Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. NHỮNG TƯ LIỆU BỔ SUNG CHO CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC (1802 - 1885)

IV. NHỮNG TƯ LIỆU BỔ SUNG CHO CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC (1802 - 1885)

Tải bản đầy đủ - 0trang

sông Cày thuộc tỉnh Hà Tĩnh, sông Bố Vệ thuộc tỉnh Thanh Hóa, thế nước sơng hẹp,

hoặc nên bắc cầu gỗ, hoặc



nên thuê điều thuyền dân, kết làm cầu nổi, hoặc nên dùng tre gỗ kết làm bè nổi, do các

quan kinh ấy, xét theo địa hạt sửa sang. Duy sơng Cẩm La, sơng Gianh ở Quảng Bình;

sàng Ngạn, sơng Đà, sông Nại, sông Hộ ở Hà Tĩnh; sông Lam, sơng Cấm, sơng Mã,

sơng Hồng Mai ở tỉnh Nghệ; sơng Ngọc Giáp ở Thanh Hóa, sơng Nguyệt Đức ở Bắc

Ninh; cộng 16 chỗ, hoặc là lòng sơng rộng, hoặc là thế nước chảy xiết, nên phái thuyền

công chở sang…

Các chỗ đò ngang kể ở trên, đã từng phái thuyền cơng, tới kỳ hạn quan tỉnh sở tại liệu

tính thuê thêm thuyền dân gộp vào để chuyên chở. Tựu trung chỗ nào bờ sông cát lầy

cũng do quan tỉnh sở tại đều tạm bắc cầu bến ở 2 bên bờ cho được yên ổn thuận tiện,

Các hạng thuyền phái đi chuyên chở lần này ở Kinh thì do quan Thống quản Thủy sư,

ở ngoài do các quan tỉnh chỉnh bị sửa sang cho được chu đáo; liệu phái biền binh chở

thuyền đến các giang phận trước kỳ hạn, chờ đợi để kịp thời chuyên chở.

Lại chuẩn y lời tâu: lần này sứ nước Thanh lên thuyền từ bến đò sơng Nhị Hà, nên phái

1 lãnh binh, 4 quản vệ quản cơ, 2000 biền binh, 1 suất đội đốc suất 30 biền binh cầm

kiếm trường do đường thủy hộ tống qua đồn thủy Thanh Hóa, rồi lên đường bộ đi đến

tỉnh thành Quảng Bình; lại phái 1 thống chế hoặc 1 chưởng vệ, 6 quản vệ đốc suất

3000 tên lính. kinh, 1 suất đội đốc suất 40 biền binh cầm kiếm trường hộ tiếp; từ tỉnh

thành Quảng Bình đến bến đò Hồ Xá tỉnh Quảng Trị; lại phái thêm 2 quản vệ, 1000

biền binh thủy sư đều cỡi thuyên mành đón tiếp ở bến đò ấy. Những viên biền hộ tiếp

ở Quảng Bình đều theo thuyền tiến đến kinh tất cả.

Đến khi sứ bộ ấy trở về vẫn đều xét theo thứ tự thay đổi hộ tống. Về 2 đoạn đường thủy,

số quan qn hộ tiếp có nhiều, nên điều thuyền ngồi cõi. Đoạn đường thủy từ bến đò

Gia Thụy đến Đồn Thủy tỉnh Thanh Hóa. Quan quân hộ tiếp hơn 2000 người, nên điều 8

chiếc thuyền Hải đạo ở Kinh và 44 chiếc thuyền Khinh khoái ở các tỉnh Bắc kỳ cùng 60

chiếc các hạng thuyền nguyên đã làm mui che, tổng cộng 102 chiếc để đủ chuyên chở.

