Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục luận án

Bố cục luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Ngoại giao giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc từ lâu đã trở thành mối

quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Đặc biệt, trong mấy chục

năm gần đây, khi mà giới sử học đang không ngừng nỗ lực để có cái nhìn khách

quan nhất về cơng và tội của triều Nguyễn – vương triều cuối cùng trong diễn trình

lịch sử phong kiến Việt Nam thì mối quan hệ ngoại giao Việt – Trung lại càng được

các nhà nghiên cứu trong và ngồi nước đi sâu tìm hiểu.

1.1. Các cơng trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và ngồi nước có

liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. ững cơng trình nghiên cứu của các tác giả trong nước

* Những cơng trình nghiên cứu trước thập niên 90 của thế kỷ XX

Bước sang thế kỷ XX, nhiều bộ thông sử về lịch sử Việt Nam, trong đó có

triều Nguyễn đã ra đời. Trước hết phải kể đến cuốn Việt Nam sử lược của tác giả

Trần Trọng Kim. Đây là bộ lịch sử đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ tại Việt

Nam, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1921. Tác giả đã nghiên cứu lịch sử dân tộc

suốt từ thời thượng cổ đến khi Pháp xâm lược và cai trị (tính đến năm 1902), trong

đó có các chương nghiên cứu về triều Nguyễn dưới các đời vua: Gia Long, Minh

Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức. Tác phẩm này đã giúp cho chúng ta có cái nhìn khái

qt về mọi mặt xã hội Việt Nam duới vương triều Nguyễn, trong đó có lĩnh vực

ngoại giao.

Hơn 20 năm sau đó (1943), tại Hà Nội, Sông Bằng đã dựa trên nhiều tài liệu

quý hiếm sưu tầm được trong thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ cho biên soạn

cuốn Việt Hoa thông sứ sử lược, tủ sách Quốc học thư xã. Qua cuốn sách này,

chúng ta bước đầu được biết về những hành vi, tiết tháo của các vị Tuế - Cống sứ

Việt Nam, những mối duyên văn ràng buộc sĩ phu Trung Hoa với các bậc khoa –

hoạn nước nhà. Tuy tác phẩm không đề cập trực tiếp đến ngoại giao Việt – Trung

thế kỷ XIX, song qua đó chúng ta có thể hình dung phần nào sự vận dụng đầy linh

hoạt các hình thức đối thoại văn hố của các nhà ngoại giao thời phong kiến.

Đến năm 1955, Nxb Xây Dựng đã cho ra đời bộ Lịch sử Việt Nam từ nguồn

gốc đến cuối thế kỷ XIX của tác giả Đào Duy Anh, bao gồm 2 quyển: quyển thượng

và quyển hạ. Đến nay, bộ sách này đã qua nhiều lần tái bản và lần tái bản gần đây

nhất là vào năm 2011 của Nxb Khoa học xã hội. Cuốn sách đã tái hiện lại bức tranh



11



tồn cảnh về tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc suốt từ thời nguyên thủy cho

đến cuối thế kỷ XIX, trong đó, chương XLIX tập trung bàn về chính sách đối ngoại

của nhà Nguyễn. Tuy nhiên, ở đây, Đào Duy Anh mới chỉ đi vào tìm hiểu chính

sách đối ngoại của nhà Nguyễn đối với các nước ở biên giới phía Tây, Nam và với

thực dân Pháp chứ chưa có dịp nghiên cứu về chính sách đối ngoại của triều

Nguyễn đối với nước Trung Hoa láng giềng.

Sáu năm sau đó (năm 1961), Thành Thế Vỹ đã cho ra đời cuốn sách Ngoại

thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII – XVIII đầu thế kỷ XIX, Nxb Sử học, Hà Nội.

Cuốn sách tái hiện lại nền ngoại thương Việt Nam trong những thế kỷ trước khi

thực dân Pháp xâm lược (cụ thể từ thế kỷ XVII đến hết đời vua Thiệu Trị). Tuy

nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh riêng lẻ của lĩnh vực ngoại

thương ở những thế kỷ này như: các mặt hàng hóa (bao gồm hàng bán ra, hàng mua

vào: từ trang 97 đến trang 125); thể lệ ngoại thương, thủ tục, bộ máy, thuế khóa (từ

trang 126 đến trang 138); cách thức mua bán, đổi chác, trả tiền (từ trang 139 đến

