Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

b. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chất lượng sản phẩm phải thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong

những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về kinh tế, kỹ thuật của mỗi nước, mỗi

vùng. Trong kinh doanh khơng thể có chất lượng như nhau cho tất cả các vùng

mà cần căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án chất lượng cho phù

hợp. Chất lượng chính là sự phù hợp về mọi mặt với yêu cầu của khách hàng.

Phương thức thanh toán và tiêu thụ sản phẩm.

Đối với các thị trường khác nhau, doanh nghiệp cần tìm cho mình một

phương pháp tiêu thụ hàng thích hợp, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng

tiêu thụ. Các phương thức tiêu thụ hàng mà doanh nghiệp có thể lựa chọn là tiêu

thụ trực tiếp hay là gián tiếp. Cùng với phương thức tiêu thụ hàng đó, doanh

nghiệp có những quyết định sáng suốt trong lưu thông như xử lý đơn hàng, tổ

chức kho tàng, dự trữ hàng hoá, vận chuyển hàng hố đến người tiêu dùng và

các chi phí cho hoạt động đó. Việc phối hợp các hoạt động đó ăn khớp với nhau

sẽ đảm bảo đủ sức phục vụ khách hàng và sẽ tiết kiệm được chi phí để đẩy mạnh

được việc tiêu thụ sản phẩm.

Trình độ lao động và khả năng tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

Như trên đã nói, chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng quyết định đến

khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà lực lượng lao động là một trong các

nhân tố quyết định đến chất lượng sản phẩm. Dù cơng nghệ có hiện đại đến đâu

thì nhân tố con người vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất quyết định đến chất

lượng các hoạt động và chất lượng của sản phẩm. Trình độ chun mơn, tay

nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiêm, kỷ luật và khả năng thích ứng với sự

thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp đều tác động

trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. [14]

2.2. Cơ sở thực tiễn

2.2.1. Thực trạng chăn nuôi Lợn trên thế giới

Tình hình chăn ni lợn trên thế giới Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm.

Cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở châu Âu và

Á. Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu phát triển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII

phát triển ở châu Úc. Đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của

nhiều quốc gia. Ở nhiều nước, chăn ni lợn có cơng nghệ cao và có tổng đàn

lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy

Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapo, Đài Loan.. Nói chung ở các nước tiên

tiến có chăn ni lợn phát triển lợn theo hình thức cơng nghiệp và đạt trình độ

chun mơn hóa cao. Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố khơng đồng đều ở



các châu lục. Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và Âu, khoảng 30 % ở

các châu lục khác. Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được ni nhiều ở các nước có chăn

ni lợn tiên tiến. Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó ni nhiều lợn. Tính

đến nay chăn ni lợn ở các nước châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%,

châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2 %, châu Mỹ, 8,6 %. Nhìn chung, sản phẩm của

ngành chăn ni lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các các

nước theo tín ngưỡng Hồi giáo). Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn

thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại

lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này.

2.2.2. Tình hình chăn ni Lợn ở Việt Nam

Chăn ni Lợn ở Việt Nam có từ lâu đời. Theo một số tài liệu của khảo cổ

học, nghề chăn ni lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá mới, cách đây khoảng 1

vạn năm. Từ khi con người biết sử dụng công cụ lao động là đồ đá, họ đã săn

bắn, hái lượm và bắt được nhiều thú rừng, trong đó có nhiều lợn rừng. Khi đó,

họ bắt đầu có ý thức trong việc tích trữ thực phẩm và lương thực cho những

ngày không săn bắn và hái lượm được và họ đã giữ lại những con vật đã săn bắt

được và thuần dưỡng chúng. Cũng từ đó nghề chăn ni lợn đã được hình thành.

