Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

mỉ cách tiến hành các hành động vệ sinh, khi dạy trẻ cần sử dụng các biện

pháp phù hợp với chúng.

Bà cho rằng chỉ trong điều kiện trẻ ý thức được tầm quan trọng của việc

thực hiện các hành động vệ sinh và sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà

trường thì giáo dục vệ sinh mới đem lại hiệu quả.

G.Liamivna(2) đó đề cập đến việc hình thành TQVHVS cho trẻ. Bà cho rằng

do đặc điểm hệ thần kinh của trẻ đang ở giai đoạn mềm dẻo nhất, trong khi đó

các hành động có liên quan đến quá trình: ăn, mặc, ngủ, vệ sinh cá nhân được

lặp đi lặp lại hàng ngày một cách có hệ thống và liên tục, đó tạo điều kiện cho

các TQVHVS hầu như được hình thành ở lứa tuổi nhỏ. Việc hình thành TQVHVS

được thực hiện dưới tác động trực tiếp của người lớn và hồn cảnh xung

quanh. Tính bền vững và dẻo dai của các thói quen phụ thuộc hàng loạt các

yếu tố như: điều kiện, thời gian bắt đầu một kĩ năng mới, ý thức của trẻ khi

thực hiện… Bà kêu gọi các trường Mẫu giáo phải quan tâm đến việc hình thành

các thói quen mới, khi mà chính trong bản thõn đứa trẻ xuất hiện những

nhiệm vụ mới. Người lớn cần dạy trẻ khơng chỉ thực hiện những gì chúng

thớch mà phải làm những gì cần thiết với trẻ. Bà đó đưa ra các điều kiện hình

thành TQVHVS cho trẻ và xây dựng các điều kiện để hình thành thói quen như

sau:

+ Lựa chọn các dụng cụ vệ sinh phù hợp, xếp ở vị trớ thuận lợi dễ sử

dụng.

+ Đảm bảo tính hệ thống, liên tục trong dạy học trên cơ sở đặc điểm lứa

tuổi.

+ Tớnh liên tục và hệ thống trong các bài tập kiểm tra.

+ Lưu ý đến đặc điểm cá biệt.



2()



Tạp chớ Nghiờn cứu giỏo dục số 3-1983: “Tỡm hiểu đặc điểm tâm lý trong hoạt động lao động của trẻ mẫu giáo.



11



Nhìn chung, việc giáo dục VHVS mà các tác giả Liên xơ (cũ) đó đề cập đến

đều nờu lờn tầm quan trọng của việc hình thành thói quen và các điều kiện

hình thành thói quen. Tuy nhiên, đó còn là những vấn đề rất chung chung chưa

được khai thác sâu để tìm ra giải pháp hữu hiệu. Hiện tại những vấn đề cụ thể

hơn đặt ra trước thực tế giáo dục trẻ là vấn đề hình thành thói quen cho trẻ ở

các độ tuổi nhất là lứa tuổi Mẫu giáo.

1.1.2. Ở Việt Nam

Cựng với các nhà Tâm lý học, Giáo dục học Xụ Viết, ở Việt Nam vấn đề giáo

dục TQVHVS cũng đó được chú ý đến. Đặc biệt trong những năm gần đây, quan

điểm dạy học tích cực, phát huy tính chủ động của người học đó và đang là

chủ trương của ngành giáo dục.

- Trong cuốn “GDH Mầm non” Đào Thanh Âm (chủ biên) NXB ĐHSP- HN

2002 coi trọng vấn đề giáo dục thói quen hành vi VHVS cho trẻ trước tuổi đến

trường phổ thụng và xem đây như là cơ sở của việc hình thành ý thức nhân

cách cho trẻ.

- Tác giả Lê Cảnh Linh đó nghiên cứu vấn đề hình thành kĩ năng vệ sinh và

chỉ tập trung đến con đường dạy học bằng tiết học vệ sinh. Trong chương trình

giáo dục trẻ ở các độ tuổi chưa đưa ra yêu cầu vệ sinh đạt được ở các mức độ,

chưa dựa trên cơ sở khoa học để đưa ra yêu cầu đó. Các tài liệu chỉ mang tính

chất mơ tả trẻ làm trong sinh hoạt hàng ngày còn vấn đề bản chất, những yêu

cầu về tri thức, điều kiện và sự hình thành các TQVHVS cho trẻ chưa được lưu

tâm ở mức độ cần thiết.

