Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tính cấp thiết của đề tài

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

khách hàng.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi Lợn thịt tại xã Tam Phước Huyện Phú

Ninh tỉnh Quảng Nam.

- Tìm hiểu tình hình sử dụng sản phẩm thức ăn chăn nuôi Lợn và sản

phẩm thức ăn chăn ni Lean Max dành cho Lợn thịt.

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng sản phẩm thức ăn chăn

nuôi Lean Max dành cho Lợn thịt.



PHẦN 2

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận

2.1.1. Một số khái niệm

Chăn nuôi

Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật

nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông và sức lao động. Sản

phẩm từ chăn nuôi cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của

con người. Chăn nuôi xuất hiện lâu đời trong nhiều nền văn hóa kể từ khi lồi

người chuyển đổi từ lối sống săn bắn hái lượm sang định canh định cư. [10]

Ngồi ra, cũng có thể hiểu một cách đơn giản hơn, chăn nuôi là một trong

hai ngành sản xuất chủ yếu của của nông nghiệp, với đối tượng là các loại động

vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người.

Việc chăn nuôi các lồi vật bắt nguồn từ q trình chuyển đổi lối sống của

lồi người sang định canh định cư chứ khơng còn sinh sống kiểu săn bắt hái

lượm. Con người đã biết thuần hóa các lồi động vật và kiểm sốt các điều kiện

sống của vật nuôi. Dần theo thời gian, các hành vi tập thể, vòng đời và sinh lý

của vật ni đã thay đổi hồn tồn. Nhiều động vật trong trang trại hiện đại

khơng còn thích nghi với cuộc sống nơi hoang dã nữa. Các nhà khoa học đã

nghiên cứu và cho rằng giống lợn được thuần từ khoảng 7000 năm trước Công

nguyên, xuất hiện đầu tiên tại Trung Đơng và Trung Quốc và sau đó lan rộng ra

nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. [10]

Thu nhập

Thu nhập có thể là: Trong kinh tế học vĩ mơ, thu nhập có thể là thu nhập

quốc dân. Trong kinh tế học vi mô thu nhập là các nguồn thu nhập của cá nhân

từ lao động ( Tiền công, tiền lương bao gồm cả tiền lương hưu, ccs khoản trợ

cấp bao gồm cả học bổng, và thu nhập tài chính bao gồm lãi tiết kiệm, lĩ mua

bán chứng khoán, thu từ cho thuê bất đồng sản. Trong konh tế doanh nghiệp thu

npj lf doanh tu và các khỏn thu nhập khác.[13]

Chăn nuôi Lợn

Chăn nuôi Lợn là việc thực hành chăn nuôi các giống Lợn nhà để lấy thịt

Lợn và các sản phẩm từ Lợn.



Ở một số nước phát triển và đang phát triển, Lợn thuần hóa là lồi bản địa

thường được ni thả ngồi trời hoặc trong chuồng. Ở một số vùng, Lợn được

thả tìm thức ăn trong rừng có thể có người trơng coi. Ở các quốc gia cơng

nghiệp, ni Lợn thuần hóa chuyển từ việc ni chuồng trại truyền thống sang

hình thức chăn ni cơng nghiệp. Nhờ đó mà có chi phí sản xuất thấp nhưng sản

lượng lại cao. Còn ở Việt Nam, trước đây ở các vùng đồng bằng chủ yếu nuôi

lợn để tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp ( như cám gạo, cám ngô, sắn,

rau, bèo…) ngồi mục đích thu nhập thì các chất thải từ chăn ni lợn còn là

nguồn phân hữu cơ chính cho nhiều loại cây trồng, lợi nhuận từ chăn nuôi lợn

không đáng là bao chủ yếu là lấy công làm lãi, tránh bỏ phí phụ phẩm nơng

nghiệp. Ở trung du và miền núi còn có hình thức ni lợn thả rơng. Nhưng hiện

nay, cùng với những chính sách về kinh tế mới nói chung và những chính sách

trong nơng nghiệp nói riêng của thời kỳ đổi mới trong đó có ngành chăn ni đã

có những thay đổi rất lớn trong tất cả các khâu từ nghiên cứu lai tạo giống, quy

trình chăn ni đến chê biến tiêu thụ sản phẩm.[10]

Thức ăn công nghiệp và thức ăn công nghiệp trong chăn ni Lợn

Thức ăn cơng nghiệp là những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động

vật, vi sinh vật, khoáng vật, những sản phẩm hóa học, cơng nghệ sinh học....

