Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sử dụng các trò chơi

Sử dụng các trò chơi

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 5. Các biện pháp giáo viên sử dụng.

Trong tất cả các biện pháp đưa ra, giáo viên Mầm non thường xuyên sử

dụng các biện pháp: Đàm thoại, trò chuyện, chỉ dẫn (chiếm 88,5%), cho trẻ

thường xuyên thực hiện các hành vi vệ sinh (chiếm 61,5%), biện pháp giáo dục

trong sinh hoạt hàng ngày (chiếm 69,2%). Các biện pháp này được hầu hết

giáo viên lựa chọn và mang tính phổ biến được sử dụng rộng rói nhất nhằm

giáo dục TQVHVS cho trẻ ở trường Mầm non. Đõy là những biện pháp dễ áp

dụng và được sử dụng thường xuyên hơn Vì nú phù hợp với thời gian biểu

hoạt động trong ngày của trẻ, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ Mầm non.

Thực tế, mặc dù giáo viên đó sử dụng các biện pháp này một cách

thường xuyên nhưng cũng chỉ là nhắc nhở trẻ thực hiện mà thôi. Theo ý kiến

của giáo viên đứng lớp, giáo viên chỉ hướng dẫn trẻ các thao tác vệ sinh một

vài lần đầu, về sau cô chỉ nhắc nhở chứ không hướng dẫn tỉ mỉ nữa Vì mất rất

nhiều thời gian. Trẻ 3 – 4 tuổi, đặc biệt là những trẻ mới chuyển từ nhà trẻ lên,

sự ghi nhớ của trẻ chưa có chủ định, hầu như trẻ còn rất vụng về trong các

hành vi vệ sinh, nếu như chỉ giáo dục một vài lần thì khơng những khơng hình

thành được kĩ năng cho trẻ mà có thể còn làm sai lệch hành vi của trẻ. Mặc dự

các biện pháp: đàm thoại, trò chuyện; biện pháp cho trẻ thường xuyên thực

hiện các hành vi vệ sinh đó được giáo viên thường xuyên sử dụng nhưng thực

tế qua quan sỏt chúng tụi nhận thấy các giáo viên thực hiện còn rất hời hợt và

chưa đúng với yêu cầu của nó. Giáo viên chỉ đàm thoại qua loa, chủ yếu nhắc

nhở, hỏi han, nói chuyện bình thường với trẻ chứ khơng nhằm mục đích giáo

dục các hành vi vệ sinh một cách cụ thể, rừ ràng. Do đó, mặc dù các biện pháp

này đó được áp dụng nhiều song kết quả giáo dục chưa cao, chưa đạt như

mong muốn.



44



Bờn cạnh đó các biện pháp còn lại cũng đó được giáo viên chỳ ý tới nhưng

khơng thường xuyên. Trên thực tế chúng tôi cũng thấy rằng, một số giáo viên

chưa nhận thức đầy đủ: đối với trẻ Mầm non “học gì” khơng quan trọng bằng

“học như thế nào”, chúng ta dạy trẻ cách khỏm phỏ kiến thức và tạo niềm ham

thớch với việc ấy. Thường giáo viên vẫn lấy việc cung cấp kiến thức (về thiên

nhiên, xã hội, con người…trong một chủ điểm nào đó) là mục tiêu của các hoạt

động giáo dục hàng ngày, ít chú ý đến việc phát triển các kĩ năng cho trẻ. Do

đó, mọi hoạt động của trẻ ln bó buộc, khuôn mẫu theo giáo án, theo sự sắp

đặt của cô chứ chưa tạo được mơi trường hoạt động an tồn để trẻ cảm thấy

thoải mái mày mũ, tích cực hoạt động.

Biện pháp qua các tiết học thơ truyện cũng được áp dụng trong việc

giáo dục TQVHVS cho trẻ nhưng không thường xuyên, hầu như giáo viên chưa

tạo được sân chơi hấp dẫn để trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động vệ sinh.