181); phương tiện đi lại (từ trang 182 đến trang 193)…chứ chưa đi sâu phân tích và

tổng hợp những khía cạnh đó để đưa ra cái nhìn hệ thống về quan hệ thương mại

giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng trong năm 1961, tạp chí Văn học, số 7 đã cho công bố bài viết Mối

quan hệ lâu đời và mật thiết giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc với độ

dài 22 trang (từ trang 1 đến trang 22) của tác giả Đặng Thai Mai. Tác giả đã phân

chia công cuộc bang giao giữa hai nước Việt – Trung ra làm 4 thời kỳ với những tính

chất và sắc thái khác nhau: thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp

thuộc và thời kỳ hiện nay (từ ngày thành lập chế độ dân chủ cộng hoà). Trong mỗi

thời kỳ ấy đều diễn ra sự tiếp xúc văn hố nói chung và văn học nói riêng giữa hai

nước. Qua những phân tích và luận giải sắc sảo của Đặng Thai Mai, có thể thấy

rằng, chính sự giao thoa, đối thoại văn hố, văn học này đã góp phần giải quyết nhiều

vấn đề nảy sinh trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước qua các thời kỳ lịch sử.

Bước sang thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, có một loạt bài viết được đăng tải

trên các tạp chí chuyên ngành bàn về những biểu hiện mới trong quan hệ Việt –

Trung ở nửa sau thế kỷ XIX, như “Quan hệ Trung - Việt và Việt - Trung” của tác

giả Văn Phong đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 năm 1979. Bằng những

lập luận sắc bén, tác giả đã phác thảo trên những bình diện lớn về tính chất của quan

hệ Việt - Trung qua các thời kì lịch sử. Trong đó ở mục III, tác giả tập trung khái

quát "Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ Tần đến Mãn Thanh". Ở mục IV,



12



tác giả tiếp tục khai thác "Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ nửa cuối thế kỷ

XIX đến nửa đầu thế kỷ XX". Đặc biệt, Văn Phong đã lí giải tại sao dưới thời đại

phong kiến, trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, quy luật "cá lớn nuốt cá

bé" và quy luật "quan hệ đẳng cấp giữa nước lớn và nước nhỏ" lại thường xuyên chi

phối hai nước. Song cũng theo Văn Phong, trên thực tế, Việt Nam đã không chịu để

cho các quy luật ấy phát huy tác dụng.

Đến năm 1981, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 năm 1981 tiếp tục cho công

bố bài viết Nhà Nguyễn với các thương nhân người Hoa thế kỷ XIX của tác giả

Trương Thị Yến bàn về chính sách của triều Nguyễn với thương nhân người Hoa

cũng như về vai trò của họ trong nền kinh tế Việt Nam. Phải nói rằng, bài viết đã

nêu bật thái độ vừa kiềm chế, vừa ưu ái (đặc biệt nhấn mạnh đến sự ưu ái) đối với

Hoa thương của triều Nguyễn trong tương quan so sánh với thương nhân các nước

khác trong khu vực cũng như trên thế giới. Tất nhiên, thái độ đó, chính sách ấy sẽ

ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ kinh tế Việt – Trung thời kỳ này.

Cũng trong năm 1981, cuốn sách về thân thế, sự nghiệp của nhà ngoại giao

nổi tiếng thế kỷ XIX – Lý Văn Phức đã ra đời. Đó là tác phẩm Lý Văn Phức: Cây

bút luận chiến ngoại giao cứng cỏi in trong Văn học Việt Nam trên những chặng

đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược của Nguyễn Đổng Chi, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 1981. Song, tác phẩm mới chỉ dừng lại giới thiệu về một số áng

thơ, bài văn bang giao tiêu biểu mà chưa đi vào phân tích và tổng hợp chúng để thấy

được sức mạnh ngôn từ trong đối thoại văn hóa. Đặc biệt, chân dung của nhân vật

lịch sử nổi tiếng này trong tư cách là những nhà ngoại giao cũng chưa được tái hiện

một cách hoàn chỉnh.

Đến năm 1985, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 đã cho công bố bài viết Một

trăm năm phản bội Việt Nam từ Hiệp ước Pháp - Hoa (1885) của Văn Tạo. Ở đây,

tác giả đã chỉ ra đằng sau cái gọi là tinh thần "thân thiện", "hữu nghị" của thế lực

bành trướng, bá quyền phương Bắc đối với nhân dân Việt Nam và vạch rõ những

ảnh hưởng của Hiệp ước Thiên Tân (1885) đến quan hệ ngoại giao giữa hai nước

Việt - Trung thời bấy giờ.