Những sản phẩm này cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho con vật theo

đường miệng, đảm bảo cho con vật khỏe mạnh, sinh trưởng, sinh sản và sản xuất

bình thường.[13]

Thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi Lợn: Là những loại thức ăn có

nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật, và được chế tạo thành hai dạng

chính đó là dạng bột và dạng viên. Nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng, đảm

bảo cho sự sinh trưởng và phát triển tốt của đàn Heo.

Chăn ni truyền thống

Đó là loại hình chăn ni theo những phương thức mà cha ông truyền lại

từ đời này sang đời khác, với quy mơ nhỏ lẻ, số vốn đầu tư ít, tận dụng những

loại thức ăn sãn có, kỹ thuật chăn ni thấp, và chủ yếu chăn nuôi để phục vụ

nhu cầu của nông hộ.[13]

Chăn nuôi bán công nghiệp

Chăn nuôi bán công nghiệp là loại hình chăn ni vừa tiếp thu những kỹ

thuật, những cách thức chăn nuôi hiện đại, và vừa kết hợp với những phương

thức, kinh nghiệm nuôi truyền thống. Loại hình này có quy mơ chăn ni lớn, số



vốn đầu tư cao hơn, và chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu của nơng hộ mà

còn để trao đổi trên thị trường.[13]

Chăn nuôi công nghiệp

Chăn nuôi công nghiệp là chăn nuôi gia súc tập trung với mật độ cao, số

lượng lớn gia súc, gia cầm hay vật nuôi theo một quy trình khép kín, quay vòng

nhanh. Trong quy trình này thường có mặt một số lượng lớn động vật cùng một

kiểu gen và được ni theo một mục đích như nuôi Heo chuyên lấy thịt hay nuôi

gà chuyên lấy trứng, ni bò chun thịt hay ni bò chun sữa… Đây cũng là

một trong những biểu hiện của q trình cơng nghiệp hóa nơng nghiệp.

Chăn ni cơng nghiệp thường gắn với các trang trại thâm canh, cơ giới

hóa và được gọi là các "trang trại nhà máy" nơi mà một trang trại hoạt động như

một nhà máy và hoàn toàn là một lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp hay Sản xuất

hàng hóa trong nơng nghiệp. Vị trí của các trang trại này thường đặt tại các vùng

đồng quê, trên các cánh đồng hay đồng cỏ rộng rãi. Các sản phẩm chính của

ngành công nghiệp này là thịt, sữa và trứng cung cấp cho con người.[13]

Tiêu thụ sản phẩm

Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm là quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn

liền với sự thanh toán giữa người mua và người bán và sự chuyển quyền sở

hữu hàng hoá.

Theo nghĩa rộng thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm

nhiều khâu từ việc nghiên cứu tìm hiêu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng,

đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán

hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. [14]

Căn cứ vào quan hệ mua bán, kênh tiêu thụ sản phẩm được chia thành

hai hình thức: kênh tiêu thụ trực tiếp và kênh tiêu thụ gián tiếp:

- Kênh tiêu thụ trực tiếp: Là hình thức tiêu thụ mà doanh nghiệp sản xuất

và bán sản phẩm của mình tận tay cho người tiêu dùng cuối cùng. tiêu thụ hẹp.

- Kênh tiêu thụ gián tiếp: Là hình thức tiêu thụ mà doanh nghiệp đưa sản

phẩm của mình đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua các trung gian kinh

tế như: bán buôn, bán lẻ, các cấp đại lý, các nhà môi giới. Ưu điểm của kênh

phân phối này đó là doanh nghiệp có thể tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn, thu hồi

vốn nhanh, mở rộng thị trường. [3]



2.1.2 Quy trình chăn ni Heo cơng nghiệp

Quy trình chăn ni Heo cơng nghiệp gồm 4 bước chính như sau.

Bước 1: Xây dựng chuồng trại chăn ni

Xây dựng chuồng trại chính là bước đầu tiên trong quy trình ni heo

cơng nghiệp . Để thực hiện khâu này, phải lựa chọn vị trí rộng rãi, phù hợp. Đó

cần là nhưng nơi cao ráo, thoáng mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông, chọn

hướng chuồng phù hợp, tránh ánh nắng mặt trời.