- Các tác giả Đào Mai Hương và Nguyễn Lệ Quyên đó nghiên cứu đề tài

này nhưng trên đối tượng là Mẫu giáo nhỡ và lớn.

Theo quan điểm của các nhà Giáo dục học Xụ Viết thì việc hình thành các

thói quen cho trẻ có thể bắt đầu từ tuổi Mẫu giáo bé. Bởi Vì các thói quen văn



12



hố là những hoạt động có liên quan đến các quá trình sinh hoạt hàng ngày

(ăn, ngủ, vệ sinh cỏ nhân…) được lặp đi lặp lại một cách rừ ràng có hệ thống,

liên tục sẽ dễ dàng được hình thành ở lứa tuổi nhỏ. Tuy nhiên, đây không phải

là nhiệm vụ đơn giản mà rất phức tạp. Vì vậy, vấn đề giáo dục VHVS cho trẻ

Mẫu giáo bé được thừa nhận rằng rất phức tạp và mới mẻ, cần được quan tâm

và nghiên cứu một cách nghiêm túc.



- Tác giả Mai Ngọc Liên (1999) nghiên cứu “một số biện pháp giáo dục tính

độc lập cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi qua hoạt động tự phục vụ”

- Chương trình chăm sóc giáo dục Mầm non của Bé giáo dục và Đào tạo.

Ngồi ra, còn có một số cơng trình nghiên cứu khỏc cũng có đề cập đến

vấn đề giáo dục thói quen hành vi có văn hố. Tuy nhiên, các cơng trình khai

thỏc ở các khớa cạnh khỏc nhau Trên Khách thể học sinh, sinh viên, người lớn

tuổi. Còn trẻ lứa tuổi nhà trẻ, Mẫu giáo, chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu

nhất là trong vấn đề giáo dục TQVHVS. Chính Vì vậy, vấn đề này cần được

nghiên cứu tìm ra biện pháp hữu hiệu để giáo dục TQVHVS cho trẻ trong quá

trình tổ chức chế độ sinh hoạt, trò chơi hay trong hoạt động học tập, lao

động… Chúng tơi cho rằng đó là việc làm rất cần thiết để giáo dục TQVHVS cho

trẻ nhằm bảo vệ sức khoẻ, hình thành nếp sống VHVS, gúp phần nõng cao chất

lượng giáo dục trẻ ở trường Mầm non, từ đó cùng với gia đình, xã hội hình

thành nờn nhân cách tốt ngay từ tuổi còn thơ.

Để có được biện pháp giáo dục thuận lợi nhất, còn tuỳ thuộc vào điều

kiện, thời gian, đối tượng nghiên cứu, các phương tiện và khả năng của người

nghiên cứu, cựng nhiều yếu tố khỏc nhau. Ở luận văn này chúng tơi chỉ có

tham vọng nhỏ là trên cơ sở xác định thực chất về mức độ hình thành TQVHVS



13



của trẻ Trên thực tế, thử đề xuất một vài biện pháp nhằm nõng cao hiệu quả

giáo dục TQVHVS cho trẻ Mầm non.

1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1. 2.1 Khái niệm kĩ năng, kĩ xảo, thói quen

1.2.1.1. Khái niệm kĩ năng

Kĩ năng là một vấn đề phức tạp, đó được Nhìn nhận dưới nhiều góc độ

khác nhau.

- Theo quan điểm của N.D.Levitov (3): kĩ năng là sự thực hiện có kết quả

của một động tác nào đó trong một hoạt động phức tạp hơn, bằng cách áp

dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có chiếu cố đến những điều kiện

nhất định. Kĩ năng có liên quan đến nhiều hoạt động thực tiễn, đến việc áp

dụng kiến thức vào thực tiễn.

N.D.Levitov phân chia kĩ năng ra làm 2 loại: kĩ năng sơ Bé và kĩ năng phức

tạp.

+ Kĩ năng sơ Bé được biểu hiện bằng những thao tác thí nghiệm có kết

quả ngay từ bước đầu tiên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt đến

kết quả cần thiết.

+ Kĩ năng phức tạp là những kĩ năng ở giai đoạn phát triển cao hơn, nó

được hình thành trong q trình vận dụng những tri thức hiểu biết vào thực

tiễn và được luyện tập dần dần để trở thành kĩ xảo và ngày càng hồn thiện.