Có nhiều tài liệu cho rằng nghề nuôi lợn và nghề trồng lúa nước gắn liền với

nhau và phát triển theo văn hóa Việt. Theo các tài liệu của khảo cổ học và văn

hóa cho rằng nghề ni lợn và trồng lúa nước phát triển vào những giai đoạn

văn hóa Gò Mun và Đông Sơn, đặc biệt vào thời kỳ các vua Hùng. Trải qua thời

kỳ Bắc thuộc và dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sống của nhân

dân ta rất khổ sở và ngành nơng nghiệp nói chung và chăn ni lợn nói riêng

khơng phát triển được. Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, khi có trao đổi văn hóa

giữa Trung Quốc và Việt Nam, chăn ni lợn được phát triển. Dân cư phía Bắc

đã nhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đơng Bắc bộ.

Tuy nhiên, trong thời kỳ này trình độ chăn ni lợn vẫn còn rất thấp. Trong thời

kỳ Pháp thuộc, khoảng 1925, Pháp bắt đầu cho nhập các giống lợn châu Âu vào

nước ta như giống lợn Yorkshire, Berkshire và cho lai tạo với các giống lợn nội

nước ta như lợn Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Bồ Xụ. Cùng với việc tăng nhanh về số

lượng, chất lượng đàn lợn cũng không ngừng được cải thiện. Các phương pháp

nhân giống thuần chủng và các phép lai được thực hiện. Trong thời gian từ 1960,

chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản thông qua sự giúp đỡ của các nước xã

hội chủ nghĩa anh em. Có thể nói, chăn ni lợn được phát triển qua các giai

đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 1960 – 1969: Giai đoạn khởi xướng các qui trình chăn ni



lợn theo hướng chăn ni cơng nghiệp



- Giai đoạn từ 1970 – 1980: Giai đoạn hình thành các nơng trường lợn giống

quốc doanh với các mơ hình chăn ni lợn cơng nghiệp, có đầu tư và hỗ trợ của các

nước trong khối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũ, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc và Cu

Ba. Hệ thống nơng trường quốc doanh được hình thành và Cơng ty giống lợn công

nghiệp Trung ương cũng phát triển tốt và đảm đương việc cung cấp các giống lợn

theo hệ thống công tác giống 3 cấp từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên,

trong những năm chuyển đổi kinh tế sự hỗ trợ của nước ngồi 3 giảm, cộng thêm

đó là tình hình dịch bệnh đã làm cho hệ thống các nông trường giống lợn dần dần

tan rã hay chuyển đổi từ sở hữu nhà nước sang cổ phần hóa hay tư nhân.

- Giai đoạn từ 1986 đến nay: Đây là giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế,

chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và nơng

nghiệp sản xuất hàng hóa để tham gia thị trường khu vực (AFTA) và tổ chức

Thương mại thế giới (WTO). Từ đó, các mơ hình chăn ni lợn được hình thành và

phát triển ở các tỉnh miền Nam và các tỉnh phía Bắc, hình thức chăn ni lợn theo

trang trại và doanh nghiệp tư nhân hình thành và phát triển mạnh. Ngồi ra, còn có

nhiều doanh nghiệp và cơng ty chăn ni lợn có vốn đầu tư 100% của nước ngồi.

Với hình thức chăn ni cơng nghiệp tập trung này, trong những năm tới chăn nuôi

lợn nước ta sẽ phát triển nhanh chóng, tuy nhiên hình thức chăn nuôi nông hộ vẫn

chiếm tỷ lệ lớn, 96,4% ở các khu vực nơng thơn (VNC, 2002). Cho đến nay, có thể

nói nhiều doanh nghiệp, cơng ty hay các Trung tâm giống lợn đã có khả năng sản

xuất các giống lợn tốt đáp ứng nhu cầu nuôi lợn cao nạc và phát triển chăn ni lợn