Để áp dụng quy trình chăn ni heo cơng nghiệp đúng cách, trước khi

thả heo, bà con cần tiến hành khử trùng, làm vệ sinh chuồng trại sạch sẽ,

không thả heo mới vào chuồng ni heo cũ để tránh tình trạng lây nhiễm dịch

bệnh ngồi ý muốn.

Bước 2: Cách chăm sóc nuôi dưỡng

Khi mới mua heo về, cần tắm rửa sạch sẽ trước khi thả heo vào chuồng.

Trong 3 ngày đầu tiên, chỉ nên cho heo ăn với ½ khẩu phần ăn thơng thường, sau

đó heo cần được cho ăn no.

Bước 3: Vệ sinh chuồng trại

Cần tiến hành vệ sinh chuồng trại thường xuyên để tránh ảnh hưởng đến

khả năng sinh trưởng cũng sư sức khỏe của đàn heo. Ngoài việc vệ sinh chuồng,

các vật dụng chăn nuôi cũng cần làm sạch. Khi cho ăn, cần quan sát, kiểm tra

mọi hoạt động, diễn biến của heo để có giải pháp điều trị kịp thời. Dinh dưỡng

của heo cũng cần được kiểm sốt thơng qua lượng thức ăn, loại thức ăn, hàm

lượng và thành phần thức ăn.

Bước 4: Phòng và điều trị bệnh

Ngồi việc vệ sinh chuồng trại, để phòng và điều trị bệnh cho heo hiệu

quả, cần tuân thủ lịch tiêm vaiccin phòng, chống các dịch bệnh phổ biến. Cùng

với đó, thức ăn và nước uống cũng cần đảm bảo sạch sẽ, không dùng thức ăn

thiu, mốc, quá hạn sử dụng.

Nếu chăn nuôi heo với quy mô lớn, cần quản lý thông qua ghi chép sổ

sách cẩn thận. Từ việc heo tăng trưởng ra sao, thành phần thức ăn như thế nào,

heo tiêm phòng hay khơng…. Đây đều là những yếu tố giúp đảm bảo cho đàn

heo khỏe mạnh, năng suất cao.[12]



2.1.3. Nội dung của tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp

Điều tra thị trường: Đây là việc làm cần thiêt đối với DN, là khâu đóng

vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thành công hay thất bại của hoạt động tiêu thụ

sản phẩm. Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời câu hỏi: Thị trường đang cần sản

phẩm gì?, ai là khách hàng mục tiêu?, cầu về thị trường đó như thế nào?

Lựa chọn sản phẩm thích ứng và tiến hành tổ chức tìm kiếm nguồn hàng:

Trên cơ sở của việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ lựa chọn sản phẩm thích

ứng với nhu cầu thị trường. Sản phẩm thích ứng phải đảm bảo về mặt số lượng, chất

lượng và giá cả. Về mặt số lượng, lượng sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với quy

mô thị trường. Về mặt chất lượng, sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu người tiêu

dùng, phải tương xứng với trình độ tiêu dùng. Về mặt giá cả, mức giá cho sản phẩm

mà doanh nghiệp đưa ra phải là mức giá được người tiêu dùng chấp nhận, đồng thời

đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Tổ chức kiểm tra hàng hóa trước khi đưa hàng hóa về kho chuẩn bị tiêu

thụ: Đây là khâu khơng kém phần quan trọng trong q trình tiêu thụ sản phẩm, nó

đảm bảo sản phẩm sản xuất ra theo đúng yêu cầu về số lượng, chất lượng, mẫu mã

hay không. Đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng là doanh nghiệp đảm bảo chữ tín

với khách hàng, doanh nghiệp cũng hạn chế được những thất thoát, kiểm tra được

khả năng sản xuất của đội ngũ lao động. Bao bì khơng chỉ có tác dụng bảo vệ, mơ tả

và giới thiệu sản phẩm mà nó còn chứa đựng rất nhiều nhân tố tác động đến khách

hàng và việc quyết định lựa chọn mua hàng của họ. Vì vậy doanh nghiệp đảm bảo

tốt công tác kiểm tra, nghiên cứu, thiết kế bao bì sao cho đem lại hiệu quả cao nhất.

Khâu tổ chức kiểm tra hàng hóa bao gồm: Kiểm tra chất lượng sản phẩm,

số lượng sản phẩm, mẫu mã...