Đoạn đường thủy từ bến đò Hồ Xá đến bến đò Hương Giang quan quân hộ tiếp hơn

4000 người, nên điều 4 chiếc long thuyền, thuyền Hải đạo, thuyền Lê, xuồng, thuyền dẫn

xuồng mỗi thứ 10 chiếc; 7 chiếc thuyền Sam bản ở Kinh cộng 51 chiếc, cùng 60 chiếc

các hạng thuyền nguyên đã làm mui che, tổng cộng 111 chiếc, có thể đủ cho quan quân

hơn 2000 người ngồi dược. Còn lại hơn 1600 biền binh số đi đường bộ về trước đến bến

đò tỉnh thành Quảng Trị bày hàng ở trên bờ, để hộ tiếp; đợi thuyền sứ bộ đi qua, biền

binh ấy lại do đường bộ trở về kinh, đứng chực ở đình bến sơng Hương. Đến ngày sứ ấy

trở về cũng đều chiểu theo như thế theo số hộ tống. Tựu trung các hạng thuyền phái đến

bến đò Gia Thụy tiếp hộ trước kỳ hạn chở tới bến ấy chờ đợi. Còn như những thuyền

phái đến bến đò Hồ Xá, đợi khi báo mở cửa ải, lại chỉ đi hộ tiếp.



200



Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 8,

quyển 130, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.366 – 370.

IV.2. Thể thức việc tiếp sứ

Phàm khi có đại lễ bang giao, tiếp được bản tin báo sứ nước Thanh đến, đều

phải sức làm sẵn những điện, đường dùng về việc tuyên phong, dụ tế, những đồ vật về

việc tiếp sắc, tiếp sứ và các sở công quán, cầu đường, thuyền bè xe kiệu cùng là xin phái

sẵn, những quan viên chấp sự thù tiếp cho chí lại dịch, biên binh, voi, ngựa, các khoản

đều được thỏa đáng. Sắp với ngày sứ đến, 3 viên chờ mệnh mang theo thù phụng, thư

ký, thông ngôn, y sĩ, nhạc sinh và binh, voi, đem long triều, hương án, đồ vật mang theo,

đến cửa quan chờ sẵn. Khi tiếp được tin báo ngày mở cửa quan, lập tức đem số mục

nhân viên sứ bộ cùng số rương gánh phi báo

64

cho các địa phương, tề tựu 2 đài Ngưỡng Đức trên cửa quan, bài trí sẵn voi, ngựa, cờ,

giáo.

Sứ Thanh đến cửa quan, bắn 3 phát pháo lệnh rồi mở khóa cửa. Bên ta cũng

bắn 3 phát pháo lệnh trả lời, quân sĩ mở cờ, đồng thanh dạ ran hưởng ứng. Kế đó,

súng điểu sang đều bắn 3 phát. Chờ khi nước Thanh ủy người đến mời thời quan đón

mệnh, quan tỉnh Lạng Sơn cùng các viên thờ phụng thư ký đều mặc mũ áo đến

65



trước đài Chiêu Đức làm lễ triều bái. Sứ Thanh mời vào hậu đường thời đưa thơ

và phẩm vật ra mừng các viên đi hộ tống sứ bộ, làm lễ chào yết. Chờ họ sai

người đem những rương tải đến giao nhận xong, liền sai vệ sĩ đem long đình, hương

án, nghi hương, nhã nhạc đến trước đài Chiêu Đức, sứ nước Thanh bưng cáo văn,

sắc thư đặt vào 1 long

đình, lại bưng dụ văn đặt vào 1 long đình nữa. Bên Thánh và bên ta đều bắn 3 phát

pháo lệnh rồi qua cửa quan. Quân sĩ đồng thanh dạ ran đều bắn 3 phát điểu sang rồi

chiếu theo lệ hành quân, nổi trống lên tiến hành. Nghi trượng đi trước, nhã nhạc tiếp

theo, nhã nhạc rước đi nhưng không cử nhạc - thứ đến gươm trường, thứ đến long

đình, thứ đến kiệu sứ Thanh, thứ nữa đến ngựa nhân viên tùy tòng. Võng ngựa các

quan đợi mệnh tiếp theo đi hộ thống. Biền binh, voi, ngựa đều lần lượt theo sau.

Những viên thù phụng, thư ký đều theo đi. Khi đến công quán Lăng Mai, các viên đón

mệnh đem theo và phẩm vật đến làm lễ chào yết sứ nước Thanh.