Các tiết học (thơ, truyện) cũng chỉ là hình thức lồng ghộp, tích hợp để giáo dục

trẻ chứ chưa có những tác phẩm thơ, truyện chọn lọc dành riêng để giáo dục

vệ sinh cho trẻ. Các tác phẩm thơ, truyện có nội dung liên quan đến việc giáo

dục TQVHVS thường giáo viên chỉ cho trẻ làm quen, học thuộc sau đó lồng

ghép giáo dục, nhắc nhở trẻ. Mục đích chính ở đây là cho trẻ làm quen với tác

phẩm văn học chứ chưa phải nhằm mục đích hình thành kĩ năng, kĩ xảo,

TQVHVS cho trẻ. Do vậy trẻ thường quên ngay sau đó, điều này cũng dễ hiểu

bởi tư duy của trẻ 3 – 4 tuổi gắn liền với trực quan và hành động, chỉ những lời

nói trừu tượng thôi trẻ sẽ không hiểu, điều quan trọng cần phải tạo điều kiện

cho trẻ được hoạt động, được trải nghiệm các hành vi VHVS.

Biện pháp kết hợp giữa nhà trường và gia đình ớt ỏp dụng. Đúng ra, việc

giáo dục TQVHVS cần phải kết hợp chặt chẽ với gia đình thì việc giáo dục nhà

trường thuận lợi hơn. Tuy vậy trong thực tế, giáo viên chỉ gặp gì phụ huynh vào

lúc đón trẻ và trả trẻ nên thời gian hầu như khơng có để trao đổi cụ thể tình



45



hình của trẻ. Để làm tốt cơng tác này nhà trường nên tổ chức thường xuyên

các buổi họp phụ huynh để có sự thống nhất hơn trong việc chăm sóc - giáo

dục trẻ nói chung và giáo dục TQVHVS nói riêng.

Ngoài ra, một số biện pháp hầu như chưa được sử dụng như: biện pháp

sử dụng các trò chơi có đến (65,4%) giáo viên không bao giờ sử dụng, biện

pháp xây dựng gúc vệ sinh lớp học (chiếm 53,9%). Biện pháp sử dụng trò chơi

ít sử dụng đến Vì các trò chơi nhằm giáo dục TQVHVS khơng có nhiều và hình

thức khụ khan. Hơn nữa việc giáo dục TQVHVS chủ yếu qua chế độ sinh hoạt

chứ không qua các tiết học cụ thể nên trò chơi củng cố khơng được áp dụng.

Qua phiếu điều tra một số giáo viên sử dụng biện pháp xây dựng góc vệ sinh

lớp học, nhưng thực tế chúng tôi thấy biện pháp này không bao giờ được giáo

viên sử dụng. Thật ra, ở các trường Mầm non chưa có góc vệ sinh ở lớp học

để cho trẻ chơi hơn nữa cũng khơng có thời gian Vì thời gian trẻ đến lớp chủ

yếu dành cho các hoạt động học tập và vui chơi khác. Do đó, để hình thành

nờn những TQVHVS ở trẻ 3 – 4 tuổi khơng hề đơn giản nếu giáo viên khơng có

những biện pháp tác động phù hợp.

Theo ý kiến của các giáo viên, vấn đề giáo dục TQVHVS cho trẻ ở trường

Mầm non đang gặp một số khó khăn nhất định:

+ (38,5%) giáo viên cho rằng số lượng trẻ quá đông trong khi cơ sở vật chất

không đầy đủ. Thực tế ở trường Mầm non khối 3 tuổi mỗi lớp có đến 45 – 50

trẻ với 2 cô chủ nhiệm, trong khi khu vực cho trẻ vệ sinh, sinh hoạt chật chội,

thùng đựng nước có vũi vặn chỉ được một vài cái nên trẻ thường chen chúc

nhau rất mất trật tự. Có đến (26,9%) giáo viên còn thiếu hiểu biết cơ bản trong

việc tổ chức các hoạt động giáo dục TQVHVS. Giáo viên chưa hiểu hết vai trò

của việc giáo dục TQVHVS đối với sự phát triển của trẻ nên chưa chú trọng

đúng mực trong việc tổ chức các hoạt động để hình thành kĩ năng, kĩ xảo,

TQVHVS. Phần lớn giáo viên còn thụ động trong việc sỏng tạo các tình huống



46



cũng như tổ chức các trò chơi cho trẻ, việc này khơng hề đơn giản đối với

nhiều giáo viên, nó khơng những cần có sự sỏng tạo mà trong cuộc sống, trong

sinh hoạt cần tích luỹ những trò chơi, những tình huống hay để làm tư liệu

phục vụ cho việc giáo dục trẻ.

+ Việc kết hợp giữa nhà trường với gia đình cũng còn gặp nhiều khó khăn

(chiếm 19,2%). Do đặc thù công viêc của ngành Mầm non cũng như những khó

khăn nhất định của phụ huynh mà việc kết hợp giữa nhà trường và gia đình

khơng được tổ chức thường xuyên nên chưa có được sự thống nhất chặt chẽ

trong việc giáo dục TQVHVS cho trẻ.

Nói túm lại, để hình thành tốt TQVHVS cho trẻ, giáo viên cần phải tạo

mụi trường thuận lợi để trẻ được thực hiện các hành vi vệ sinh một cách

thường xuyờn, tổ chức các trò chơi để trẻ được củng cố kĩ năng vệ sinh đó

hình thành. Tuy vậy, giáo viên vẫn chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho trẻ

phát huy tính tích cực, chủ động trong các hành vi vệ sinh, chưa hình thành

nờn TQVHVS cho trẻ.



Kết luận chương 2

Qua nghiên cứu thực trạng về biểu hiện hành vi VHVS của trẻ 3 – 4 tuổi và

biện pháp giáo dục TQVHVS cho trẻ ở trường Mầm non. Chúng tôi nhận thấy:

Việc giáo dục TQVHVS cho trẻ có ý nghĩa tác động về nhiều mặt giáo dục.

Thông qua hoạt động giáo dục TQVHVS, hình thành ở trẻ tớnh tự lập,

thỏi độ tích cực đối với công việc. Tuy nhiên, hoạt động này chưa được chú

trọng đúng mực, đang mang tính chất đối phó, qua chuyện. Giáo viên chưa

nhận thức đúng đắn vai trò cuả việc giáo dục TQVHVS đối với sự phát triển của

trẻ nên chưa có biện pháp tác động phù hợp kích thích trẻ tích cực tham gia



47



vào các hoạt động vệ sinh. Môi trường thiên nhiên, cơ sở vật chất chưa được

quan tâm đầy đủ và chưa được sử dụng hợp lý, làm cho hiệu quả của việc giáo

dục TQVHVS chưa cao.



48



Chương 3

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIÁO DỤC TQVHVS CHO TRẺ 3 –

4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

Quá trình hình thành kĩ xảo VHVS cho trẻ trải qua các giai đoạn:

1. Trẻ hiểu cách làm: trẻ biết được mỗi hoạt động vệ sinh gồm những

thao tác nào, thứ tự nào diễn ra các thao tác và cách tiến hành các thao tác.

2. Giai đoạn hình thành kĩ năng: trẻ biết vận dụng tri thức vào một hoạt

động vệ sinh nào đó.

3. Giai đoạn hình thành kĩ xảo: biến các hành động có ý chí thành các

hành động tự động hoá bằng cách luyện tập thường xuyên để giảm đến mức

tối thiểu sự tham gia của ý thức vào hành động.

Như vậy, điều kiện để hình thành TQVHVS cho trẻ:

- Trẻ phải hiểu được sự cần thiết, ý nghĩa của TQVHVS.

- Đảm bảo tốt cơng tác chăm sóc vệ sinh cho trẻ, gương mẫu thực hiện

các hành động vệ sinh trước trẻ, khuyến khích trẻ cùng thực hiện.

- Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục TQVHVS bằng nhiều phương pháp,

biện pháp giáo dục khác nhau.

- Trẻ phải được thực hiện các hành vi vệ sinh một cách thường xuyên có

hệ thống.

+ Ở giai đoạn đầu tiên phải lặp đi lặp các kĩ năng trong khoảng thời gian

cách nhau không xa. Muốn vậy, phải cho trẻ thường xuyên được luyện tập với

trình tự thực hiện của hành động.

+ Từng bước giúp trẻ ý thức được ý nghĩa và sự hợp lý của các thao tác,

các hành động VH - VS từ đó hình thành nhu cầu về thói quen VH - VS ở trẻ.

- Phối hợp chặt chẽ với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được

vận dụng, củng cố những kĩ năng đó ở gia đình nhanh chúng hình thành kĩ xảo

và thói quen vệ sinh trong tập thể trẻ. Đồng thời tạo các điều kiện giáo dục cần

thiết giữa gia đình và nhà trường trong việc hình thành TQVHVS cho trẻ.

- Thực hiện đánh giá thói quen vệ sinh của trẻ một cách thường xuyên,

kết hợp tuyên dương, khen ngợi trẻ.



49



3.1. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP

3.1.1. Trò chuyện chỉ dẫn cho trẻ về các hành động vệ sinh. Tạo điều kiện cho

trẻ thường xun được tự mình hoạt động

Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh trong cuộc sống hàng ngày phụ

thuộc vào hoạt động và sinh hoạt của trẻ.

Việc giáo dục TQVHVS không những được tiến hành qua các tiết học mà

phải giáo dục ở mọi lúc mọi nơi: giờ đón trẻ, trước lúc ăn, ngủ, lúc dạo chơi

tham quan…Trẻ rất hào hứng khi được đối thoại với cô, thái độ ân cần, dịu

dàng của cơ khi trò chuyện với trẻ góp phần kích thích trẻ suy nghĩ trả lời, phát

triển nhận thức, củng cố và hoàn thiện dần các hành động.

- Trẻ 3 - 4 tuổi khả năng nhận thức còn hạn chế, hành động của trẻ còn

vụng về, thường qua chuyện, trẻ có thể quờn ngay những gì mình đó làm

trước đó và khơng thể tự thực hiện các hành động mà khơng có sự chỉ dẫn của

giáo viên. Vì vậy, dưới sự chỉ dẫn khéo léo của cô, trẻ được tham gia tích cực

các hành động vệ sinh và thường xuyên được củng cố để biến những hành vi

vệ sinh ấy thành thói quen tốt ở trẻ.

- Đàm thoại với trẻ về những thói quen vệ sinh có thể tiến hành vào lúc

đón trẻ. Chẳng hạn cơ cho trẻ ngồi quanh cơ, tạo khơng khí thân mật, niềm nở,

cụ hỏi: sỏng sớm ngủ dậy các con phải làm gì? Vì sao phải đánh răng, rửa mặt?

khi đến lớp các con phải như thế nào?...Cơ có thể gợi ý để mọi trẻ được trả lời,

khuyến khích những trẻ yếu trả lời và tạo khơng khí thật thoải mái để trẻ hứng

thú tham gia vào cuộc trò chuyện.

- Cũng có thể đàm thoại với trẻ về những thói quen vệ sinh trước lúc ăn.

trước giờ ăn cô cho trẻ đi vệ sinh: rửa tay, lau mặt rồi ngồi ngay ngắn vào bàn.

Trong lúc chờ cơm cơ trò chuyện với trẻ, cụ hỏi: tư thế ngồi ăn phải ngồi như

thế nào? cầm thìa bằng tay nào? trước khi ăn phải mời ai? Khi ăn phải như thế

nào?...cô để cho trẻ tự do trả lời những gì trẻ được nghe thấy, được trải

nghiệm. Nếu trẻ chưa trả lời được thì cụ có thể chỉ dẫn cho trẻ và cho trẻ thực



50



hiện lại hành động đó theo lời chỉ dẫn của cơ sao cho những hành vi VHVS

trong ăn uống trở thành thói quen, thành ý thức thường trực ở trẻ.