Công tác lưu kho cần phải chú trọng để sản phẩm khỏi bị mất mát, hao

hụt, hư hỏng, nhưng chất lượng sản phẩm phải đảm bảo khi lưu kho.

Định giá và thông báo giá. Các quyết định về giá bán được xem xét một

cách có cơ sở, khơng những nhìn nhận từ những tác động bên trong DN như chi

phí đầu vào, tiền lương, lãi vay mà doanh nghiệp còn phải xác định những yếu

tố bên ngoài như: nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, đối thủ cạnh tranh để đưa ra

một mức giá cho phù hợp với mỗi loại hàng hóa.

Lên phương án phân phối và lựa chọn kênh phân phối sản phẩm trong

công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, việc lên phương án phân phối phải

được xác định trước, dựa vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường mà DN có

thể tiến hành phân phối lượng hàng hóa cho hợp lý thơng qua các kênh tiêu thụ.



Xúc tiến bán hàng: đây là hoạt động của người bán để tác động vào tâm lý

người mua.

Thực hiện các kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng và đánh giá kết quả tiêu thụ

sản phẩm. Trong đó, nghiệp vụ thu tiền là rất quan trọng, hoạt động tiêu thụ vẫn

chưa kết thúc nếu như hàng hóa được bán nhưng vẫn chưa thu được tiền về cho

doanh nghiệp.[3]

2.1.4. Vai trò, ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm

Vai trò của tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm có vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,

nó phản ánh sự thành công nhất định trên thương trường về sự chấp nhận của xã

hội ,về sự đáp ứng của doanh nghiệp đối với xã hội. Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối

cùng của một vòng chu chuyển vốn kinh doanh đây là khâu quan trọng quyết định

đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nếu khơng tiêu thụ được sản phẩm thì

doanh nghiệp không thể thực hiện được chu kỳ sản xuất tiếp theo. Tiêu thụ sản

phẩm giữ vai trò phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh,

giúp cho doanh nghiệp có điều kiện gần gũi với khách hàng, hiểu biết và nắm bắt

những mong muốn của khách hàng nhằm tăng khả năng tiêu thụ và mở rộng thị

trường .Tiêu thụ sản phẩm là động lực thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh

doanh . tiêu thụ sản phẩm tốt doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận, sử dụng hợp lý lợi

nhuận để khuyến khích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [14]

Đối với xã hội, tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối cung và

cầu, Thơng qua tiêu thụ sản phẩm có thể dự đốn nhu cầu tiêu dùng của xã hội

nói chung và từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm. Trên cơ sở đó,

các doanh nghiệp sẽ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình sao cho

đạt được hiệu quả cao nhất. Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối liên kết kinh tế giữa

các vùng kinh tế trong nước, giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, giải

quyết công ăn việc làm, đảm bảo thu nhập cho người lao động và nâng cao đời

sống văn hoá tinh thần cho người dân, đồng thời đóng góp vào ngân sách Nhà

nước và thực hiện các nghĩa vụ xã hội. [14]

Ý nghĩa củ tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện phát hiện những nhu cầu mới góp phần

mở rộng và xâm nhập thị trường

Tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ

thuật, công nghệ mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và hình thành nhiều

loại sản phẩm. [14]



2.1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng

a. Các yếu tố văn hóa

Mỗi nền văn hóa chứa đựng những nhóm nhỏ hơn hay là các văn hóa đặc

thù, là những nhóm văn hóa tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt và mức độ

hòa nhập với xã hội cho các thành viên của nó. Các nhóm văn hóa đặc thù bao

gồm các dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và tín ngưõng, các vùng địa lý. Các dân

tộc, như dân tộc Việt Nam bao gồm người Việt nam trong nước hay cộng đồng

người Việt Nam ở nước ngồi ít nhiều đều thể hiện những thị hiếu cũng như

thiên hướng dân tộc đặc thù. Các nhóm chủng tộc, như người da đen và người

da màu, đều có những phong cách và quan điểm tiêu dùng khác nhau. Các nhóm

tơn giáo, như Cơng giáo, Phật giáo đều tượng trưng cho những nhóm văn hóa

đặc thù và đều có những điều ưa chuộng và cấm kỵ riêng biệt của họ. Những

vùng địa lý như các vùng phía Bắc và các vùng phía Nam đều có những nét văn

hóa đặc thù và phong cách sống tiêu biểu đặc trưng của mỗi vùng đó. [8]

b. Các yếu tố xã hội

Bao gồm các nhóm tham khảo, gia đình vai trò và địa vị xã hội.