ở các hình thức khác nhau trong cả nước. Điển hình là các cơ sở của thành phố Hồ

Chí Minh, các cơ sở của Viện Chăn nuôi, Viện Khoa học Nông Nghiệp Miền Nam

và các Công ty sản xuất thức ăn có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, việc quản lý

con giống cũng là vấn đề nan giải và nhiều thách thức, Bộ Nông Nghiệp và Phát

triển Nông Thôn cũng đã ban hành nhiều văn bản về công tác quản lý giống lợn

trong cả nước. Hiện tượng các giống lợn kém chất lượng bán trên các thị trường

nông thôn vẫn khá phổ biến, do vậy người chăn ni gặp nhiều khó khăn trong việc

gây dựng đàn lợn ban đầu. Vấn đề đặt ra là các địa phương cần xây dựng các cơ sở

giống lợn của địa phương mình để cung cấp giống lợn tốt cho nông dân. Công tác

này, trong những năm qua theo Chương trình Khuyến nơng, nhiều cơ sở sản xuất

con giống bước đầu đã đáp ứng phần nào yêu cầu nông dân. Chăn ni lợn trong cả

nước đã có nhiều thành cơng đáng kể như đàn lợn đã tăng tỷ lệ nạc từ 33,6% ở lợn

nội lên 40,6% ở lợn lai (miền Bắc) và 34,5% lợn nội lên 42% tỷ lệ nạc ở lợn lai



(miền Nam). Đối với lợn lai 3 máu ngoại (Landrace x Yorkshire) x Duroc tỷ lệ nạc

trong nghiên cứu đạt 58-61%, trong đại trà sản xuất đạt 52-56%. Năm 2001 cả

nước có 21.741 ngàn con lợn, sản xuất 1513 ngàn tấn thịt lợn hơi, xuất khẩu 27,3

tấn thịt xẻ, chiếm 2,6% số thịt lợn sản xuất ra (Nguyễn Đăng Vang, 2002). [11]

Theo kết quả điều tra sơ bộ tại thời điểm 1/4/2014 của Tổng cục Thống kê,

cả nước có 26,39triệu con lợn, tăng nhẹ (0,3%) so với cùng kỳ. Hiện tại chăn nuôi

lợn khá thuận lợi do giá lợnhơi tăng và dịch lợn tai xanh không xảy ra đã kích thích

người chăn ni đầu tư tái đàn. Sảnlượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm

ước tính đạt 1963,3 nghìn tấn, tăng 1,65% sovới cùng kỳ năm trước.

Theo USDA( Cơng đồn đồn kết và hiệp hội phát triển ), năm 2014 nhu cầu

tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng 2,245 triệu tấn,tăng 1,8% so với năm

2013. Sản lượng thịt lợn của Việt Nam năm 2014 dự kiến ở mức 2,26triệu USD,

đảm bảo cho Việt Nam xuất khẩu khoảng 15 nghìn tấn thịt lợn.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngành chăn ni năm 2015 đã có những

bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn ni tập

trung theo mơ hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật,

tăng hiệu quả kinh tế.

Chăn nuôi lợn phát triển tốt do giá lợn hơi có xu hướng ổn định cho người

chăn nuôi. Theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê, cả nước có khoảng 27,75

triệu con, tăng 3,7%, trong đó lợn nái có 4,06 triệu con, tăng 3,69% so với cùng

kỳ 2014. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2015 ước tính đạt 3,48 triệu

tấn, bằng 104,2 % so với cùng kỳ năm trước. [11]

Bảng 2.1.Sản lượng lợn phân theo vùng ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2013

ĐVT: Nghìn con



Vùng



Năm

2010



2011



2012



2013



Cả nước



27.373,3



27.056,0



26.494,0



26.264,4



ĐBSH



7.301,0



7.092,2



6.855,2



6.759,5



Trung du và miền núi phía Bắc



6.602,1



6.424,9



6.855,2



6.759,5



Bắc Trung Bộ và Duyên hải

miền trung



5.552,9



5.253,3



5.084,9



5.099,4



Tây Nguyên



1.633,1



1.711,7



1.704,1



1.722,3



Đông Nam Bộ



2.485,3



2.802,1



2.780,0



2.758,8



ĐBSCL



3.798,9



3.772,5



3.772,9



3.595,6



(Nguồn: Tổng cục thống kê)