Về vấn đề này, tác giả Trịnh Nhu cũng đã góp thêm tiếng nói của mình với

bài nghiên cứu Nhà Thanh đối với Việt Nam qua sự phản kháng Hiệp ước năm

1874, đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 và 4 năm 1989. Bài viết đã tập

trung đi vào phân tích thái độ của nhà Thanh đối với Việt Nam qua sự phản kháng

Hiệp ước năm 1874 kí kết giữa Pháp và triều Nguyễn, đồng thời, tác giả xem đó là



13



một biểu hiện đầy tham vọng của nhà nước phong kiến Trung Hoa trước nguy cơ

Việt Nam bị đế quốc Pháp biến thành thuộc địa và vai trò “tơn chủ” của nó đang bị

đe dọa. Theo tác giả, cũng từ bước khởi đầu ấy, mâu thuẫn Trung – Pháp ngày càng

phát triển và đẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai bên (1883 - 1885) như một lẽ tất

yếu. Bài viết đã thực sự góp tiếng nói của mình vào việc phơi bày bản chất của triều

đình Mãn Thanh trong quan hệ với Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX.

* Những công trình nghiên cứu từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay

Sau Đổi mới, nhất là từ đầu những năm 1990 trở lại đây, xuất phát từ yêu cầu

thực tiễn của đất nước và cùng với sự phát triển của nền sử học nước nhà, mối quan

hệ ngoại giao Việt – Trung thực sự trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm, chú ý

của nhiều nhà nghiên cứu với mong muốn đưa ra cái nhìn thỏa đáng hơn về vương

triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Từ

đây, mối quan hệ đó dần được phục dựng lại một cách sâu sắc và toàn diện trên

nhiều phương diện khác nhau.

Trước hết, phải kể đến luận án tiến sĩ của Trịnh Nhu Quan hệ Trung – Pháp

về vấn đề Việt Nam cuối thế kỷ XIX, được bảo vệ vào năm 1991 tại trường Đại học

Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội). Luận án đã

nghiên cứu quan hệ Trung – Pháp kể từ giữa thập kỷ 70 cho đến khi hoạch định

biên giới Việt – Trung và thiết lập quan hệ thương mại giữa Hoa Nam và Bắc Kỳ.

Tuy luận án không nghiên cứu trực tiếp về mối quan hệ Trung – Việt thế kỷ XIX

nhưng từ mối quan hệ giữa Trung Quốc và Pháp – hai nước (một bên là đế quốc

xâm lược và một bên là đế chế phong kiến) vốn đang tranh đoạt lợi ích ở nước thứ

3 là Việt Nam, thì chúng ta có thể hiểu được phần nào thái độ, mục đích riêng mà

nhà Thanh theo đuổi khi giải quyết vấn đề Việt Nam trong những thập niên cuối của

thế kỷ XIX. Luận án đã phản ánh một thực tế là, cùng với Pháp, Trung Quốc đã sử

dụng nhiều biện pháp vừa đối địch, vừa thỏa hiệp và nhượng bộ, gây nên hậu quả

nghiêm trọng cho Việt Nam trong những thập kỷ này. Tuy không trực tiếp bàn về

mối quan hệ Việt – Trung thời bấy giờ nhưng luận án đã cung cấp thêm nhiều luận

cứ quan trong giúp chúng ta hiểu rõ hơn đằng sau cái gọi là tinh thần "thân thiện",

"hữu nghị" của "tôn chủ" Trung Quốc đối với "phiên thuộc" Việt Nam. Cũng theo

tác giả, sự can thiệp của nhà Thanh không hề mang tính tích cực bảo vệ nền độc lập

cho đất Việt mà chính sự can thiệp và xâu xé của nhà Thanh (cùng với họa xâm lược

của đế quốc Pháp) lại là nguyên nhân "thủ tiêu quyền độc lập của Việt Nam", để

lại nhiều hậu quả phức tạp về sau này [121, tr.145]. Nhận định trên có phản ảnh

hồn tồn đúng thực chất của vấn đề hay

14



không? Tác giả luận án sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ với hy vọng đưa

ra cái nhìn khách quan nhất về vấn đề này.

Cùng hướng nghiên cứu ấy, hai năm sau, Trịnh Nhu lại cho công bố bài

Nguồn gốc của chiến tranh Trung - Pháp (1883 - 1885) trên tạp chí Nghiên cứu

Lịch sử, số 1 năm 1991. Bằng những kiến giải sắc bén, tác giả đã luận giải khá cặn

kẽ nguồn gốc của chiến tranh Trung - Pháp (1883 -1885) và ảnh hưởng của nó đối

với Việt Nam cũng như quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt – Trung sau đó.