Dọc đường, những nơi đơng đúc dân cư phía ngồi tỉnh thành mà long đình đi

qua, thời hàng phố phải kết hoa ở cổng phố, dán tấm giấy đỏ để 2 chữ lớn: “cung

nghinh”. Cửa hiệu đều phải đặt hương án để chữ hoan nghênh. Trên thành tỉnh phải cắm

la liệt cờ xí chờ đón. Khi long đình đến cách cơng qn ngồi cửa dặm thời bọn đổng

cán, thù phụng, thừa

201



64

65



Ngưỡng Đức đài ở trên cửa quan phía nam.

Chiêu Đức đài ở trên cửa quan phía Bắc.



202



biện, thư ký chờ ở quán đều mặc áo mũ ra q đón ở bên trái đường. Khi đến công

quán thời bắn 3 phát pháo lệnh. Khi sứ nước Thanh đến cũng bắn 3 phát pháo. Đặt

long đình vào gian giữa cơng qn. Quan tĩnh sở tại ủy đổng cán, thừa biện, thông sự

dẫn sứ nước Thanh cùng những những người tùy tùng chếu theo phòng đến nghỉ ngơi.

66



Các viên đón mệnh, đón tiếp đều lần lượt mang bọn từ đổng cố trở xuống áo mũ đến

trước long đình làm lễ triều bái. Xong, ủy nhân viên dẫn người mang đến các thể

khoản đãi đầy đủ. Đến chiều, các viên đón mệnh đón tiếp đều đưa danh thiếp đến vấn

an sứ nước Thanh. Ban đêm, từ đổng cán đến thư ký đều tức trực ở cạnh long đình để

coi đèn hương (hương đèn do quan sở tại sắm sẵn).

Sáng ngày hôm sau, cũng làm lễ triều bái như trước. Xong, sai người bẩm với sứ

nước Thanh xin đi. Bắn 3 phát pháo lệnh rồi rước long đình, hương ấn đi trước. Những

nhân viên trong quán đều qùi tiễn 3 bên tả đường mé ngồi cửa. Cơng việc xong, đổng

cán, thừa biện vẫn lưu lại ứng trực ở quán ấy; thù phụng, thư ký thời đi theo đến công

quán sau, sứ nước Thanh liên kiệu, cũng bắn 3 phát tiếng pháo lệnh rồi theo thứ tự như

lần trước tiến phát (khi nào 1 ngày đi qua 2 trạm thời ở chỗ trạm nghỉ lại trưa, đều theo

thể lệ như mọi khi, duy bỏ một tiết mục đưa danh thiếp vấn an). Công quán nào là đâu,

địa giới hộ tiếp của quan chờ tiếp thời quan chờ tiếp ấy, đều phải q đón ở mé ngồi

cơng qn. Chờ khi sứ nước Thanh vào quán, sẽ đưa giản văn, phẩm vật đến mừng,

làm lễ chào hỏi..

Khi đi qua các địa phương thì quan tỉnh sở tại đều q đón ở ngồi nửa dặm

phía ngồi cơng qn đầu địa giới. Xong, một viên đi trước để kiềm xét quán xá, cầu

đập trong hạt và các thứ khoản đãi; một viên thời lưu lại chờ hộ tống đến đầu địa giới

tỉnh kế tiếp.

Việc lễ mừng của các tỉnh hạt, thời quan tỉnh đều hội họp ở mé ngoài thành,

đưa giản văn, phẩm vật đến ra mắt làm lễ chào hỏi. Phía ngồi tỉnh thành đó, nếu lại là

nơi sứ Thanh nghỉ lại thời tỉnh ấy lại phải, đưa đến 3 mâm cơm.

Các hạt dọc đường có sứ bộ đi qua gặp chỗ nào có miếu Đế vương các đời

hay những nơi có linh từ, do quan tỉnh sở tại đã chuẩn bị sẵn lễ phẩm, để đến đấy cáo

yết hoặc để sứ Thanh ủy nhân viên đến làm lễ.

Hôm sứ Thanh đến mời vào công quán trong kinh thành nghỉ ngơi. Các viên

đón mệnh đón tiếp và những người đón tiếp mời phái thêm đến, dẫn bọn nhân viên từ

đổng cán trở xuống đến trước long đình làm lễ triều bái. Quan đón tiếp mỗi phái thêm,

đến sẽ đưa giản văn phẩm vật đến mừng và chào hỏi sứ Thanh. Xong, lập tức trở về

phục mệnh. Các viên đón mệnh, đón tiếp đều lưu lại công quán điều khiển hết thảy mọi

viêc - Người phiên dịch thời đi lại ứng biện công việc.