2.2.3. Vai trò của chăn ni Lợn

Ngành chăn ni lợn có vai trò quan trọng trong ngành chăn ni nói

riêng và ngành nơng ngiệp nói chung, cùng với trồng lúa nước, chăn nuôi đã

khẳng định mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau phát triển, phát triển nền kinh

tế hộ vững mạnh và đóng góp khơng nhỏ vào việc đảm bảo an ninh lương thực,

thực phẩm của nước ta thời gian qua và những kỳ tiếp theo trên con đường bảo

vệ và xây dựng đất nước Việt Nam ngày một giàu mạnh. Chăn ni lợn có một

số vai trò nổi bật như sau:

- Chăn ni lợn cải thiện rõ rệt mức thu nhập cho các hộ nơng dân, nâng cao

đời sống và đảm bảo tính an ninh cho chọ trong xã hội và chi tiêu gia đình. Ngành

chăn ni đã giải quyết cơng ăn việc làm cho hàng triệu người lao động góp phần

làm tăng thu nhập, và cũng từ đó các hộ nơng dân có được thêm nguồn vốn chủ

động để phục vụ cho con cái học hành và tổ chức các hoạt động văn hóa trong đời

sống. Tác động mạnh mẽ đến cơng cuộc xóa đói giảm nghèo ở vùng nơng thơn,

hướng tới hồn thành các tiêu chí trong xây dựng nơng thơn mới hiện nay.

- Chăn ni lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con

người. Chăn nuôi lợn cung cấp một lượng thịt lớn cho con người, cung cấp

nguồn protein động vật và là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, cân

đối các axit amin vô cùng quan trọng trong khẩu phần ăn của con người. Gs

Harris cho biết cứ 100g thịt lợn nạc có 367 kcal, 22 gam Protein [6]

- Chăn nuôi lợn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến.

Hiện nay thịt lợn là ngun liệu chính cho ngành cơng nghiệp chế biến thịt xơng

khói, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Việt Nam như:

Giò nạc, giò mỡ, thịt đông, thịt kho tàu. [2]

- Chăn nuôi lợn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt. Phân lợn là một

trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cái tạo và nâng cao độ phì nhiêu của

đất nơng nghiệp. Một con lợn trong một ngày đêm có thể thải 2,5 – 4 kg phân,

ngồi ra còn có lượng nước tiểu chứa hàm lượng Nitơ và Phốtpho cao.[7]

- Lượng phân lợn còn cung cấp cho hầm Bioga tạo ra nhiên liệu đốt cháy

và thắp sáng giúp tiết kiệm năng lượng điện lực và giữ được vệ sinh môi trường.

- Chăn ni lợn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật

nuôi và con người. Trong các nghiên cứu về môi trường, lợn là con vật quan

trọng và là thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái nơng nghiệp. Chăn



ni lợn có thể tạo ra các loại giống lợn ở các vườn cây cảnh hay các giống lợn

ni cả trong nhà góp phần làm tang thêm sự đa dạng sinh thái tự nhiên.

- Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn ngun liệu trong cơng nghiệp sinh

học. Lợn đã được nhân bản (cloning) để phục vụ cho mục đích nâng cao sức

khỏe cho con người. [2]

- Chăn ni lợn làm tăng tính an ninh cho các hộ gia đình nơng dân trong

các hoạt động xã hội và chi tiêu trong gia đình. Đồng thời thơng qua chăn ni

lợn, người nơng dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học hành và hoạt động văn

hóa khác như cúng giỗ, cưới hỏi, ma chay, đình đám..