Ngồi tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, một số tạp chí khác cũng đăng nhiều bài

nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu là bài viết “Quân Thanh đối với hoạt động xâm

lược của Pháp ở Bắc Kỳ trong những năm 1882 - 1883” của tác giả Trần Độ, Nghiên

cứu Đông Nam Á, số 3 năm 1995. Qua bài viết, tác giả đã viện dẫn những cứ liệu lịch

sử cụ thể để chỉ ra thái độ của Thanh triều đối với Việt Nam trong những năm 1882 –

1883: "Từ sau tháng 4 năm 1882 đến trước tháng 12 năm 1883, hàng vạn qn chính

quy nhà Thanh có mặt ở Bắc Kỳ thời bấy giờ hầu như "án binh bất động", khơng có

biểu hiện nào chứng tỏ họ là một lực lượng đồng tình ủng hộ và chi viện cho nhân

dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của Pháp, càng khơng nói đến sự tham chiến

trực tiếp của họ" [40, tr.74].

Cũng trong năm này, Tạ Ngọc Liễn cho ra đời tác phẩm Quan hệ Việt Nam

và Trung Quốc thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995. Có

thể xem đây một cuốn chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu về lịch sử quan hệ Việt –

Trung ở Việt Nam. Dù chỉ vẻn vẹn 100 trang nhưng cuốn sách là một tài liệu tham

khảo quý báu. Đặc biệt, từ trang 49 đến trang 82 của chương 3, tác giả đã cung cấp

cho người đọc một sự hiểu biết chung nhất về hoạt động cầu phong, triều cống, sự

khác nhau giữa triều cống và lễ sính. Tuy cuốn sách này chỉ giới hạn vấn đề ở trong

một thế kỷ nhưng đây được xem là “một giai đoạn tiêu biểu, đáng chú ý khi xem xét

cấu trúc và bản chất của quan hệ sách phong, triều cống” [100; tr.49]. Chúng ta có

thể coi đó là cơ sở để tìm hiểu về hoạt động cầu phong, triều cống ở những vương

triều tiếp theo, trong đó có vương triều Nguyễn.

Một năm sau (1996), Nxb Quân đội nhân dân cho công bố cuốn sách Lịch sử

ngoại giao các thời trước của Nguyễn Lương Bích. Tác giả đã dành hơn 60 trang

(từ trang 211 đến trang 276) ở chương X để bàn về ngoại giao thời Nguyễn. Tuy

nhiên, trong 60 trang ấy, tác giả đã điểm qua tất cả mối quan hệ ngoại giao giữa

triều Nguyễn với nhiều nước khác nhau ở Đông Nam Á, ở phương Tây (như Anh,

Pháp) chứ khơng riêng gì Trung Quốc. Trong đó, quan hệ ngoại giao Việt – Trung



15



qua các đời vua Nguyễn thế kỷ XIX chỉ chiếm số trang rất ít (03 trang thời Gia

Long: từ trang 213 đến 215; 04 trang thời Minh Mệnh: từ trang 227 đến 230; 01

trang thời Thiệu Trị). Tác giả chủ yếu điểm qua những lần vua Gia Long, Minh

Mệnh, Thiệu Trị cử sứ thần sang Trung Hoa hay nêu lên vài nét sơ lược về việc giải

quyết những xung đột biên giới trên bộ giữa hai nước thời Minh Mệnh (trang 230).

Những hoạt động ngoại giao khác chưa được tác giả nhắc tới và mối quan hệ Việt –

Trung cũng chưa được đặt trong sự biến chuyển liên tục của cả thế kỷ XIX (nhất là

dưới thời vua Tự Đức khi có sự xâm lược của thực dân Pháp).

Cùng với trào lưu nghiên cứu của giới sử học về triều Nguyễn, vào năm

1997, Đỗ Bang đã cho ra đời tác phẩm Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều

Nguyễn, góp tiếng nói của mình vào nghiên cứu thương nghiệp Việt Nam – một lĩnh

vực nghiên cứu vẫn còn đang rất mới mẻ thời bấy giờ. Bằng những con số, sự kiện

minh chứng cụ thể, tác giả đã bước đầu gợi mở cho chúng ta một số vấn đề có liên

quan đến quan hệ kinh tế Việt – Trung triều Nguyễn, như: sự hậu đãi đặc biệt của

triều Nguyễn đối với Hoa thương trong thế so sánh với tàu thuyền và thương nhân

phương Tây khi đặt chân đến Việt Nam (từ trang 45 đến trang 47); nguy cơ về sự

giảo hoạt, lũng đoạn thương trường Việt Nam của Hoa thương và một số biện pháp

ngăn chặn hiện tượng này của các vua Nguyễn (từ trang 49 đến trang 50, trang 86

đến trang 88; trang 96 đến trang 98); các mặt hàng xuất, nhập khẩu giữa 2 nước (từ

trang 98 đến trang 101); số lần triều Nguyễn tổ chức thuyền buôn đi giao thương

với Trung Quốc trong nửa đầu thế kỷ XIX (trang 105)…Song, những vấn đề nêu

trên chỉ chiếm dung lượng nhỏ và nằm rải rác trong các chương mục viết về nền

kinh tế thương nghiệp nói chung (bao gồm cả nội thương và ngoại thương) của Việt

Nam thời kì này. Do đó, cơng trình chưa có dịp đi sâu khai thác một cách hệ thống

về mối quan hệ mậu dịch Việt – Trung thế kỷ XIX, cũng như chưa rút ra được thực

chất, đặc điểm và sự chuyển biến nội tại của mối quan hệ ấy.