Vua phái thân thần mang quốc gián, phẩm vật đến thăm hỏi sứ nước Thanh, làm

203



lễ

66



Quan đón mệnh: quan để đón sắc mệnh. Quan đón tiếp: quan đi đón tiếp sứ thần



204



chào mừng. Hôm ấy, hoặc hôm sau, sứ nước Thanh ủy nhân viên đệ thiếp vấn an đến

cửa khuyết dâng trình, do quan túc trực chuyển báo. Một viên tiếp khách mời ủy viên

vào tả đường đãi trà, Quan nhận tiếp chuyển tâu vào. Vua thưởng phẩm vật cho ủy viên

và người tùy tùng. Đến các ngày tuyên phong và dụ tế, đều theo nghi thức làm lễ. Đến

khi tiếp sứ Thanh báo rõ ngày về, thời có quốc giản nói rõ là phái thân thần tiễn đưa

một trạm dịch. Đến ngày sứ ra về, thân thần mang cấm binh tiễn đưa một trạm. Quan

đón mệnh thời đưa tiễn suốt đến cửa quan. Quan đón tiếp cũng chiếu theo địa phận hạt

mình mà đưa tiễn những quãng ngắn. Các khoản binh, voi, thuyền đi hộ tiếp, bắn pháo,

nổi trống hiệu lệnh cùng cáo yết đến miếu, cho chí yến an, cung đốn, đều chiếu theo

như lúc sứ bộ đến mà làm…

Tự Đức năm thứ 2: Trước khi sứ Thanh tiến kinh làm lễ, phái 3 viên đón mệnh

đến cửa quan để đi theo với sứ bộ. Nhà khách bên sông Nhị, công quán Phú Cốc, tỉnh

thành Nghệ An, bến sơng Hồ Xá, mỗi sở quan văn quan võ đón mệnh đến 1 viên,

chiếu theo thứ tự mà chầu chực. Viên đón tiếp ở đình bến sơng Hương, phái thêm 3

viên đón tiếp (2 văn, 1 võ) để mời sứ nước Thanh vào công quán trong kinh thành.

Đường bộ từ Lạng Mai đến Gia Thụy; lại từ Phú Cốc đến bến sông Hồ Xá, mỗi công

quán dùng; đổng cán thừa biện mỗi hạng 1 người; thù phụng, thư ký, mỗi hạng 1 người,

1 viên quản thủ, 200 tên lính. Đi đường thủy qua những nơi Hà Nội, Hưng Yên, Ninh

Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên, thời mỗi hạt dùng 1 viên đổng cán, 2 viên

thừa biện. Ở đình bến sông Hương, thời đổng cán, thừa biện, thù phụng, thư ký mỗi

hạng 1 viên. Lại phái riêng 3 viên thị vệ để đến ngày đó sắp xếp khoản tiếp trà nước.

Những viên biền, hộ tiếp ở đầu địa giới Bắc Ninh và đình bến sơng Nhị đều đình chỉ.

Còn như viên biền hộ tiếp ở cửa quan đều theo lệ mà làm, duy có voi thời khơng nhất

định phải như số cũ. Binh, voi này hộ tiếp đến bến sông Nhị thời đổi phái 30 tên mang

gươm trường, 3 nghìn quân cơ, vệ và 1 viên thống quản. Khi hộ tiếp đến bến sông Phú

Cốc và đến tỉnh thành Nghệ An, cũng theo con số ấỵ lần lượt mà thay phái. Duy số

thớt voi căn cứ vào ngạch voi hiện có của Thanh Hóa, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,

liệu mà điều đi. Hộ tiếp đến công quán Quảng Khê thuộc Quảng Bình thời thơi. Ở đây

riêng phái 3 nghìn quan quân, 20 thớt voi và 40 biền binh mang gươm trường hộ tiếp

từ công quán Quảng Khê đến bến sơng Hồ Xá, rồi trích lấy 1 nghìn 4 trăm quan quân

biền binh cho chia ra ngồi thuyền hộ tiếp sứ Thanh đến kinh; còn bao nhiêu đều do

đường bộ đến bến đò tỉnh thành Quảng Trị để sắp hàng (đón), rồi lại về trước chờ ở

bến sơng Hương chờ đợi. Lại phái thêm 1 nghìn biền binh thủy sư chia ngồi thuyền đến

bến Hồ Xá hộ tiếp. Lại chia đường bộ làm 4 chặng, mỗi chặng phái 1 nghìn biền binh

để khiêng đồ vật, cho chúng được luân phiên với biền binh cầm binh khí.