Nói tóm lại, con lợn rất quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần

của của người nông dân. Vì vậy, rất cần có các chỉnh sách và giải pháp phát triển

chăn nuôi lợn một cách hiệu quả nhằm nâng cao thu nhập cho người dân đồng

thời đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng thịt lợn

2.2.4. Tình hình tiêu thụ thức ăn cơng nghiệp trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 3500 nhà máy sản xuất thức ăn

chăn nuôi, hàng năm sản xuất ra khoảng 605 triệu tấn. Tuy nhiên ngành sản

xuất thức ăn chăn nuôi mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu sử dụng thức

ăn chăn ni của tồn thế giới. Như vậy, trên thế giới nhu cầu Thức ăn chăn

ni vẫn còn rất lớn, điều này khiến cho hoạt động tiêu thụ thức ăn chăn nuôi

trên thế giới khá sôi động, Hoạt động đầu tư quốc tế trong lĩnh vực sản xuất

thức awn chăn nuôi diễn ra khá mạnh, nhất là các công ty của Mỹ, Thái Lan,

Trung Quốc…khiến hệ thống kênh phân phối sản phẩm thức ăn chăn nuôi ở

các nước phát triển khá mạnh. Châu Âu là thị trường sản xuất thức ăn chăn

nuôi với khối lượng lớn đặc biệt là các nước: Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hà

Lan…bởi những nước này có nguồn nguyên liệu đầu vào phong phú, có các

điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sản xuất thức ăn

chăn nuôi như dây chuyền công nghệ hiện đại, máy móc kỹ thuật tiên tiến và

các chuyên gia chăn ni hàng đầu thế giới.

2.2.5. Tình hình tiêu thụ thức ăn công nghiệp ở Việt Nam

Thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp của nước ta trong những năm

gần đây phát triển nhanh và đa dạng. Ngành chăn nuôi đã có những bước đột

phá, chuyển từ chăn ni nhỏ lẻ, không tập trung, thức ăn chủ yếu tận dụng sang

chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, tập trung [9]. Chỉ tính riêng mấy năm gần

đây, số lượng nhà máy sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp và

sản lượng hàng hoá tiêu thụ của các nhà máy đã tăng lên rất nhanh.



Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho biết: tính đến nay đã có 197 nhà

máy sản xuất thức ăn chăn ni có cơng suất 2 tấn/ h trở lên, trong đó 50% nhà

máy có công suất từ 10 tấn/ h đến 40 tấn/ h. Ngồi ra, còn có trên 200 cơ sở sản

xuất thức ăn gia súc quy mô nhỏ 0,5 tấn/ h đến 1 tấn/ h. Mỗi năm các nhà máy

và những cơ sở này sản xuất được khoảng 3,8 triệu tấn thức ăn/ năm, ước đạt

trên 10.000 tấn/ ngày [5]. Thức ăn công nghiệp mới chiếm khoảng 30 - 35%

tổng số thức ăn đã sử dụng trong chăn ni (bình qn thế giới là 45 - 48%, các

nước có ngành chăn ni phát triển là 80 - 90%) [5]. Theo tính tốn của Hiệp

hội thứ ăn chăn ni Việt Nam thì nhu cầu thức ăn chăn nuôi đến năm 2010 cả

nước đạt khoảng 13 triệu tấn/ năm, trong đó có 50 - 60% là thức ăn chế biến

công nghiệp (tức khoảng 6 - 6,5 triệu tấn/ năm) [4]. Điều đó cho thấy thị trường

thức ăn chăn nuôi công nghiệp của nước ta đang còn rất nhiều tiềm năng. Vậy,

đây mới chỉ là giai đoạn đầu cho sự phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp và

ngành sản xuất kinh doanh thức ăn chăn ni cơng nghiệp của nước ta.

