Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nước Việt có cõi đất phía nam mà thơng hiếu với Trung Hoa, tuy ni

dân dựng nước có quy mơ riêng, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối ngoại

thì xưng vương, vẫn chịu phong hiệu, xét lý thế thực phải như thế. Cho

nên lễ sách phong, lễ cống sính, việc bang giao các đời đều xem là quan

trọng. Kỳ gian thể lệ có khinh có trọng, có giản có phiền, trước sau hoặc

có khác nhau, khơng thể khơng biết cho rõ…Còn như khi sứ giả đi lại thì

có lễ tiếp đãi, bờ cõi hai nước thì có văn thư biện bạch, đó đều là việc có

quan hệ đến quốc thể và lân giao. Nếu khơng có tài trị nước thì sao thấy

được phong hóa của Trung Hoa, cho nên những lễ nghi đáp ứng các triều,

cần nên xem rộng xét kỹ.

Nay tơi tìm khắp điển cũ, chép theo sách tàn, chia ra từng loại từng điều

để ghi đại lược: 1. Điển sách phong; 2. Lễ cống sính; 3. Nghi thức tiếp đãi;

4. Việc biên cương. Gọi chung là Bang giao chí [27; tr.533].

Như vậy, Phan Huy Chú đã bước đầu đề cập đến những hoạt động chính trong

quan hệ bang giao Việt – Trung thời phong kiến. Đó là hoạt động sách phong, cống

sính, tiếp đãi sứ thần, giải quyết việc biên cương và sử dụng văn thư trong những việc

“có quan hệ đến quốc thể và lân giao”. Rõ ràng, những hoạt động bang giao mà Phan

Huy Chú nêu ra trên đây tuy chưa thật đầy đủ nhưng đã bước đầu giúp chúng ta hình

dung được những nét chính trong cấu trúc của hoạt động bang giao giữa Việt Nam và

Trung Quốc thời phong kiến. Điều đáng lưu ý là, trong số những hoạt động bang giao

mà Phan Huy Chú nêu lên, bên cạnh những hoạt động trên phương diện chính trị như

sách phong, cống sính, việc biên cương…thì thư văn đã được ơng nhắc đến như một

cơng cụ văn hóa đắc lực góp phần giải quyết một số vấn đề nảy sinh trong quan hệ

hai nước thời bấy giờ.

Về sau, chúng ta thường dùng thuật ngữ "ngoại giao" để chỉ chung cho những

hoạt động phát sinh do nhu cầu giao thiệp giữa các chủ thể chính trị. Theo Từ

Nguyên, quyển thượng, thuật ngữ Ngoại giao (大大) được giải thích rằng: 大大大大大大大大:

Thời cổ đại chỉ có quần thần gặp riêng chư hầu.



175



大大大大大大:大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大[22

2, tr.650] tức là: Sách Cốc Lương Huệ truyện, năm Sách Ẩn thứ nhất có chép: "Các

quan Đại phu trong thiên hạ, nếu khơng có mệnh lệnh của Thiên tử, khơng được ra

ngồi gặp gỡ chư hầu. Khơng phải giao thiệp chính thức, cho nên khơng được tham dự

triều chính". Ngồi ra, 大大 (Ngoại giao) còn có nghĩa giao tiếp với bạn bè, với người



176



ngoài.

Ngày nay, ngoại giao (Diplomacy) được hiểu là phương thức hồ bình dựa

vào khả năng điều đình, thuyết phục để thi hành chính sách đối ngoại (Foreign

Policy)" [66, tr.167]. Để phân biệt ngoại giao với chính sách đối ngoại, chúng ta có

thể hiểu đường lối đối ngoại là“đường lối tổng quát được thực hiện qua những

chương trình cụ thể mà quốc gia theo đuổi trong việc giao thiệp với các quốc gia

khác, còn ngoại giao là nghệ thuật hay kỹ thụât thực hiện những chương trình do

chính sách đối ngoại vạch ra" [66, tr.167]. Chính sách đối ngoại sau khi được hình

thành, cần phải được hữu thể hoá bằng những kế hoạch và hành động cụ thể. Những

kế hoạch và hành động này gọi là những dụng cụ hay những phương tiện để thi

hành chính sách đối ngoại. Như vậy, ngoại giao ngày nay được coi như là một dụng

cụ, một phương thức hồ bình để thi hành chính sách đối ngoại của quốc gia.

Là phương thức hồ bình để thi hành chính sách đối ngoại quốc gia, trên thực

tế, ngoại giao phải được thực thi thông qua những công cụ hay phương tiện cụ thể

(như chính trị, kinh tế, văn hóa…). Những công cụ, phương tiện này luôn đan xen với

nhau để hợp thành một tổng thể chung trong chiến lược đối ngoại của quốc gia.

Từ cơ sở lí thuyết trên đây, khái niệm Quan hệ ngoại giao được sử dụng

trong luận án của tơi có thể hiểu là mối quan hệ chính thức, tự nguyện giữa hai quốc

gia: Việt Nam thời Nguyễn và Trung Quốc thời Thanh, được thiết lập thông qua

những hoạt động ngoại giao cụ thể trên nhiều phương diện khác nhau, phù hợp với

chiến lược đối ngoại của mỗi quốc gia cũng như thực tiễn lịch sử hai nước thời

phong kiến.



177



II. BẢN ĐỒ VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

II.1. . Đại Nam nhất thống toàn đồ (清清清清清清) (1838)



Nguồn: Viện Nghiên cứu Hán Nôm



II.2. . Bản đồ thế giới xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo

Hoàng Sa, Trường Sa thế kỷ XIX

II.2.1. . Một vài tấm bản đồ thuộc bộ Atlas thế giới Bruxelles 1827 do nhà Địa lí

37



học Philippe Vandemaelen xuất bản khẳng định chủ quyền của Việt Nam với 2

quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa



38



Nguồn: GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc cung cấp



37



38



Philippe Vandemaelen: Người sáng lập ra Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ



GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc là người thực hiện chuyến đi sang châu Âu tìm bộ Atlas này. Bộ Atlas này đã

được công bố ở Việt Nam vào tháng 5 năm 2014.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×