N.D.Levitov phân tích cơ sở lí luận của kĩ năng là do Trên Bé nóo hình

thành sự kết hợp phức tạp giữa 2 loại liên hệ: liên hệ thứ nhất là liên hệ của hệ

thống tín hiệu thứ 2 mang tính chất trừu tượng và khái quát. Đó là sự tiếp thu

những lời hướng dẫn khi hình thành kĩ năng. Liên hệ thứ 2 là mối liên hệ giữa

các hệ thống nhằm chuyển lời hướng dẫn sang sự định hướng cách Nhìn và

thực hiện động tác, hay căn cứ vào lời hướng dẫn để kiểm tra động tác đó

3()



“TLH trẻ em và TLH sư phạm” - NXB Giỏo dục Hà Nội 1970.



14



được thực hiện. Trình độ kĩ năng đạt được phụ thuộc vào độ nhanh, chính xác

và có hệ thống trong việc hình thành hai loại liên hệ ấy. Còn việc hình thành kĩ

năng là q trình tổ chức các mối liên hệ ấy một cách có kết quả. Con đường

hình thành kĩ năng thường là bắt chước kĩ năng mẫu, bắt chước các hành động

nổi bật bằng quá trình làm thử và luyện tập, và bao giờ cũng gắn bú với thực

tiễn.

Theo quan điểm của nhà TLH Xụ Viết X.I.Kixengov (4): Kĩ năng là khả năng

thực hiện có hiệu quả hệ thống và các hành động phù hợp với mục đích và

điều kiện thực hiện hệ thống này.

Ơng khẳng định kĩ năng có đặc điểm là nó được hình thành khơng có

những luyện tập đặc biệt để thực hiện hành động bởi sự thể hiện các kĩ năng

bao giờ cũng diễn ra của những kinh nghiệm truớc đây và những tri thức nhất

định về các hành động là không thể thiếu.

Kĩ năng lao động chung được X.I.Kixengov và E.A.Mirerian cựng một số

nhà Tâm lớ học Liên Xụ (cũ) cho rằng nó được hình thành trong q trình hoạt

động có tổ chức đặc biệt. Những hoạt động như vậy đưa đến giá trị toàn vẹn

cho kĩ năng. Giá trị đó đó được thể hiện ở tính có ý thức và có kế hoạch của

nú. Giỏ trị tồn vẹn của các kĩ năng lao động chung còn phải kể đến tính có chỳ

ý trong việc thực hiện hành động, sự thống nhất một cách vững chắc của các

hành động trí tuệ, tri giác, thực tiễn và việc thực hiện không rập khuụn mà

sỏng tạo các tri thức và hoạt động thực tiễn.

- Khỏi niệm về kĩ năng còn có thể thấy trong quan điểm của

V.V.Tsebaseva. Bà nhận định: kĩ năng thường có liên quan đến khả năng vận

dụng kinh nghiệm cũ trong việc thực hiện những hành động mới, trong điều

kiện mới.



4()



“Hỡnh thỏnh cỏc kỹ năng - kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện nền giáo dục đại học” .



15



- Mặc dù các quan điểm của các tác giả khác nhau nhưng đều có khái

niệm kĩ năng chung đó là: kĩ năng là sự thực hiện có kết quả các động tác trong

hoạt động phức tạp hơn, từ việc thực hiện có hệ thống các động tác đưa đến

giá trị toàn vẹn cho kĩ năng và chỉ ra con đường hình thành kĩ năng thường là

sự bắt chước kĩ năng mẫu thông qua làm thử luyện tập mà thành kĩ năng. Mức

độ cao hơn của kĩ năng là kĩ xảo.

1.2.1.2. Khỏi niệm kĩ xảo

Cũng như khái niệm kĩ năng, kĩ xảo cũng được Nhìn nhận dưới nhiều

quan điểm khác nhau. Chúng tôi tiếp tục điểm qua các quan điểm của các tác

giả Trên về các khỏi niệm kĩ xảo.

- Quan điểm của N.D.Levitov(5) : Kĩ xảo là kĩ năng thực hiện một động tác

nào đó đó được củng cố bằng luyện tập.

Kĩ xảo là những động tác khéo léo, nhưng như vậy khơng có nghĩa là một

hành động tự động hóa. Q trình hình thành kĩ xảo, khơng phải là một q

trình đơn giản mà được thơng qua luyện tập ở nhiều mức độ và được hoàn

thiện bằng hoạt động thực tiễn. Ta thấy trong quan điểm của N.D.Levitov, “yếu

tố thực tiễn giữ vai trò quyết định về mọi mặt của vấn đề kĩ năng và kĩ xảo”.

