục, hoạt động thể



nặng – kéo chất giới hạn, cơn thường

dài



xuyên



Thường



FEV1 hoặc LLD ≤



xuyên



60%

Dao động LLD <

20%



Bảng 3 : Các tiêu chuẩn kiểm soát bệnh hen (GINA 2009)

98



98

98



Các tham số



TC ban ngày



Hen kiểm



Hen kiểm sốt



sốt tốt



một phần (Một



(Tồn bộ các



trong các tham



tham số)



số)



Khơng (≤



> 2/ tuần



2/tuần)



Hen mất kiểm soát



Từ 3 trở lên các tham

số của cột « kiểm sốt



Giới hạn hoạt động thể Không



Không



một phần »



chất

TC về đêm/Thức giấc



Không



Không



Nhu cầu dùng thuốc



Không (≤



> 2/ tuần



đồng vận bêta-2 tác



2/tuần)



dụng ngắn

Chức năng hơ hấp



Bình thường



(FEV1 và LLD)



< 80% giá tri lý

thuyết hoặc so

với giá trị cao

nhất trước đó



Thử nghiệm hồi phục HCTNKQ

Khi đường cong lưu lượng - thể tích cho thấy có HCTNKQ, thử

nghiệm dãn phế quản (hay thử nghiệm hồi phục HCTNKQ) có thể tiến

hành bằng cách cho bệnh nhân dùng thuốc đồng vận bêta-2 tác dụng ngắn

(Ventoline) hoặc thuốc đối kháng phó giao cảm (Bronchodual). Sau đó đo

lại cho bệnh nhân đường cong lưu lượng - thể tích sau 15 phút đối với

Ventoline hoặc 30 phút đối với Bronchodual.



99



99

99



HỘI CHỨNG PHỎNG RỘP DA DO TỤ CẦU

Bác sỹ Lương Thị Liên

Khoa Miễn dịch-Dị ứng-Khớp bệnh viện Nhi Trung ương



MỤC TIÊU

1.

2.



Trình bày chẩn đốn hội chứng phỏng rộp da do tụ cầu

Chẩn đoán phân biệt được hội chứng phỏng rộp da do tụ cầu với một



3.



số bệnh lý viêm da khác

Điều trị được hội chứng phỏng rộp da do tụ cầu



Số tiết: - Lý thuyết: 2

- Thực hành: 20

NỘI DUNG

1. Đại cương

Hội chứng bỏng da do tụ cầu (SSSS) là bệnh nhiễm trùng da cấp tính

gây nên do ngoại độc tố của tụ cầu vàng nhóm 2. Bệnh được mơ tả đầu tiên

bởi một bác sĩ người Đức tên là Baron von Rittershain khi làm việc trong

trại trẻ mồ côi người Czechoslovakia năm 1878. Tuy nhiên vai trò của độc

tố thì phải đến 1970 mới được chứng minh bởi Melish và Glasgow, sau khi

100



100

100



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Về đêm gần sáng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×