Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Họ sôi nổi và lạc quan lạ lùng.”

Họ sôi nổi và lạc quan lạ lùng.”

Tải bản đầy đủ - 0trang

chị em em”: gọi đối phương là chị và t xưng là em hoặc ngược lại, “mày mày tao

tao”: giữa hai người bình đẳng trong xưng hơ, có thể biểu thị quan hệ thân thiết,

cũng có thể biểu thị “khơng trên khơng dưới”, khơng nên làm.

Tóm lại, từ láy dạng AABB trong tiếng Việt ít hơn trong tiếng Trung.

3.4. So sánh từ láy dạng ABAB trong tiếng Việt và tiếng Trung

3.4.1. Những điểm tương đồng

3.4.1.1. Tương đồng về kết cấu

Trong cả tiếng Việt và tiếng Trung, từ gốc của từ láy dạng ABAB chủ yếu là

động từ hoặc tính từ song âm tiết dạng AB. Ví dụ:

Tiếng Việt



Tiếng Trung



Động từ

Cằn rằn - cẳn rẳn cằn rằn



享受 - 享受享受 (hưởng thụ)



Dùng dằng - dùng dằng dúng dắng



研究 - 研究研究 (nghiên cứu)



Tần ngần - tẩn ngẩn tần ngần



调查 - 调查调查 (điều tra)



Tính từ

Lử thử - lử thử lừ thừ



雪白 - 雪白雪白 (trắng như tuyết)



Cù mì - củ mỉ cù mì



热闹 - 热闹热闹 (náo nhiệt)



Vớ vẩn -vớ va vớ vẩn



鲜嫩 - 鲜嫩鲜嫩 (tươi mềm)



3.4.1.2. Tương đồng về ngữ nghĩa

Trong tiếng Việt, đặc điểm ngữ nghĩa của từ láy dạng ABAB là nhấn mạnh ý

nghĩa so với từ gốc, đây là điểm tương đồng với một số tính từ dạng ABAB trong

tiếng Trung (thường là tính từ dạng chính- phụ). Ví dụ: 雪白: trắng như tuyết, khi

nói 雪白雪白 sẽ nhấn mạnh mức độ trắng hơn, 乌黑:màu thâm đen, 乌黑乌黑:

nhấn mạnh mức độ đen hơn. Từ láy ABAB trong tiếng Việt đều mang sắc thái mạnh

hơn so với từ gốc. Ví dụ:

(63) Hắn đứng tần ngần hồi lâu mới bỏ đi.

(63)' Hắn đứng tẩn ngẩn tần ngần hồi lâu mới bỏ đi.

Tần ngần/ tẩn ngẩn tần ngần đều là đứng ngây ra, không chú ý xung quanh,

nhưng sắc thái của dạng ABAB mạnh hơn so với dạng AB.



71



(64) Hai đứa nó dùng dằng mãi khơng chịu dứt.

(64)' Hai đứa nó dủng dẳng dùng dằng mãi không chịu dứt.

“dùng dằng” và “dủng dẳng dùng dằng” đều miêu tả s lưỡng l , chưa quyết

định dứt khoát xem nên đi hay ở lại. So với câu trước, câu sau hình tượng hơn,

mang sắc thái mạnh hơn.

3.4.2. Những điểm khác biệt

3.4.2.1. Khác biệt về kết cấu

Thứ nhất, xét về kết cấu nội bộ, từ gốc của từ láy dạng ABAB trong tiếng

Trung dù là động từ hay tính từ thì chủ yếu đều là từ phức hợp. Khi là động từ, quan

hệ giữa A và B là liệt kê (ví dụ: 检查检查 , 琢磨琢磨 , 欣赏欣赏 , 开导开导 ),

động tân (ví dụ: 关心关心 , 动员动员 ) và động bổ (ví dụ 改进改进 , 调动调动 ),

trong đó dạng liệt kê là nhiều nhất. Khi là tính từ, giữa A và B chủ yếu là quan hệ

liệt kê (Ví dụ: 热闹热闹, 轻松轻松, 干净干净) và quan hệ chính-phụ (碧蓝碧蓝,



鲜嫩鲜嫩 , 笔直笔直 ). Còn trong tiếng Việt, từ láy ABAB được hình thành từ từ

hiệp vần song âm tiết (tức là hai âm tiết có vần giống nhau): hoặc là từ hiệp vần

song âm tiết hình thành nên từ láy ABAB (ví dụ tẩn ngẩn tần ngần (呆呆愣愣), tẩn

mẩn tần mần ( 婆婆妈妈 ), cẳn nhẳn cằn nhằn ( 唠唠叨叨 ), hoặc là hai từ hiệp vần

có ý nghĩa giống nhau hoặc gần nghĩa, ngữ âm tương t nhau, ví dụ: lử đử lừ đừ (无



精打采), bắng nhắng bặng nhặng (爱表现,让人讨厌), loáng choáng loạng choạng

( 踉踉跄跄 ). Đây là một phương thức cấu tạo từ khơng có trong tiếng Trung. Với

hạn chế này, số lượng từ dạng ABAB trong tiếng Việt rất ít.