- Ngoài ra, qua các tiết học cũng như những lúc dạo chơi, tham quan,

giáo viên có thể giáo dục các TQVHVS cho trẻ thơng qua các trò chơi được lồng

ghộp, tích hợp vào nội dung của tiết học, đảm bảo trẻ vừa chơi mà học - học

bằng chơi.

Tuy nhiên, mọi kĩ năng đều có thể mờ nhạt dần nếu khơng được củng

cố thường xun, đặc biệt trẻ nhỏ với đặc tính chóng nhớ nhưng rất chóng

qn thì những hoạt động vệ sinh hàng ngày phải được tổ chức thực hiện một

cách thường xuyên, có hệ thống dưới sự chỉ dẫn khéo léo, tỉ mỉ của giáo viên.

Điều này có ý nghĩa củng cố, hồn thiện dần các hành vi vệ sinh, hình thành

những thói quen vệ sinh có văn hố một cách bền vững gúp phần phát triển

toàn diện nhân cách cho trẻ.

3.1.2 Sử dụng trò chơi, đồ chơi

Việc sử dụng trò chơi, đồ chơi trong giáo dục các kĩ năng, kĩ xảo vệ sinh

cho trẻ, nhằm mục đích tạo ra sự thống nhất giữa các biểu tượng về hành vi cụ

thể ở trẻ. Đồng thời, trẻ được luyện tập để hoàn thiện kĩ xảo, là cơ sở để hình

thành TQVHVS cần thiết.

Ta biết rằng, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ Mẫu giáo và các trò chơi

có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục

VHVS nói riêng. Bởi Vì, chơi là q trình trẻ học làm người, trải nghiệm những xúc

cảm, tình cảm, hành vi của con người qua các vai khác nhau. Do vậy, những yếu

tố đạo đức xuất hiện ngay trong bản thân trẻ một cách tích cực chứ khơng phải

dưới lời nói trừu tượng và nó có tác dụng hình thành động cơ đúng cho trẻ.

Đồ chơi là phương tiện để trẻ thực hiện hiệu quả trò chơi đưa trẻ vào

cuộc sống lao động của người lớn một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Các đồ chơi

sử dụng trong dạy học, vui chơi của trẻ là những đồ dùng phản ánh cuộc sống

sinh hoạt và lao động gắn với từng loại ngành nghề trong xã hội, được thu nhỏ

mang tính thẩm mỹ cao, phù hợp với trẻ. Nhờ có dạng đồ chơi này trẻ thao

tác, hành động với chúng giúp trẻ tưởng tượng một cách rừ ràng hơn những



51



hành vi vệ sinh cần củng cố. Giáo viên cần nhận thức rằng mỗi nội dung trẻ học

đều thông qua hoạt động trải nghiệm, khám phá. Do đó “Thử và sai” là cách

học thớch hợp với trẻ nhỏ và là con đường hình thành khả năng tự học. Vì vậy,

giáo viên cần cho phộp sự bừa Bén trong quá trình chơi, khám phá, thử nghiệm

và sỏng tạo các sản phẩm. Chẳng hạn trò chơi xây dựng, u cầu trẻ xây dựng các

cơng trình vệ sinh, xếp các bồn cõy cảnh…cho trẻ được hoạt động thoải mái với

đồ vật đồ chơi, mày mũ thử nghiệm bằng nhiều cách. Thường xuyên tạo ra sự

bừa Bén cũng chính là một phần của học tập tích cực. Hơn nữa, đó lại là cơ hội để

dạy trẻ cất, dọn, xếp đồ chơi vào đúng chỗ quy định, phát triển ở trẻ kĩ năng phân

loại đồ chơi và điều quan trọng là hình thành thói quen hoạt động có văn hố cho

trẻ.