Lại khi sứ Thanh đến Gia Thụy và đến Hồ Xá, quan chờ mệnh đều cấp cho nhân

205



viên tùy tòng của sứ bộ 500 lạng bạc tiền ăn đường. Khi đi đường, liệu chia ra

những quãng 3, 4 trạm lại tâu về một lần.

Thuyền hậu tiếp đường thủy phải chuẩn bị cờ hiệu, đèn lồng, lúc tiến, lúc dừng, cũng

phải chiếu theo lệ hành quân, bắn pháo, hiệu lệnh, cũng như đi đường bộ vậy.

Khi sứ Thanh đến bến sông Hương, trên kỳ đài đã treo sẵn cờ vàng. Bộ binh bắt sẵn

biền binh, chiếu theo ven đường từ bến sơng đó đến cơng qn kinh thành, cho cắm rải

hàng những cờ giáo, và lấy 200 con ngựa công cho đến ứng trực sẵn. Những quan đón

tiếp mới phái thêm đem các viên đổng cán, thừa biện, thù phụng, thư ký và thông dịch

sứ cùng 12 viên quan tứ ngũ phẩm ở lục bộ, đều q đón ở mé tả đường.

Long đình rước vào tiền đường trong đình sở rồi đặt xuống. Quanh đón tiếp phái đến

trước ủy người đến bẩm mời sứ nước Thanh và các viên tham tán đều đến hậu đường

tạm nghỉ, đãi trà. Tùy tòng và binh dịch chia ra ngồi 2 bên hành lang tả, hữu. Các viên

q đón ban nãy đều đến triều bái long đình. Xong, quan đón tiếp phái thêm đệ quốc

giải đến chào yết sứ nước Thanh. Binh, voi và nghi trượng, nhã nhạc trực ở bờ sơng

thời chiếu từ cái đình ở bến qua tới phía trong cửa đơng nam và bày hàng nghiêm túc.

Theo lệ, nổi trống, bắn pháo rồi tiến hành. Các viên đón tiếp phái thêm đến đều lên

ngựa đi trước dẫn đường, các viên đón mệnh, đón tiếp phái trước thời võng ngựa đi hộ

tống; thông dịch sứ cũng lên ngựa đi cùng.

Long đình vào cửa đơng nam kinh thành, bắn 7 phát pháo lệnh. Khi đốn công quán

kinh thành, đều theo thể lệ như ở công quán Gia Thụy thời Thiệu Trị. Duy việc hơm

sứ nước Thanh đến có tặng cấp áo mặc rét lụa hoa cho bọn từ tham tá trở xuống. Và

khi tiếp được sứ nước Thanh báo ngày về thời phái thân thần mang quốc giản đến lưu

lại; lại phái mang bạc đến giao quan đón mệnh đưa làm quà cho sứ thần ấy cùng

tham sứ trở xuống mỗi người có khác nhau.

Hơm sứ nước Thanh về, phái 5 viên quan văn nhị tam phẩm đưa đến đình bến

sơng Hương và 1 viên thân thần mang theo 1 viên quản vệ 500 cấm binh hộ tống đến

cầu bến Kim Đôi rồi đưa phẩm vật tiễn đưa và lần lượt các quan đón tiếp đều có phẩm

vật đưa tiễn. Quan các tỉnh trên dọc đường đi đều biện 3 mâm cơm và hội họp tiễn

chân. Trong khi đi đường, mỗi lần đến chỗ quan đón mệnh hay quan đón tiếp cáo từ

ra về, lại làm điệp tâu một lần. Và lại chiếu theo lệ lúc sứ bộ đến, khi đi đến Hồ Xá,

Gia Thụy, đều cấp cho bọn nhân viện tùy tòng 500 lạng bạc để ăn đường. Lại thấy số

rương gánh của sứ bộ nhiều lên, phái thêm số biền binh đi hộ tiếp từ Quảng Khê đến

Phú Cốc mỗi chặng 500 tên. Ngoài ra, các khoản đều chiếu theo lệ thời Thiệu Trị.