Thứ hai, giữa kết cấu dạng ABAB trong tiếng Trung có thể thêm thành phần

khác, ví dụ: 打听了又打听 , 打量了又打量 , 修改了又修改 , 思考来思考去 ,

trong tiếng Việt thì khơng thể chèn thêm thành phần khác.

3.4.2.2. Khác biệt về ngữ âm

Trong tiếng Việt phải tuân theo một quy luật kết hợp thanh điệu nhất định,

thường là “hỏi hỏi-huyền huyền” hoặc “sắc sắc-nặng nặng”, vì vậy hoặc sau khi láy

phải biến thanh điệu hoặc thanh điệu của hai từ được ghép vào để tạo nên từ láy



72



phải có thanh điệu phù hợp với quy luật. Còn trong tiếng Trung, từ láy dạng ABAB

khơng có s thay đổi về ngữ âm,ví dụ:

Tiếng Việt:

Dạng trùng điệp: từ gốc là thanh huyền thì đặt đằng sau, nếu là thanh hỏi thì

đặt đằng trước.

Bùng nhùng







bủng nhủng bùng nhùng



Tần ngần







tẩn ngẩn tần ngần



Lỉnh kỉnh







lỉnh kỉnh lình kình



Dạng ghép: thanh sắc và thanh hỏi đặt trước, thanh nặng và thanh huyền đặt

sau.

Loáng choáng+loạng choạng







loáng choáng loạng choạng



Bắng nhắng+bặng nhặng







bắng nhắng bặng nhặng



Lử đử+ lừ đừ







lử đử lừ đừ



Tiếng Trung:



溜达 liūda (trôi dạt)







溜达溜达 liūda liūda



开心 kāi xīn (vui vẻ)







开心开心 kāi xīnkāi xīn



黝黑 yǒuhēi (tối mù)







黝黑黝黑 yǒuhēi yǒuhēi



笔直 bǐzhí (thẳng tắp)







笔直笔直 bǐzhí bǐzhí



3.4.2.3. Khác biệt về ngữ nghĩa

Thứ nhất, trong tiếng Trung từ láy dạng ABAB thường là động từ (trừ tính từ

láy dạng chính-phụ), tính từ song âm tiết liên quan đến tâm lý tình cảm thường láy

dạng AABB, nếu láy dạng ABAB thường mang ý “sử động”, tức là động tính từ. Ví

dụ: “ 凉快凉快 ”: (bằng cách nào đó) làm cho (cơ thể) cảm thấy mát mẻ, “ 痛快痛



快 ”: làm (tâm trạng) cảm thấy vui sướng (bằng cách nào đó). Còn trong tiếng Việt,

nếu từ gốc là tính từ thì dạng láy của nó cũng là tính từ, từ gốc là động từ thì dạng

láy của nó cũng là động từ. Ví dụ “lải nhải lài nhài” ( 唠唠叨叨 ) và “bổi hổi bồi

bồi” ( 忐忑不安 ) đều là động từ, ví dụ: “lử đử lừ đừ” ( 无精打采 ) và “tẩm ngẩm

tầm ngầm” (深沉难测) đều là tính từ.



73



Thứ hai, trong tiếng Trung, động từ láy dạng ABAB chủ yếu mang ý nghĩa thử

nghiệm hoặc động tác được th c hiện dễ dàng, tùy tiện, nhàn nhã. Vì vậy có thể

được dùng để biểu đạt ngữ khí uyển chuyển, có sắc thái lễ phép. Ví dụ:

- Mang nghĩa “thử nghiệm”:

(65) 这份稿件你先翻译翻译,不行我们再想其他办法。

(Bản thảo này em thử dịch trước, khơng được thì chúng ta nghĩ cách khác vậy.)

- Mang nghĩa “hành động thoải mái, khơng gò bó”:

(66) 会议已经开完,这几天他看看电影,买买东西,收拾收拾行李,就等



着回家了。(刘月华《实用现代汉语语法》,1996)

(Hội nghị đã kết thúc, mấy ngày này anh xem tivi, mua chút đồ, thu dọn hành

lý rồi đợi về nhà thơi. )

- Ngữ khí uyển chuyển, lễ phép, khơng ép buộc:

(67) 这件事的轻重缓急你自己再掂量掂量。

(Sự quan trọng của việc này anh về cân nhắc lại nhé.)