Bốn năm sau đó (2001), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội đã cho ra đời cuốn

chuyên khảo bàn về Buôn bán qua biên giới Việt – Trung, Lịch sử - Hiện trạng –

Triển vọng do Nguyễn Minh Hằng chủ biên. Phải nói rằng, đây là một cơng trình

nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về mối quan hệ bn bán qua biên giới Viêt –

Trung trong suốt tiến trình lịch sử. Trong đó, mối quan hệ ấy ở thế kỷ XIX được

viết từ trang 41 đến trang 56 (tức 14 trang trên tổng số hơn 300 trang của cuốn

sách). Tuy nhiên, qua 14 trang viết ngắn ngủi đó, chúng ta có thể chắt lọc được

khơng ít những thơng tin quý báu về quan hệ kinh tế Việt – Trung thế kỷ này, như:



16



những cơ quan đảm trách việc buôn bán với Trung Hoa do nhà nước lập ra (trang

41); chính sách hai mặt của triều Nguyễn là vừa ưu đãi vừa kiềm chế sự lũng đoạn

thị trường của thương nhân Trung Quốc thời bấy giờ (thể hiện rõ nét qua các quy

định về thuế hàng hóa, những mặt hàng được mua vào, bán ra…) (từ trang 42 đến

trang 49); hoạt động buôn bán khá sầm uất giữa các thương nhân Trung Quốc và

thương nhân Việt Nam nói riêng và nhân dân 2 nước nói chung ở vùng biên giới

(trang 49 đến trang 53)… Điều đáng lưu ý là, cuốn sách đã đi đến những nhận định

quan trọng, gợi mở cho chúng ta những hướng suy nghĩ mới khi tiếp cận vấn đề

nghiên cứu: Thứ nhất, xuất phát từ nguyên tắc hòa hiếu với phương Bắc nên “các

vương triều quân chủ Việt Nam phần lớn chủ trương nới lỏng, cho tự do bn bán,

trao đổi hàng hóa, miễn là phải tôn trọng, thực hiện đúng với pháp luật Việt Nam”

và trên thực tế một số lệnh cấm của triều Nguyễn đối với thương nhân Trung Quốc

khơng có hiệu lực, vượt ra khỏi sự kiểm sốt của triều đình trung ương [57, tr.5455]; Thứ 2, mối quan hệ kinh tế ấy lúc thịnh, lúc suy do phụ thuộc vào quan hệ

chính trị giữa hai quốc gia [57, tr.55]. Những nhận định ấy sẽ được làm sáng rõ

trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi.

Cũng trong năm này, những cuốn sách về thân thế, sự nghiệp của những nhà

ngoại giao nổi tiếng thế kỷ XIX đã tiếp tục ra đời, trong đó có thể kể đến một số tác

phẩm tiêu biểu như Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm do Nguyễn Thạch Giang,

Trương Chính biên khảo và chú giải, Nxb Văn hố thơng tin, Hà Nội, 2001; Hồng

giáp Nguyễn Tư Giản, cuộc đời và thơ văn (kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội

và 110 năm ngày mất hoàng giáp Nguyễn Tư Giản 1890 - 2000), Trung tâm Văn

hóa và ngơn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2001;… Những vần thơ đối đáp, xướng họa

của các sứ thần, những bức văn thư trao đổi giữa hai nhà nước hai bên trong các tác

phẩm này đã gợi mở một số biểu hiện quan trọng của mối quan hệ ngoại giao trên

bình diện văn hóa giữa hai nước Việt – Trung hiện thời. Song, những tác phẩm nói

trên mới chỉ giới thiệu khái lược chứ chưa đi vào phân tích và tổng hợp chúng để

thấy được sức mạnh ngôn từ trong đối thoại văn hóa. Hơn thế, chân dung của các

nhân vật lịch sử này trong tư cách là những nhà ngoại giao cũng chưa được tái

dựng lại một cách hoàn chỉnh. Đây cũng là vấn đề còn bỏ ngõ mà luận án phải tập

trung giải quyết.