Theo quan điểm của X.I.Kixengov “kĩ xảo là biện pháp được đặc trưng ở

trình độ thành thạo trong đó có yếu tố tự động hoá ”.

Mức độ tự động hoá của kĩ xảo thể hiện ở sự kiểm tra của ý thức được

thu gọn lại. Như vậy, không phải là mọi khâu của hành động đều được tự động

hoá, mà chỉ những khâu nào phù hợp với điều kiện tương đối thường xuyên

của hoạt động mới được tự động hoá, còn các thành phần biến thiờn (do có sự

thay đổi của các điều kiện) bao giờ cũng đặt dưới sự kiểm tra được triển khai

của ý thức. X.L.Kixengov cho rằng đặc trưng của kĩ xảo ở tính bền vững to lớn

của các phương thức hành động được lĩnh hội và được tự động hoá bằng cách

5()



“Tâm lý học dạy học lao động” NXB giỏo dục – HN – 1972.



16



rèn luyện. Nét này là cố hữu đối với nhiều kĩ xảo của con người (dáng đi, cách

nói chuyện…) ngồi tính bền vững ra kĩ xảo còn được đặc trưng ở tính mềm

dẻo, tức là ở sự thay đổi (tất nhiên trong những giới hạn nhất định) về phương

thức của các hành động khi các điều kiện thực hiện chúng thay đổi. Bởi vậy,

nên “khi tạo ra các kĩ xảo hoặc vận dụng kĩ xảo mà các điều kiện này càng đa

dạng thì kĩ xảo càng trở nờn mềm dẻo hơn” và ngược lại tính đơn điệu của các

điều kiện sẽ tạo nên tính đơn điệu cho các kĩ xảo. Sự hình thành kĩ xảo được

diễn ra bằng quá trình tiếp thu các phương thức thực hiện hành động, ở giai

đoạn đầu của việc hình thành kĩ xảo người học được giới thiệu cho biết về

hành động cần phải tiếp thu đó được thực hiện như thế nào? Sự hiểu biết này

rất cần thiết cho sự hình thành kĩ xảo, dẫu rằng chúng chưa được thực hiện

toàn vẹn bằng hành động và sau đó là vai trò của người làm cơng tác giáo dục

trong việc hướng dẫn, giảng giải những hiểu biết về phương thức hành động.

Có hai con đường để hình thành kĩ xảo: Con đường thứ nhất là thông qua

hệ thống các bài tập được tổ chức đặc biệt, có mục đích luyện tập riêng lẻ. Con

đường thứ hai là đưa nhiều lần các hành động đó được lĩnh hội vào các bài tập

có tính chất chung hơn.

Theo quan điểm của A.N.Leonchiep(6): Đa số trường hợp kĩ xảo của con

người nảy sinh trên cơ sở biến hành động thành thao tác, như một phương

thức hoạt động được tự động hóa một cách có ý thức, như một thành phần

được tự động hố của việc thực hiện hành động. Đó là “Thao tác có ý thức - kĩ

xảo”. Những “Thao tác có ý thức - kĩ xảo” này rất cần thiết khi hoạt động diễn

ra trong những điều kiện biến đổi liên tục, khi không thể chậm trễ suy nghĩ về

phương thức hành động mà phải có phản ứng mau chóng và chính xác đối với

sự thay đổi của các điều kiện.



6()



“Những vấn đề của sự phát triển tâm lý” – 1972.



17



Theo quan điểm của V.V.Tsebaseva (7): Kĩ xảo được hiểu là những phương

thức thực hiện hành động được hình thành nhờ luyện tập. Bà đó dựa Trên cơ

sở Tâm lớ học để chia kĩ xảo thành 3 nhóm chính:

+ Kĩ xảo cảm giác

+ Kĩ xảo vận động

+ Kĩ xảo trớ tuệ

Theo bà kĩ xảo cảm giác là sự chính xác của những đánh giá ước lượng

bằng mắt, căn cứ vào kết quả cử động (có cảm giác). Kĩ xảo vận động là việc

kiểm tra những cử động của bản thân mình, còn kĩ xảo trớ tuệ là sự kiểm tra

tớnh chất đúng đắn của những tính tốn và kiểm tra sự tuân thủ các quy tắc sử

dụng. Các kĩ xảo trí tuệ được hình thành với vai trò chỉ đạo của hệ thống tín

hiệu thứ hai. Bà đó nhấn mạnh về những điều kiện chủ yếu để hình thành có

hiệu quả các kĩ xảo lao động trong đó dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm

thực tế của việc dạy kĩ xảo lao động. Bà cho rằng đây cũng là những điều kiện

chung để hình thành các kĩ xảo khỏc.