+ Nhóm tham khảo: Các nhóm tham khảo là những nhóm có ảnh hưởng

trực tiếp hoặc gián tiếp đến quan điểm và cách thức ứng xử của một hay nhiều

người khác Ở Việt Nam yếu tố truyền miệng thơng qua nhóm tham khảo có tác

động rất lớn đến hành vi mua sắm của khách hàng, do vậy khai thác tốt yếu tố

này sẽ góp phần rất lớn vào thành cơng trong hoạt động kinh doanh

+ Gia đình: Các thành viên trong gia đình của người mua có thể ảnh

hưởng mạnh mẽ lên hành vi của người mua đó.

+ Vai trò và địa vị xã hội: Thể hiện vị trí xã hội của một người trong cộng

đồng hoặc tổ chức nhất định, ảnh hưởng đến lựa chọn chung của cộng đồng

hoặc tổ chức. [8]

c. Các yếu tố cá nhân

+ Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống

Người ta mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình. Họ

ăn thức ăn cho trẻ sơ sinh trong những năm đầu tiên, phần lớn thực phẩm trong

nhưng năm lớn lên và trưởng thành và những thức ăn kiêng cữ trong những năm

cuối đời. Thị hiếu của người ta về quần áo, đồ gỗ và cách giải trí cũng tuỳ theo tuổi



tác.

Việc tiêu dùng cũng được định hình theo giai đoạn của chu kỳ sống của

gia đình. Những người làm Marketing thường hay chọn các nhóm của chu kỳ

sống làm thị trường mục tiêu của mình.

Một số cơng trình mới đây đã xác định các giai đoạn tâm lý của chu kỳ

sống. Những người lớn tuổi đã trải qua những thời kỳ hay những biến đổi nhất

định trong quá trình sống. Người làm Marketing theo dõi rất sát những hồn

cảnh sống ln thay đổi, ly hơn, góa bụa, tái giá, và tác động của những thay đổi

đó đến hành vi tiêu dùng.

+ Nghề nghiệp: Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách

thức tiêu dùng của họ.

+ Hoàn cảnh kinh tế: Việc lựa chọn sản phẩm chịu tác động rất lớn từ

hồn cảnh kinh tế của người đó. Hồn cảnh kinh tế của người ta gồm thu nhập

có thể chi tiêu được của họ (mức thu nhập, mức ổn định và cách sắp xếp thời

gian), tiền tiết kiệm và tài sản (bao gồm cả tỷ lệ phần trăm tài sản lưu động), nợ,

khả năng vay mượn, thái độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm. Linda có thể mua

một máy tính xách tay và nếu bà ta có đủ thu nhập được chi, tiền tiết kiệm hay

khả năng mượn và thích tiêu tiền hơn là tiết kiệm.

+ Lối sống: Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp

xã hội và cùng nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối

sống của một người là một cách sống trên thế giới của họ được thể hiện ra trong

hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của người đó. Lối sống miêu tả sinh động tồn

diện một con người trong quan hệ với mơi trường của mình.

+ Nhận thức và ý niệm về bản thân: Mỗi người đều có một nhân cách

khác biệt có ảnh hưởng đến hành vi của người đó. ở đây nhân cách có nghĩa là

những đặc điểm tâm lý khác biệt của một người dẫn đến những phản ứng tương

đối nhất qn và lâu bền với mơi trường của mình. Nhân cách thường được mô

tả bằng những nét như tự tin có uy lực, tính độc lập, lòng tơn trọng, tính chan

hòa, tính kín đáo và tính dễ thích nghi. Nhân cách có thể là một biến hữu ích

trong việc phân tích hành vi của người tiêu dùng, vì rằng có thể phân loại các

kiểu nhân cách và có mối tương quan chặt chẽ giữa các kiểu nhân cách nhất định

với các lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu. [8]

d.



Các yếu tố tâm lý:



Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố



tâm lý là động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độ

+ Động cơ: Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có

nhiều nhu cầu. Một động cơ (hay một sự thôi thúc) là một nhu cầu đã có đủ sức

mạnh để thơi thúc người ta hành động. Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt

cảm giác căng thẳng.