Một năm sau (2002), tại Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học

Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Nhã đã bảo vệ thành công luận

án tiến sĩ lịch sử về Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hồng



17



Sa và Trường Sa. Có thể nói, vấn đề giải quyết tranh chấp biển đảo, khẳng định chủ

quyền biên giới trên biển là một trong số những vấn đề nan giải tồn tại trong mối

quan hệ ngoại giao Việt – Trung suốt thế kỷ XIX. Vì thế, luận án của Nguyễn Nhã

đã cung cấp cho tác giả nhiều tư liệu bổ ích để tái hiện lại những cuộc tranh chấp

trên biển giữa hai nước Việt – Trung thời kì này. Đồng thời, qua đó cũng được biết

thêm những hoạt động nhằm xác lập chủ quyền của nhà Nguyễn trên quần đảo

Hoàng Sa, Trường Sa – nơi thường xuyên xảy ra những va chạm, tranh chấp với

nước Trung Hoa láng giềng, như: thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải; đo đạc thủy

trình, vẽ bản đồ về Hồng Sa, Trường Sa; cắm mốc, bia chủ quyền; xây dựng chùa

miếu và trồng cây tại hai quần đảo này... Tuy nhiên, vì luận án chú trọng tìm hiểu

quá trình thực thi liên tục chủ quyền của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo

này qua nhiều thời kì lịch sử, suốt từ đầu thế kỷ XVII cho đến nay (2002) nên việc

giải quyết những mối tranh chấp với Trung Hoa để khẳng định chủ quyền ở Hoàng

Sa, Trường Sa của nhà Nguyễn thế kỷ XIX chỉ là một phần nhỏ, nằm rải rác trong

tổng thể luận án này. Mặc dù vậy, luận án vẫn được coi là tư liệu cần thiết giúp

chúng tơi trong việc tìm hiểu về mối quan hệ ngoại giao Việt – Trung ở thế kỷ XIX

đầy những biến động.

Bước sang năm 2004, Nxb Thuận Hóa đã cho công bố cuốn sách Huế - triều

Nguyễn một cái nhìn của Trần Đức Anh Sơn. Một lần nữa, các chuyến đi sứ của các

sứ thần triều Nguyễn sang Trung Hoa đã được tác giả đề cập tới (từ trang 78 đến

trang 89). Dựa trên cơ sở những nguồn sử liệu đáng tin cậy, tác giả đã bước đầu tái

dựng hoạt động của các sứ thần triều Nguyễn qua thống kê số lần đi sứ, thời điểm,

thành phần đi sứ và giới thiệu khái quát về thể thức, mục đích của các chuyến đi sứ

ấy (đi nhằm cầu phong, triều cống, lễ sính và một số chuyến đi vì mục đích khác)

suốt từ đầu thế kỷ XIX (thời vua Gia Long) cho đến đầu thế kỷ XX (thời vua Khải

Định). Tuy nhiên, do vẻn vẹn trong 10 trang viết ngắn nên hoạt động của các sứ

thần bấy giờ mới chỉ mang tính chất khảo tả, liệt kê mà chưa có dịp đi sâu phân tích

để rút ra đặc điểm, bản chất và cũng chưa chỉ ra được sự chuyển biến của hoạt động

đó như thế nào trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam.

Cũng trong năm 2004, Nguyễn Bá Thành đã cho ra đời tập sách Bản sắc Việt

Nam qua giao lưu văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Với lập luận sắc bén và

cứ liệu thuyết phục, cuốn sách thực sự đã góp phần làm sáng rõ những vấn đề lí

luận về bản sắc văn hố dân tộc, tính tất yếu của q trình giao lưu và đối thoại văn

hoá giữa các nước trên thế giới. Bằng những chứng cứ thuyết phục, Nguyễn Bá



18



Thành đã chứng minh được văn học nghệ thuật trong lịch sử dân tộc đã trở thành

một phương tiện đắc lực của q trình giao thoa, đối thoại văn hố, nhất là mối quan

hệ văn hoá giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng chính trong năm 2004, tạp chí Hán Nôm đã giới thiệu một số bài viết

của các học giả Trung Hoa bàn về những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ văn

hoá Việt – Trung trong lịch sử. Với bài viết Tìm hiểu những cống hiến của người

Việt và văn hóa Việt Nam đối với văn hố Hán qua tư liệu Hán Nôm và sử liệu

Trung Quốc (từ trang 36 đến trang 43), tạp chí Hán Nơm, số 1 năm 2004, Đàm Chi

Từ đã một lần nữa cho độc giả thấy được mối quan hệ văn hoá hai chiều giữa Việt

Nam và Trung Quốc. Song song với chiều văn hố Hán truyền sang, góp phần hình

thành và phát triển văn hố Việt Nam, còn tồn tại chiều văn hố Việt Nam truyền

sang văn hóa Hán, góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hoá Hán thông

qua nhiều phương thức mà ngoại giao là một trong những phương thức điển hình.