Tóm lại, động từ dạng ABAB trong tiếng Trung và tiếng Việt có s khác biệt

lớn về ngữ nghĩa, thường khơng có cách biểu đạt tương ứng .

3.5. Đặc trưng tư duy, văn hóa thể hiện qua từ láy

GS. TS. Nguyễn Đức Tồn cho rằng: “Ngôn ngữ và văn hóa, ngơn ngữ dân tộc

và văn hóa dân tộc có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Chúng phát triển trong

s tác động qua lại lẫn nhau. Tuy quyết định s tồn tại của nền văn hóa bằng ngôn

ngữ, nhưng ngôn ngữ lại cũng là thành tố độc lập của nền văn hóa dân tộc. Khơng

những thế, ngơn ngữ còn là phương tiện tất yếu và điều kiện cho những thành tố

khác trong văn hóa này sinh, phát triển và hoạt động. Chính trong ngơn ngữ, đặc

điểm của một nên văn hóa dân tộc được lưu giữ lại rõ nhất".

Thơng qua các cơng trình nghiên cứu của những người đi trước và từ những so

sánh đối chiếu về từ láy như phần trên, chúng ta có thể nhìn ra các đặc trưng văn

hóa và tư duy dân tộc ẩn chứa trong ngữ nghĩa của các từ láy, thấy được s giống và

khác nhau về tư duy văn hóa dân tộc giữa hai ngơn ngữ.



74



Từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung là một loại từ cố định, nó thường được

sử dụng trong câu với tư cách là một bộ phận cấu thành câu, và chức năng của nó ở

trong câu khá rõ ràng và có các tiêu chí để khu biệt với các loại từ khác. Từ láy

thường tuân theo những quy luật nhất định, như kết hợp thanh điệu, quy luật biến

âm để th c hiện mục đích của nó. Ví dụ, lặp động từ chỉ tâm lý để làm giảm mức độ

của động từ, hay việc lặp tính từ đơn âm tiết sẽ làm giảm mức độ của tính từ đó, tuy

nhiên trong những tình huống đặc biệt còn có thể làm tăng mức độ lên, hoặc khi

muốn hình dung điều gì đó đến c c độ,người Việt Nam sẽ dùng tính từ láy 3 âm tiết,

người Trung dùng từ láy động từ để diễn đạt ngữ khí lịch thiệp khéo léo, mang tính

chất lịch s v.v. Như vậy, từ láy phản chiếu đặc điểm văn hóa - dân tộc của tư duy

ngơn ngữ ở người Việt và người Trung, đó chính là tính linh hoạt mềm dẻo trong tư

duy, luôn biết cách thay đổi để phù hợp với từng hồn cảnh cụ thể, ln có khả năng

tiếp thu những cái hay cái đẹp của các dân tộc khác để tạo ra cái của riêng mình với

một tinh thần sáng tạo.

Ngồi ra, việc sử dụng từ láy còn thể hiện tư duy hình tượng, tư duy liên hợp,

cảm giác, hành động- tr c quan của người Việt và người Trung. S xuất hiện láy

làm cho ngữ nghĩa càng cụ thể, sinh động và hình tượng, vì thế có khả năng miêu tả

và gợi tả rất mạnh, ví dụ: khi nói đến “xanh mơn mởn” người ta sẽ liên tưởng ngay

tới hình ảnh cây lá non mượt và tươi tốt đầy sức sống; hay 红灿灿“ miêu tả ánh

hồng hơn mặt trời đỏ r c, ánh sáng chói lọi v.v.

Những đặc điểm tương đồng của từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung thể hiện

s giống nhau về đặc trưng văn hóa - dân tộc của tư duy ở người Việt và người

Trung.

Tuy nhiên, định nghĩa của từ láy trong tiếng Việt và tiếng Trung có s khác

biệt, trong khi “những từ lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh

điệu giữ nguyên hay biến đổi theo qui tắc biến thanh, là những từ đa tiết mà giữa

các âm tiết có quan hệ ngữ âm” trong tiếng Việt được gọi là “từ láy”. Thì trong

tiếng Trung,đối ứng với từ láy tiếng Việt lại được phân làm một số loại với các tên

gọi riêng, như 重叠词, 叠音词,连绵词 v.v. Ngoài ra như chương 3 đã chỉ ra một



75



số điểm khác nhau giữa từ láy tiếng



Việt và tiếng Trung, những điệu đó cũng thể



hiện tư duy và văn hóa của người Việt với người Trung vẫn tồn tại s khác biệt nhất

định.