2.2.6.Vai trò của nghành chế biến thức ăn đối với chăn nuôi

Sản phẩm thức ăn chăn ni là nhân tố chính quyết định đến hiệu quả sản

xuất chăn nuôi. Trong cơ cấu giá thành sản phẩm chăn ni, chi phí thức ăn

chiếm tỷ trọng 65% - 70% giá thành sản phẩm và được xem là nhân tố quyết

định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự phát triển của ngành chăn nuôi. Ở

một số nước nông nghiệp phát triển, ngành chăn nuôi đã từng bước được cơng

nghiệp hóa và hiện đại hóa. Thức ăn chính sử dụng cho vật ni là thức ăn cơng

nghiệp chứa đựng đầy đủ các chất dinh dưỡng, đảm bảo vật nuôi phát triển tốt,

sản phẩm từ ngành chăn nuôi đáp ứng đầy đủ chất lượng cũng như vệ sinh an

toàn thực phẩm. Và một thực tế cho thấy rằng, trong cùng một điều kiện nuôi

nhốt, nếu tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp trong ngành chăn nuôi càng cao thì

hiệu quả kinh tế càng lớn bởi tốc độ tăng trọng vật nuôi nhanh và thời gian chăn

nuôi được rút ngắn.

Sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn ni góp phần thúc đẩy sự

chuyển dịch cơ cấu nơng nghiệp theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại. Với mục

tiêu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đưa tỷ trọng chăn ni từ 23% lên 30% vào năm 2010, cụ thể từ nay đến 2010,

ngành chăn nuôi dự kiến nâng mức sản xuất thịt hơi từ 35 kg/ người năm 2005

tăng lên 45kg/ người năm 2010, 70 quả trứng/ người năm 2005 tăng lên 100

quả/ người năm 2010 và sản lương thịt hơi xuất khẩu dự kiến vào khoảng 50.000



- 100.000 tấn. Đó là một nhiệm vụ đòi hỏi ngành chăn ni khơng ngừng gia

tăng năng suất, nâng cao mức độ sử dụng tỷ lệ thức ăn công nghiệp trong sản

xuất chăn nuôi. Như vậy, ngồi nỗ lực của ngành chăn ni, sự phát triển đột

phá và mang tính đồng bộ của ngành cơng nghiệp chế biến thức ăn chăn ni là

một đòi hỏi không thể thiếu trong mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi.

Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi là ngành công nghiệp có khả năng thu

hút vốn đầu tư trong và ngoài nước với số lượng lớn. Ở nước ta hiện nay, nhu

cầu thức ăn tinh cần thiết cho ngành chăn nuôi khoảng 10 triệu tấn/ năm, nhưng

công suất của tất cả các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi chỉ khoảng 5,5 triệu

tấn, phần còn lại do các cơ sở sản xuất thủ công cung cấp hoặc tận dung nguồn

thức ăn tự nhiên sẵn có. Như vậy, thị trường tiềm năng thức ăn chăn nuôi công

nghiệp là rất lớn và sẽ phát triển nhanh cùng với phương pháp chăn ni cơng

nghiệp ngày càng phổ biến. Điều đó cho thấy ngành chế biến thức ăn chăn nuôi

đang là ngành công nghiệp đầy tiềm năng và đang có sức hút rất lớn đối với các

nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách quản lý vĩ

mô phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành và đồng bộ với tiến trình phát

triển tổng thể nền kinh tế quốc dân.

Sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn ni còn ảnh hưởng đến mơi

trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng. Đi đôi với mục tiêu phát triển ngành

chăn nuôi từ nay đến năm 2010, ngành cơng nghiệp chế biến thức ăn chăn ni

đóng một vai trò quan trọng trong q trình dịch chuyển cơ cấu nơng nghiệp

theo hướng cơng nghiệp hóa hiện đại hố. Ngồi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích

kinh tế của các doanh nghiệp chế biến và người chăn nuôi, chất lượng thức ăn

chăn ni còn là nhân tố ảnh hưởng đến mơi trường sinh thái, vệ sinh an tồn

thực phẩm và sức khỏe người sử dụng sản phẩm chăn ni. Chính vì thế, đòi hỏi

Nhà nước phải có những chính sách đầu tư hợp lý cho công tác nghiên cứu và

ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Phải có cơ chế quản lý vĩ mô phù hợp