Kĩ xảo là loại hình hoạt động tự động hố nhờ luyện tập, trong đó người học

chỉ tập trung chỳ ý vào điều kiện kết quả của hành động mà không tập trung

vào các thao tác riêng lẻ. Kĩ xảo ớt gắn liền với tình huống, nú có thể ớt bền

vững nếu khơng thường xun luyện tập củng cố.

Nhìn chung, kĩ xảo có rất nhiều khái niệm của nhiều quan điểm khác nhau.

Nhưng nói chung các tác giả cho rằng kĩ xảo được hình thành từ kĩ năng, kĩ

năng đạt mức độ cao hơn, thành thạo các hành động thông qua các bài tập

được tổ chức có mục đích mang tính chất chung. Kĩ xảo hình thành trong việc

thực hiện hành động “Thao tác có ý thức - kĩ xảo”. Để đạt được mục đích nào

đó với điều kiện càng đa dạng thì kĩ xảo càng mềm dẻo hơn.

1.2.1.3. Khỏi niệm thói quen(8)

7()



“Tâm lí dạy học lao động” - NXBGD Hà Nội 1972.



8()



Ngơ Cơng Hồn, Tâm lý học gia đình, ĐHSP Hà Nội I, 1993.



18



Thói quen thường chỉ những hành vi của cá nhân được diễn ra trong

những điều kiện ổn định trong không gian và quan hệ xã hội rất cụ thể. Thói

quen có nội dung Tâm ký nhất định, thường gắn với nhu cầu của cá nhân, và

gần như trở thành phản xạ có điều kiện. Khi đó trở thành thói quen mọi hoạt

động tâm sinh lý trở thành cố định, cân bằng và khi phá Vì sự cân bằng đó tức

là sự phỏ Vì thói quen, sẽ là một q trình rất khó thực hiện. Sở dĩ như vậy bởi

Vì thói quen là loại hành động tự động hố trở thành nhu cầu của con người

và đòi hỏi được thực hiện theo một cách nhất định. Ở mỗi cá nhân đều có

những thói quen nhất định được tạo thành trong q trình sống của chủ thể.

Thói quen tũn thủ chặt chẽ chế độ sinh hoạt hàng ngày: thói quen ngăn nắp

sau khi sử dụng đồ dùng, thói quen niềm nở với mọi người…

Một phẩm chất nhân cách được hình thành, phát triển trong những điều

kiện ổn định trên nền tảng thói quen. Để tạo những phẩm chất trung thực,

khơng thể khơng tạo ra các tình huống ổn định. Tuy nhiên, nếu quá lợi dụng

thói quen sẽ tạo ra mẫu người chỉ hoạt động tốt trong nhiều điều kiện ổn định

với những thói quen của mình, và sẽ khó khăn trong hành động khi gặp điều

kiện thay đổi.

Thói quen được hình thành từ đâu? Thói quen được hình thành do luyện

tập tức là kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần được trở thành kĩ xảo và mức độ

cao hơn của kĩ xảo là thói quen. Nghĩa là sự lặp đi lặp lại có hệ thống và có mục

đích khơng chỉ dẫn đến sự củng cố mà còn dẫn đến sự hoàn thiện hành động

bằng các lĩnh vực các thủ thuật làm việc ngày càng có hiệu quả hơn.

Túm lại, thói quen là loại hành động tự động hoá ổn định trở thành nhu

cầu, nếp sống của con người. Thói quen được đánh giá về mặt đạo đức, nó gắn

liền với tình huống cụ thể bền vững ăn sâu vào nếp sống. Thói quen được hình

thành bằng nhiều con đường: rốn luyện, bắt chước…

1.2.2. Mối quan hệ qua lại giữa kĩ năng, kĩ xảo và thói quen



19



Với các quan điểm khác nhau về kĩ năng - kĩ xảo - thói quen mà các tác giả

đại diện nêu trên, họ cũng đó đề cập đến mối quan hệ giữa chúng.