Một năm sau (2005), tác giả Nguyễn Thế Long đã cho ra đời một loạt tác

phẩm viết về bang giao Đại Việt qua các triều đại, trong đó có cuốn Bang giao Đại

Việt triều Nguyễn, Nxb Văn hóa Thơng tin, Hà Nội. Dựa vào những nguồn sử liệu

gốc, tác giả đã tóm lược những nét chính trong hoạt động ngoại giao giữa triều

Nguyễn và triều Thanh thông qua các hoạt động đa dạng và phong phú của sứ thần

thời bấy giờ. Những mẩu chuyện ghi lại trong sách, một vài đoạn nhật ký, một số

bài thơ trong các tập đi sứ của những nhà ngoại giao…đã giúp người đọc phần nào

hiểu hơn về nội dung, nghệ thuật và phương thức bang giao của triều Nguyễn đối

với nước láng giềng Trung Hoa. Song, cuốn sách gần 300 trang này mới chỉ giới

hạn tìm hiểu quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thông qua những mẩu chuyện

đi sứ và tiếp sứ mà chưa đi sâu khai thác để rút ra bản chất của những hoạt động ấy

qua các đời vua Nguyễn suốt thế kỷ XIX.

Tiếp nối nguồn mạch nghiên cứu về thương mại Việt Nam thời phong kiến,

năm 2007, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã cho công bố cuốn kỷ

yếu Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI – XVII, Nxb Thế giới.

Cuốn kỷ yếu này đã thực sự cung cấp cho tác giả luận án nhiều thơng tin, tư liệu bổ

ích khi tìm hiểu về tình hình thương mại giữa Việt Nam với các nước (bao gồm

Trung Quốc) trong suốt những thế kỷ được xem là đỉnh cao của nền ngoại thương

Việt Nam thời phong kiến (thế kỷ XVI - XVII). Từ đây, nó sẽ giúp cho chúng ta có

cơ sở để tham chiếu với nền ngoại thương Việt Nam thế kỷ XIX. Đặc biệt, cuốn kỷ

yếu đã giới thiệu bài viết Hoạt động thương mại của các sứ bộ Việt Nam ở Trung



19



Hoa thời Thanh suốt từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX của Trần Đức Anh Sơn dài 13

trang (từ trang 293 đến trang 306), trong đó bàn trực tiếp về một số vấn đề có liên

quan đến mối quan hệ kinh tế Việt – Trung thế kỷ XIX trong khoảng 8 trang. Trong

khuôn khổ cuả một bài tham luận, Trần Đức Anh Sơn mới chỉ dừng lại giới thiệu

hết sức khái quát về lộ trình đi sứ từ Việt Nam sang Trung Hoa và ngược lại; thẩm

quyền giao dịch thương mại của các sứ bộ; danh mục cống phẩm và hàng hóa giao

dịch của các sứ bộ Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, chứ chưa trình

bày đầy đủ các hoạt động thương mại trên con đường đi sứ của các sứ thần triều

Nguyễn trong cả hai giai đoạn trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược (1858). Do

vậy, chúng ta chưa tìm thấy ở bài viết này những thay đổi của hoạt động thương mại

mang tính quan phương này trong nửa sau thế kỷ XIX.

Tiếp đó, vào năm 2008, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội đã cơng bố một cơng

trình nghiên cứu cơng phu của tác giả Phạm Xuân Nam là Sự đa dạng văn hoá và

đối thoại giữa các nền văn hố - một góc nhìn từ Việt Nam. Cuốn sách dày 625

trang thực sự đã gợi mở cho chúng ta nhiều góc nhìn sắc cạnh về đối thoại văn

hố nói chung và đối thoại văn hố Việt – Trung nói riêng trong suốt chiều dài

lịch sử Việt Nam (từ thời Bắc thuộc cho đến ngày nay). Trong đó, tác giả đã dành

hơn 30 trang (từ trang 314 đến trang 348) nhấn mạnh đến sự vận dụng đầy linh hoạt

các hình thức đối thoại văn hố, góp phần giải quyết những vấn đề nảy sinh trong

quan hệ ngoại giao với Trung Hoa của các triều đại phong kiến Việt Nam từ thời

Tiền Lê đến thời Tây Sơn, như: xướng họa thơ văn sau đối đầu quân sự; tranh biện,

đối thoại văn hóa trên bàn hội nghị để đòi đất ở biên cương; dùng sức mạnh ngôn

từ thực hiện kế sách “tâm công”, chấm dứt chiến tranh bằng giải pháp hòa bình, lập

lại quan hệ bang giao lâu dài với Trung Quốc; “khéo lời lẽ dẹp binh đao”, ngăn

chặn cuộc tiến công phục thù của địch, thiết lập quan hệ ngoại giao thân thiện với

Trung Hoa…Nghiên cứu này là cơ sở đối chiếu vô cùng quý báu khi tìm hiểu về

đối thoại văn hố Việt – Trung trên cấp độ ngoại giao dưới triều Nguyễn.