đảm bảo ngành chế biến thức ăn chăn nuôi phát triển một cách bền vững, phù

hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.[14]

2.2.7. Giới thiệu về công ty Greenfeed chi nhánh Bình Định

Qúa trình hình thành và phát triển

Cơng ty Cổ phần GreenFeed Việt Nam, tiền thân là Công ty TNHH

GreenFeed Việt Nam, là công ty 100% vốn Thái Lan ( được UBND tỉnh Long An

cấp giấy phép đầu tư số: 25/GP-LA ngày 26/8/2003). Công ty hoạt động trong lĩnh

vực sản xuất và kinh doanh TACN (TĂCN) cho gia súc, gia cầm và thủy sản.



- Ngày 26/8/2003 thành lập công ty TNHH GreenFeed Việt Nam tại Bến

Lức – Long An.

- Năm 2004, các sản phẩm thức ăn gia súc của Công ty có mặt trên thị

trường Việt Nam. Trong năm này, Công ty tiến hành xây dựng Trung tâm giống

GreenFeed-Finnor tại Đồng Nai.

- Năm 2005, khánh thành nhà máy GreenFeed tại Bến Lức – Long An với

diện tích hơn 12 ha tại KCN Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An với số

vốn đầu tư trên 145 triệu USD.

- Năm 2006, đưa nhà máy thức ăn gia súc tại Hưng Yên đi vào hoạt động.

- Năm 2007, hoàn thành nhà máy thức ăn gia súc tại Bình Định.

- Năm 2008, thành lập trại giống thủy sản tại Cần Thơ.

- Năm 2009, khánh thành nhà máy GreenFeed Campuchia.

- Năm 2010, GreenFeed tiến hành ký kết hợp tác với PIC – công ty giống

vật nuôi hang đầu thế giới.

- Năm 2011, khánh thành nhà máy GreenFeed Đồng Nai.

- Năm 2013, khánh thành 2 nhà máy mới tại Bình Định và Hưng Yên.

Đánh dấu bước ngoặt mới cho sự phát triển của Công ty.

- Năm 2014, Xây dựng nhà máy thức ăn chăn nuôi thứ sáu tại Hà Nam.

Xây dựng lại nhà máy thức ăn chăn nuôi tại Cambodia. Nhận chứng chỉ BAP

- Năm 2015, Mở rộng trại heo giống hạt nhân, cụ kỵ tại Đắc Nông lên quy

mô gấp đôi

- 2016, Khánh thành nhà máy thức ăn chăn nuôi & thủy sản, chi nhánh Hà

Nam. Khởi công xây dựng nhà máy thức ăn chăn nuôi, chi nhánh Vĩnh Long.

Khởi công xây dựng trại heo ông bà qui mô 2500 heo nái tại tỉnh Hòa Bình.

Thiết lập văn phòng đại diện tại Myanmar.[15]

Mục tiêu phát triển của công ty

Hợp tác liên kết các lĩnh vực trong chuỗi thực phẩm từ chăn nuôi, đào

tạo, nguyên liệu, xây dựng, thuốc thú y, con giống, công nghệ sinh học lấy sản

xuất TACN làm trung tâm nhằm đem lại giải pháp cạnh tranh và giá trị cao hơn

cho khách hàng chăn nuôi.

- Chiếm 20% thị phần thức ăn chăn nuôi, và 20% thị phần heo giống.

- Đầu tư vượt khỏi Đông Nam Á.



- Đội ngũ nhân lực đẳng cấp quốc tế.

- Hệ thống quản lý hiện đại và hiệu quả.

- Ứng dụng nghiên cứu về công nghệ mới, liên tục cải tiến chất lượng

Mục tiêu và cũng là hoài bão của GreenFeed là hướng tới chất lượng cũng

như mang đến những giá trị tốt nhất cho tất cả các khách hàng nhằm đem lại

thực phẩm ngon, an toàn cho người tiêu dùng Việt. Mặc khác, GreenFeed cũng

mong muốn góp phần nâng cao nhận thức của người chăn ni về chuỗi giá trị

mang đến thực phẩm sạch để không chỉ mang lại lợi ích vơ cùng thiết thực cho

cơng việc chăn ni mà còn góp phần tạo ra thực phẩm sạch xanh an toàn cho

cộng đồng.