Đối với trẻ 3 - 4 tuổi, nhất là những trẻ mới được chuyển nhóm những

hành động vệ sinh cũng như thao tác với đồ vật, đồ chơi còn vụng về, một số

trẻ còn chơi một mình, đôi lúc trẻ sử dụng đồ chơi không đúng với cơng dụng

của nó. Dạy trẻ hiểu rừ cơng dụng của từng loại đồ chơi sẽ giúp trẻ dễ dàng

lĩnh hội những hành vi vệ sinh mới. Sử dụng các đồ chơi khi tham gia vào trò

chơi là q trình trẻ tiếp nhận tri thức một cách tự nhiên, không bị ộp buộc.

Do vậy, khi chơi các trò chơi mang nội dung giáo dục các thói quen vệ sinh có

văn hố nói riêng, trẻ có thể lĩnh hội được những tri thức, kĩ năng và tạo được

những xúc cảm, tình cảm nhất định. Bởi mong muốn được đóng các vai khác

nhau sẽ thôi thúc trẻ cố gắng thực hiện tốt vai, nghĩa là thực hiện cỏi ý và

nghĩa của trò chơi.

Các trò chơi, đồ chơi đóng vai trò quan trọng trong giáo dục các thói quen

vệ sinh, nếp sống có văn hoá cho trẻ. Chẳng hạn khi dạy trẻ các hành vi ăn

uống có VHVS kết hợp lồng ghép trò chơi “cho em búp bê ăn”, những đồ chơi

chuẩn bị cho trẻ như búp bê bằng vải hay nhựa, một số bỏt, thìa nhựa… Qua

chơi trẻ học được thao tác bế em búp bê, cho em búp bê ăn như thế nào? Cơ

có thể đến gần và hỏi trẻ đang chơi đồ chơi gì và đồ chơi đó có thể chơi trò gì?

Để đựng cơm thì cần phải có gì? Xỳc cơm cần có gì… Cụ hướng dẫn trẻ cách

cho búp bê ăn.



52



Trò chơi sử dụng để giáo dục TQVHVS cho trẻ rất phong phú. Chẳng hạn

trò chơi “bé tập đánh răng”, trò chơi “rửa tay cho bỳp bờ”, trò chơi phân vai:

“Bác sỹ tớ hon”, hay trò chơi “Tay ai sạch hơn”… Mỗi trò chơi đều nhằm củng

cố những hành động cũ mà trẻ đó biết đồng thời luyện tập để những hành

động vệ sinh ấy trở thành thói quen.

3.1.3 Thường xuyên đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe

Thơ, chuyện là thứ ngơn ngữ nhẹ nhàng, tình cảm dễ đi vào lũng người,

nhất là đối với trẻ em. Trẻ em rất thích được nghe đọc thơ, kể chuyện. Những

câu chuyện mang nội dung ngộ nghĩnh dí dỏm phù hợp với nhận thức của trẻ.

Qua những bài thơ, câu chuyện cô kể trẻ học được rất nhiều điều hay lẽ phải.

Chẳng hạn cô đọc cho trẻ nghe bài thơ “Thỏ bụng bị ốm” bài thơ nói về thỏ

bơng đó ăn uống thiếu vệ sinh (ăn quả xanh - uống nước ló…) nờn đó bị ốm.

Hay cụ kể cho trẻ nghe cõu chuyện “Gấu con bị sõu răng” trong cõu chuyện có

tình tiết gấu con bị sõu răng do ăn nhiều bánh kẹo lại lười vệ sinh răng miệng

nên phải đến bác sỹ để khám bệnh. Qua những bài thơ, câu chuyện này kết

hợp giáo dục trẻ về những hành vi vệ sinh thân thể, hành vi ăn uống có văn

hố vệ sinh để bảo vệ sức khoẻ, để được mọi người yêu mến. Cũng qua câu

chuyện trẻ học được những lời đối thoại căn dặn của bác sỹ đối với bệnh nhân,

những thao tác khi bác sỹ khám bệnh, thái độ ân cần chăm sóc. Từ đó hình

thành ở trẻ thỏi độ tích cực và thói quen giao tiếp có văn hoá đối với mọi

người xung quanh. Đây là những bài học bổ ích về các hành vi VHVS trong cuộc

sống, trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Ở trẻ Mầm non cái đẹp và cái xấu