Cùng năm 2008, Vũ Thị Phương Hậu đã bảo vệ thành công đề tài thạc sĩ

Chính sách văn hố của triều Nguyễn tại Học viện chính trị hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh. Trong hàng loạt chính sách văn hố của triều Nguyễn được tác giả đề

cập đến thì chính sách giao hảo văn hố với nước ngồi (trong đó có Trung Hoa)

được trình bày từ trang 79 đến trang 83. Song, tác giả lại giới thiệu sơ lược về chính

sách ngoại giao của triều Nguyễn dưới góc độ chính trị mà chưa trình bày nội dung

cụ thể hay đưa ra nhận xét nào về chính sách ngoại giao trên phương diện văn hóa



20



của Nguyễn triều với bên ngồi. Tuy nhiên, từ một vài chính sách văn hóa mà tác

giả nêu lên trong luận văn cũng đã phần nào giúp người đọc hiểu thêm về đặc điểm,

thực chất của ngoại giao trên bình diện văn hố dưới vương triều Nguyễn.

Cũng chính trong năm 2008, tác giả luận án đã bảo vệ thành cơng luận văn

thạc sĩ của mình với tiêu đề Quan hệ bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc

(1802 - 1885) tại khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tuy nhiên, trong

luận văn này, tác giả mới chỉ khai thác mối quan hệ ấy từ phía Việt Nam, chứ chưa

xem xét thái độ, sự đáp trả từ phía nhà Thanh đối với những hoạt động ngoại giao của

triều Nguyễn như thế nào. Hơn nữa, do bị giới hạn trong phạm vi của một luận văn

thạc sĩ, tác giả mới chỉ có dịp tìm hiểu mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với

Trung Quốc thời kì này trên phương diện chính trị với các hoạt động tiêu biểu là cầu

phong, triều cống, lễ sính, giải quyết các vấn đề biên giới, còn mối quan hệ ấy trên

các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa và sự chuyển biến của nó trước và sau năm

1858 thì chưa được xem xét tới. Đặc biệt, sức mạnh của văn thơ bang giao cùng

những đóng góp của các vị chánh, phó sứ tiêu biểu như Trịnh Hồi Đức, Ngơ Nhân

Tĩnh, Nguyễn Du, Đặng Huy Trứ…qua những lần đi sứ, tiếp sứ, góp phần xây đắp

nên mối quan hệ hảo thoại, hòa hiếu giữa hai nước Việt – Trung thời bấy giờ cũng

chưa có dịp được nhắc đến. Những thiếu vắng đó sẽ tiếp tục được tác giả bổ khuyết

và hồn chỉnh trong luận án tiến sĩ này.

Hai năm sau đó (2010), Nxb Công an nhân dân đã cho ra mắt cuốn Biên

giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc do Vũ Dương Ninh chủ biên. Cuốn sách đã

mang lại cho chúng ta cái nhìn tồn cảnh về cương giới và vấn đề biên giới trên đất

liền Việt Nam – Trung Quốc suốt từ thời Hùng Vương cho đến trước năm 2010. Đặc

biệt, trong chương 2, tác giả Nguyễn Minh Tường đã dành 9 trang để khái quát về

vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XIX (từ trang 152 đến trang

163). Đây thực sự là tư liệu quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ thêm về cương vực và

những tranh chấp, xung đột biên giới đất liền đã xảy ra giữa hai nước cũng như

hướng giải quyết của triều Nguyễn trong thời kì lịch sử đầy biến động này. Tuy

nhiên, trong phạm vi cuốn sách, tác giả chưa có dịp đề cập đến vấn đề biên giới trên

biển giữa hai nước Việt – Trung lúc bấy giờ. Đến chương 3, tác giả Vũ Dương Ninh

đã đi vào tìm hiểu bối cảnh lịch sử dẫn đến việc kí kết bản Cơng ước hoạch định

biên giới Trung – Việt năm 1887 và Công ước bổ sung năm 1895. Trong đó, chiến

tranh Trung – Pháp và Hiệp ước Thiên Tân năm 1885 đã được tác giả khái quát

trong 7 trang (từ trang 173 đến trang 184), giúp chúng ta hình dung rõ nét hơn

nguyên nhân trực tiếp đưa đến sự thỏa hiệp Pháp – Trung năm 1885 và lí giải được

tại sao Hiệp ước Thiên Tân năm 1885 được xem là sự

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×