Với hệ thống nhà máy được đặt tại các tỉnh thành có thế mạnh về chăn

nuôi, hệ thống cầu cảng với công suất 35 tấn/giờ để xuất hàng về các chi nhánh

từ ĐBCSL đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ theo hệ thống quản lý ISO 9001 2000, cùnghệ thống phân phối phủ khắp 64 tỉnh thành với khoảng hơn 2.000 đại

lý trên lãnh thổ Việt Nam và một số tỉnh ở Campuchiađã giúp khách hàng của

GreenFeed tạo ra những lợi thế về tốc độ giao nhận và giảm thiểu chi phí vận

chuyển hàng hóa. Ngồi việc thường xun tổ chức các lớp huấn luyện, hội thảo

kỹ thuật để chia sẻ kinh nghiệm, cập nhật những thông tin mới nhất về sản phẩm

tới khách hàng, GreenFeed ln nỗ lực hết mình để mang đến cho thị trường

những sản phẩm mới với chất lượng cao có nhiều tính năng vượt trội, hàm lượng

dinh dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn của vật ni. Vì lẽ đó mà người chăn

ni và đại lý phân phối đặt niềm tin vào hoạt động kinh doanh, chất lượng sản

phẩm của GreenFeed.[15]

GreenFeed Việt Nam còn đặt ra mục tiêu theo đuổi “chuỗi giá trị thực

phẩm sạch”, một cuộc hành trình mà không nhiều doanh nghiệp theo đuổi thành

công, và GreenFeed tự hào đã xây dựng được một mơ hình quản lý khép kín, bắt

đầu từ khâu tuyển chọn những nhà cung cấp ngun liệu có uy tín trên thế giới.

Nguồn nguyên liệu đầu vào này sẽ được kiểm định một lần nữa về chất lượng,

vệ sinh an toàn trước khi đưa vào sản xuất. Cộng vào đó, q trình sản xuất

đúng qui chuẩn, đúng công thức cho từng độ tuổi gia súc, gia cầm nên nguồn

thức ăn sản xuất ra luôn ổn định về chất lượng và vệ sinh an toàn cao. Với quyết

tâm theo đuổi chuỗi giá trị thực phẩm sạch vì sức khỏe cộng đồng, trong những

năm tiếp theo, GreenFeed đang liên kết xây dựng trung tâm giết mổ và liên

doanh công ty chế biến thực phẩm nhằm nâng cao giá trị dịch vụ khách hàng

của GreenFeed.



Bảng 2.2. Tình hình cơ bản về Cơng ty cổ phần GreenFeed Việt Nam

STT



Chỉ tiêu



Đơn vị tính



2013



2014



2015



1



Tổng vốn



Tỷ đồng



1.425



1.1.



Vốn cố định



Tỷ đồng



176.029



1.2



Vốn lưu động



Tỷ đồng



1.249



2



Sản lượng



Tấn



86000



99000



142000



3



Lao động (BU

Bình Định)



Người



167



169



17



3.1



Nam



Người



147



149



150



3.2



Nữ



Người



20



20



22



( Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2014 – GreenFeed

Việt Nam )





Các sản phẩm của công ty

Bảng 2.3. Các sản phẩm của công ty



Thức ăn gia súc,

gia cầm



Thức ăn thủy sản



Tinh Heo



Con giống



Cho Heo



Cho Cá Diên

Hồng, Rô Phi



GF 24



Giống Heo



Cho Gà



Cho Cá Tra



GF 399



Giống Cá



Cho Vịt



Cho Cá Kèo



GF 280



Cho Cút



GF 408

GF 337



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×