Nguồn: Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 8,

quyển 129, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.324 – 331.

206



IV.3. Đại lễ tuyên phong

Gia Long năm thứ 3, sứ nước Thanh là án sát Quảng Tây Tể Bá Xâm vâng dụ chỉ

vua Thanh mang cáo, sắc, quốc ấn đến làm lễ tun phong ở điện Kính thiên thành

67



cũ .

Trước đó, ngự giá đi Bắc tuần, đã đặt điện Cần chính ở mé trong ngũ mơn thành Thăng

Long, phía ngồi cửa, liên tiếp dựng hành lang dài đến cửa Chu tước. Phái 1 viên Thụ

sắc, 1 quan Thụ ấn đều tùng tước quận công, 1 viên điển nghi dùng quan bộ Lễ, 2 viên

nội tán dùng quan thiêm sự; củ nghi, ngoại tán mỗi chức 8 người dùng xen cả thiêm sự

lẫn hàn lâm viện.

Trước ngày làm lễ, thuộc ty bộ lễ đã bày long đình ở chính giữa điện Kính thiên, hương

án ở phía nam long đình, chỗ vua bái ở đằng trước hương án; chỗ đứng của sứ nước

Thanh ở phía hữu hương án. 1 viên điển nghi đứng ở bên tả điện, 2 viên nội tán, 1 viên

nhận sắc, 1 viên nhận ấn đều đứng ở mé hữu điện. Củ nghi, ngoại tán đều 8 viên, chia

ra đứng ở bắc điện cùng hai bên tả hửu thềm đá và lối đi lót đá.

Đến ngày làm lễ (13 tháng giêng), phái thêm 2 viên trọng thần văn võ đến trước công

quán Gia Quất, bẩm xin nghêng tiếp sứ nước Thanh. Lại sai sẵn 3 viên trọng thần

văn, võ (2 văn, 1 võ) đều mặc phẩm phục, nghiêm túc, và tướng hiệu, binh mã, nhã

nhạc, nghi trượng đến bờ nam Nhị Hà sắp hàng. Chờ khi long đình đến bờ nam thời

trải chíếu cạp điều ra rồi 3 viên trọng thần đến trước án làm lễ 3 lần quì 9 lần khấu

đầu. Xong, lại hướng vào sứ nước Thanh làm lễ 1 quì 3 khấu và mời vào đình sở đãi

trà.

Xong rồi lên ngựa đi trước dẫn đường, thứ đến nghi trượng, nhã nhạc, đến hương án,

đến long đình, đến kiệu sứ thần, thứ nữa đến tùy tòng cưỡi ngựa. Đến ngồi cửa Đại

hưng thời tùy tòng xuống ngựa. Đến ngồi cửa Chu tước thời thơng sự mời sứ nước

Thanh xuống kiệu. Vua đứng ở trong cửa hướng vào sứ Thanh làm lễ chào lẫn nhau.

Lễ xong, long đình do cửa giữa rước vào. Sứ thần do cửa tả vào, bên thềm bên đông ;

vua do cửa hữu vào, bên thềm bên tây. Trăm quan đi hỗ tòng. Đến diện Kính thiên, đặt

long đình, hương án vào vị. Quan Minh tán xin vua đứng vào vị. Trăm quan chia ban

đứng ở sân điện. Các viên chấp

68

sự đều vào chỗ, ai vào việc ấy. Quan Minh tán xuống: “Thỉnh ngự nghệ báí vị” . Ngoại

69



tán xướng: “Bá quan bài ban” ; lại xướng: “Ban tề”

71



72



70

73



74



Quan Minh tán xướng: “Quy” . “Tam khẩu” ,“Hưng” (3 lần),“Bình thân” (nội ngoại

75



tán cùng xướng). Quang Minh tán xưởng: “Thình ngự nghệ long đình vị tiền” ; xướng

76



“quỵ” .