được phân biệt rừ ràng, trẻ ln u cái đẹp, ghột cỏi xấu. Chính Vì vậy, các

nhân vật trong thơ, chuyện là đối tượng để trẻ so sánh, nhập vai. Chẳng hạn,

trong cõu chuyện “Thỏ con không võng lời” cụ tạo điều kiện để cho trẻ được

tranh luận về nhân vật (Thỏ con ngoan hay hư, Vì sao con biết?...) cụ liên hệ

thực tế cho trẻ, cụ hỏi:

(Ở nhà khi mẹ đi vắng mẹ dặn các con những gì? Các con có nghe lời mẹ dặn

không?...) Khi nghe chuyện trẻ rất hứng thỳ và lắng nghe. Từ việc cho trẻ được

tranh luận về những hành vi của nhân vật và liên hệ với thực tế, giúp trẻ củng



53



cố, nhớ lại những hành động trẻ thực hiện hàng ngày đồng thời hình thành

những hành vi, thói quen nếp sống có VHVS cho trẻ: ngoan ngoón, võng lời

người lớn… Với mong muốn được khen ngợi, được mọi người u mến, trẻ

thường thích đóng những vai nhân vật thiện, tốt đẹp. Vì vậy, cụ nờn thường

xuyên đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe tạo điều kiện cho trẻ được tham gia

tranh luận về các nhân vật, được tham gia đóng vai thể hiện hành động của

nhân vật…Đây chính là cách thức để giáo dục TQVHVS, nõng cao ý thức tự

phục vụ của trẻ trong cuộc sống.

3.1.4 Xây dựng tiết học vệ sinh

- Mục đích của việc tổ chức tiết vệ sinh là trang bị cho trẻ những tri thức

chủ yếu về vệ sinh, giúp trẻ nắm được các biện pháp thực hiện các thao tác

từnh hành động vệ sinh một cách chính xỏc, đúng đắn làm cơ sở để luyện tập

trong quá trình sinh hoạt hàng ngày.

- Thực hiện tiết vệ sinh cần có các dụng cụ trực quan: tranh ảnh, đồ chơi,

dụng cụ vệ sinh cỏ nhân... để gõy hứng thỳ cho trẻ và giúp trẻ tiến hành hành

động vệ sinh dễ dàng hơn. Thụng qua các tiết vệ sinh, giáo viên có thể mở rộng

thờm nội dung, yờu cầu đối với trẻ. Đồng thời liên hệ các yờu cầu đó với hành

vi hàng ngày nhằm gõy thiện cảm với các hành động vệ sinh cho trẻ, nhờ đó

trẻ có ý thức tập luyện hơn.

- Để hình thành mỗi kĩ năng vệ sinh mới không phải chỉ tổ chức tiết học

mà có cả một hệ thống các tiết học kế tiếp nhau với những mức độ yờu cầu

ngày một cao hơn. Hệ thống các tiết vệ sinh bao gồm:

+ Các loại tiết học hình thành kĩ năng tạo cơ sở hình thành kĩ xảo, TQVHVS

+ Tiết đàm thoại nhằm hình thành ý thức cỏ nhân cho trẻ

+ Tổ chức các trò chơi nằm giúp trẻ củng cố kĩ năng đó được hình thành.

Việc giáo dục TQVHVS cho trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động

giáo dục và dạy học ở trường mầm non. Bằng hoạt động giáo dục phong phú,

đa dạng như vui chơi, lao động, sinh hoạt hàng ngày, ăn ngủ… trẻ được rèn

luyện kỹ xảo, thói quen và phát triển những xúc cảm tốt đối với quá trình thực



54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sử dụng các trò chơi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×