+ Nhận thức: Một người có động cơ ln sẵn sàng hành động. Vấn đề

người có động cơ đó sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng

từ sự nhận thức của người đó về tình huống lúc đó

+ Tri thức: Khi người ta hành động họ cũng đồng thời lĩnh hội được tri

thức, tri thức mô tả những thay đổi trong hành vi của cá thể bắt nguồn từ kinh

nghiệm. Hầu hết hành vi của con người đều được lĩnh hội. Các nhà lý luận về tri

thức cho rằng tri thức của một người được tạo ra thông qua sự tác động qua lại

của những thơi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp

lại và sự củng cố.

+ Thái độ và niềm tin: Thông qua hoạt động và tri thức, người ta có được

niềm tin và thái độ. Những yếu tố này lại có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm

của con người.[8]

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp.

a. Các yếu tố ngồi doanh nghiệp

Khách hàng của doanh nghiệp

Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới thoả mãn nhu cầu của

khách hàng. Thông thường, để theo dõi thông tin về khách hàng, doanh nghiệp

thường tập trung vào 5 loại thị trường khách hàng như sau:

- Thị trường người tiêu dùng: là các cá nhân và hộ tiêu dùng mua hàng

hoá và dịch vụ cho mục đích cá nhân.

- Thị trường khách hàng là doanh nghiệp: là các tổ chức và doanh nghiệp

mua hàng hố và dịch vụ để gia cơng chế biến thêm hoặc để sử dụng vào một

quá trình sản xuất kinh doanh khác.

- Thị trường buôn bán trung gian: là các tổ chức cá nhân mua hàng hóa

dịch vụ cho mục đích bán lại để kiếm lời.

- Thị trường các cơ quan và tổ chức của Đảng và Nhà nước: mua hàng hố

dịch vụ cho mục đích sử dụng trong lĩnh vực quản lý, hoạt động công cộng hoặc

để chuyển giao tới các tổ chức cá nhân khác đang có nhu cầu sử dụng.

- Thị trường quốc tế: khách hàng nước ngoài bao gồm người tiêu dùng,



người sản xuất, người mua trung gian và chính phủ của các quốc gia khác.

Nhu cầu và các yếu tố tác động đến nhu cầu của khách hàng trên các thị

trường là không giống nhau. Do đó tính chất ảnh hưởng đến cơng tiêu thụ sản

phẩm của các doanh nghiệp cũng khác, bởi vậy chúng cần được nghiên cứu

riêng tuỳ vào mức độ tham gia vào các thị trường của mỗi doanh nghiệp để công

tác tiêu thụ sản phẩm hàng được thực hiện. [14]

Các nhà bán lẻ.

Đó là các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp khác và các cá nhân khác

giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hố dịch vụ của

mình đến người tiêu dùng cuối cùng. Đối với doanh nghiệp thương mại họ ln

có các nhà trung gian ở cấp thấp hơn đó là các nhà bán lẻ và doanh nghiệp chỉ

tiêu thụ được nhiều và nhanh hàng hoá nếu như các trung gian của họ tiêu thụ

được nhiều hàng hoá do doanh nghiệp cung cấp. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho doanh

nghiệp thương mại là phải lựa chọn và bố trí hợp lý các trung gian này sao cho

sản phẩm đến với người tiêu dùng, phục vụ được người tiêu dùng một cách tốt

nhất và phải có những chính sách hỗ trợ cho các nhà bán lẻ.[14]

Các nhà cung ứng

Là các doanh nghiệp, cá nhân đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào cần

thiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh để có hàng hố và dịch vụ cung

ứng trên thị trường.[14]

Số doanh nghiệp trong nội bộ ngành

Số các doanh nghiệp và quy mô sản xuất kinh doanh của chúng đều có

ảnh hưởng đến khả năng cung ứng hàng hố dịch vụ và tạo ra sự cạnh tranh

trong nội bộ ngành. Vì vậy, mỗi sự thay đổi của các doanh nghiệp trong nội bộ

ngành đều tác động đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Một sự

thâm nhập của mới hay rút khỏi thị trường của các doanh nghiệp khác đều làm

ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy những

thơng tin về các doanh nghiệp này doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm để

điều chỉnh hoạt động và làm chủ tình hình trong hoạt động kinh doanh của mình.

[14]

Các nhân tố khác

Thuế của Nhà nước: Thuế cao ảnh hưởng tới giá bán của hàng hoá, số

lượng người tiêu dùng sẽ giảm đáng kể để tiêu dùng sản phẩm khác hoặc không



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×