67



Nhà Nguyễn đóng đơ ở Huế nên gọi cố đô Hà Nội là thành cũ



207



68

69

70

71

72

73



Xin vua đến chỗ lạy

Trăm quan sắp hàng

Ngay ngắn hàng

Quỳ xuống

3 lần khấu đầu

Đứng dậy



208



77



78



Ngoại tán xướng: “Bá quan giai qụy” . Quan Minh tán xướng: “Tuyên sắc” . Một

viên tuyên sắc đứng đọc sắc (do quan nước Thanh đọc). Xong, lại trao cho sứ Thanh.

79



Quan Minh tán xướng: “Tiếp sắc” . Sứ nước Thanh bưng sắc trao cho vua tiếp nhận,

giơ lên trán rồi trao cho quan thụ sắc quì nhận lẩy rồi ra chỗ cũ đứng. Quan Minh tán

80



xướng: “Tiếp ấn” . Phó sứ nước Thanh lấy ấn trao cho chánh sứ nước Thanh bưng trao

cho vua tiếp nhận giơ lên trán, rồi trao cho quan thụ ấn quì nhận lấy ra đứng chỗ cũ, Sứ

81



82



nước Thanh cũng ra đứng chỗ cũ. Minh tán quân xướng: “phổ phục” , “hưng” , “Bình

thân”



83



84



(nội ngoại tán đều xướng như thế). Quan Minh xướng: “phục vị” ; xướng:

85



86



87



88



89



“Hành tạ ân lễ” ; xướng: “Quỵ” , “Tam khấu” , “Hưng” (3 lần), “bình thân” (nội

90



ngoại tán đều xướng như thế). Minh tán xướng: “Lễ tất” . Vua ra đứng chỗ cữ. Ngoại

tán xướng: “Lễ tất”. Các quan chia ban đứng chầu. Vua hướng vào sứ nước Thanh làm

lễ vái lẫn nhau. Xong, quan điển nghi mời sứ nước Thanh xuống thềm. Sứ Thanh do

thềm phía đơng đi xuống; vua do thềm phía tây đi xuống, đều đến điện Cần chính, chia

ra bên đơng, bên tây rồi thiết trà. Xong, tiễn sứ nước Thanh ra. Các quan đi hỗ tòng đến

phía trong cửa Chu tước, vua hướng vào sứ nước Thanh làm lễ vái lẫn nhau. Sứ Thanh

ra cửa lên kiệu. Quan quân hộ tống về quán đãi yến và tặng quà.

Minh Mạng năm thứ 2, sứ nước Thanh là án sát Quảng Tây Phan Cung Thì mang cáo,

sắc cùng ngự giá ra Bắc tuần, rồi làm lễ (tuyên phong) ở điện Kính thiên Bắc thành cũ.

Đã phái trước quan viên chấp sự và đều theo lệ trước, duy bớt đi quan thụ ấn và phái

thêm 2 thị vệ đại thần, dùng quan văn, võ nhất phẩm sung vào. Đã sắp trước chỗ để

long đình ở giữa điện Kính thiên, chỗ để hương án ở phía long đình, chỗ vua bái ở

phía nam hương án, chỗ vua đứng ở phía tây hương án, xế về nam quay mặt hướng

đông, chỗ đứng của các sứ nước Thanh ở phía đơng hương án xế về nam quay mặt

hướng tây. 1 viên điển nghi đứng ở bốn tả điện, 1 viên thụ sắc, 2 viên nội tán đứng ở

bên hữu điện, 8 viên củ nghi, 8 viên ngoại tán chia ra đứng ở sân điện và hai bên tả

hữu mé ngồi ngũ mơn. Phái sẵn 3 viên văn

74

75

76

77

78

79

80

81

82

83

84

85

86

87

88



Đứng thẳng

Xin vua đến trước long đình

Quỳ xuống

Các quan đều quỳ

Tuyên đọc sắc thư

Tiếp nhận sắc thư

Tiếp nhận ấn

Cúi rạp xuống

Đứng dậy

Đứng thẳng người

Trở lại chỗ cũ

Làm lễ tạ ân

Quỳ

3 lần khấu đầu

Đứng dậy



209



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. NHỮNG TƯ LIỆU BỔ SUNG CHO CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC (1802 - 1885)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×