1.2.2.1 Quan hệ giữa kĩ năng - kĩ xảo

Theo N.D.Levitov, kĩ năng là điều kiện hình thành nờn kĩ xảo, hay nói cách

khỏc kĩ xảo chính là kĩ năng đó được rèn luyện và hồn thiện thơng qua hoạt

động thực tiễn.

Theo X.I.Kixengov, sự hoàn thiện kĩ xảo ở mức độ nào đó có tầm quan

trọng hàng đầu trong việc hình thành kĩ năng. Song như vậy khơng có nghĩa là

kĩ năng được hình thành hồn tồn dựa Trên cơ sở các thao tác tự động hố,

mà nền tảng của nó phải là các “Thao tác có ý thức - kĩ xảo”. Việc hồn thiện kĩ

năng xảy ra khơng chỉ tuỳ thuộc vào mức độ tiếp thu các kĩ xảo và việc sử dụng

những kinh nghiệm hiểu biết, mà còn tuỳ thuộc vào tiếp thu các kĩ xảo và việc

sử dụng những kinh nghiệm khỏc nữa. X.I.Kixengov khẳng định kĩ năng khơng

phải là tổ hợp máy móc các kĩ xảo mà là một tổ hợp của vốn hiểu biết, vốn kinh

nghiệm và khả năng sỏng tạo của cá nhân. Việc hoàn thiện kĩ năng mới còn có

sự tồn tại của các thành phần tự động hoá, tức là các kĩ xảo hoạt động.

Theo quan điểm của V.V.Tsebaseva, kĩ xảo và kĩ năng có những đặc điểm

giống và khác nhau nhưng sự khác biệt ấy thường không mâu thuẫn nhau mà

lại bổ sung cho nhau. Những đặc điểm đó biểu hiện ở chỗ.

+ Nội dung các kĩ năng kĩ xảo là những quá trình Tâm lớ.

+ Các điều kiện hình thành kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là vai trò của việc

luyện tập ở các giai đoạn khác nhau.

+ Trình độ phát triển của kĩ xảo, chất lượng thực hiện những hành động

đó thụng thuộc.

+ Vai trò của tri thức trong quá trình lĩnh hội và vận dụng kĩ năng, kĩ xảo.



20



+ Cơ cấu tâm lí của kĩ năng, kĩ xảo. Vai trò của ý thức và tớnh chất của

các quá trình tư duy trong cơng việc hình thành và vận dụng các kĩ năng, kĩ

xảo.

+ Các chức năng khác nhau của kĩ năng, kĩ xảo trong hoạt động.

Như vậy, kĩ năng và kĩ xảo có mối liên hệ biện chứng với nhau, và theo một

trật tự nhất định. Những kĩ năng phức tạp dần trở thành kĩ xảo và ở mức độ

cao hơn, kĩ xảo trở thành thói quen.

1.2.2.2. Mối quan hệ giữa kĩ xảo và thói quen

Thói quen cũng như kĩ xảo đều là những hành động tự động hóa, đó là

loại hành động vốn lúc đầu là hành động có ý thức, có lớ trớ, nhưng do lặp đi

lặp lại nhiều lần hay do luyện tập mà về sau trở thành tự động, nghĩa là khơng

cần có sự kiểm soát trực tiếp của ý thức mà vẫn thực hiện có kết quả. Ở đây

khơng phải hồn tồn khơng có sự có mặt của ý thức mà ý thức chỉ hạn chế

đến mức độ tối thiểu trong phạm vi một số thành phần của hành động. Nhờ

vậy mà ý thức và nghị lực được tập trung vào những thành phần chủ yếu, quan

trọng của hành động.

Kĩ xảo và thói quen có sự hồ trộn những đặc điểm giống và khác nhau

được biểu hiện như sau:

+ Chúng giống nhau ở chỗ đều là hành động tự động hố, đều có cơ sở

sinh lí là những định hình động lực (hay còn gọi là động hình). Thói quen và kĩ

xảo là những hệ thống được củng cố tốt hay những phức hợp phản xạ có điều

kiện gắn liền với động hình ở vỏ bỏn cầu đại nóo.

+ Những đặc điểm khác nhau giữa kĩ xảo và thói quen cũng có sự phân

biệt rừ rệt. Sự phân biệt này khơng chỉ có ý nghĩa lớ luận mà còn có ý nghĩa

thực tiễn nhất là trong công tác giáo dục. Sự khỏc nhau này biểu hiện ở những

đặc điểm riêng cụ thể của chúng như sau:



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×