Tiểu kết

Về mặt kết cấu, tiếng Việt và tiếng Trung đều chia làm từ láy hoàn toàn và từ

láy bộ phận, từ láy đều gồm có dạng AA, ABB, AABB và ABAB. Về mặt ngữ âm,

từ láy tiếng Trung và tiếng Việt đều phải tuân theo những quy luật ngữ âm nhất định.

Về mặt ngữ nghĩa, điểm giống nhau lớn nhất giữa từ láy trong tiếng Việt và tiếng

Trung đó là mang sắc thái tình cảm rõ nét, khiến s vật, trạng thái được miêu tả

càng sinh động, giàu tính hình tượng và chuẩn xác. Đương nhiên ngồi những điểm

tương đồng trên cũng có nhiều điểm khác biệt, như khác biệt về cách láy, khác biệt

về đặc điểm ngữ âm, ý nghĩa cũng không giống. Nguyên nhân là do đối với từ láy

tiếng Việt, ngữ âm và ngữ nghĩa, kết cấu có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng với

từ láy trong tiếng Trung, quy tắc về ngữ âm lại không quá chặt chẽ, ngữ nghĩa

khơng bị thay đổi vì ngữ âm. Chương này thơng qua so sánh đã chỉ ra s giống và

khác nhau về kết cấu, ngữ âm, ngữ nghĩa của các hình thức từ láy trong tiếng Việt

và tiếng Trung. Còn vấn đề trọng âm, do giới học thuật Việt Nam từ trước tới này

không chú trọng nghiên cứu, hơn nữa quan điểm cũng không đồng nhất nên chúng

tôi không tiến hành so sánh.

Những điểm giống nhau giữa từ láy tiếng Việt và tiếng Trung sẽ giúp cho việc

dạy và học trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn. Ngược lại, những điểm khác biệt sẽ trở

thành rào cản nhất định đối với công tác dạy và học. Thông qua bài luận văn này,

chúng tôi đưa ra một số kiến nghị như sau:

Khi giảng dạy từ láy Tiếng Việt cho người Trung và từ láy tiếng Trung cho

người Việt, giáo viên cần nắm được các kiến thức cơ bản như: loại hình, đặc điểm

về kết cấu, ngữ nghĩa, ngữ âm và những kiến thức liên quan đến vận dụng từ láy.

Trong quá trình dạy học cần giúp người học nhận biết chính xác các hiện tượng từ

láy, tạo điều kiện và môi trường cho người học luyện tập, vận dụng từ láy vào đúng

ngữ cảnh để có thể phát huy được hết tác dụng của nó. Ngồi ra cần phân tích, chỉ



76



rõ những điểm giống và khác nhau giữa từ láy tiếng Việt và tiếng Trung, để người

học tránh nhầm lẫn khi sử dụng.

Ở đây chúng tơi chỉ nêu một vài ví dụ cơ bản, những điểm giống và khác nhau

cụ thể giữa từ láy tiếng Việt và tiếng Trung đã được thể hiện khá đầy đủ ở phần trên.



77



KẾT LUẬN

Luận văn này là nghiên cứu bằng tiếng Việt đầu tiên về so sánh từ láy thường

dùng trong tiếng Việt và tiếng Trung. Có thể nói, luận văn đã phân tích và so sánh

khá toàn diện đặc điểm của từ láy trong hai ngôn ngữ Việt- Trung và đạt được yêu

cầu “ dễ hiểu” và “dễ đọc”. Việc nghiên cứu từ láy của hai ngơn ngữ dưới góc độ so

sánh có thể phát triển khả năng vận dụng từ láy và đạt mục đích phục vụ cho việc

dạy và học.

Những kết quả nghiên cứu đạt được cụ thể như sau:

1. Đưa ra các định nghĩa, các tiêu chí nhận diện đặc điểm của từ láy tiếng Việt

và tiếng Trung, đồng thời phân biệt từ láy tiếng Việt với những loại từ khác thường

xuyên bị nhầm lẫn, phân biệt phương thức láy với phương thức lặp .

2. Giới thiệu hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Trung, nêu rõ các đặc

điểm từ láy trong từng ngôn ngữ.

3. Chỉ ra những điểm giống và khác nhau cụ thể trên phương diện kết cấu, ngữ

âm và ngữ nghĩa trong từ láy của hai ngôn ngữ này.

4. Từ những điểm giống và khác nhau ấy, chúng tơi nêu ra các đặc trưng văn

hóa và tư duy dân tộc ẩn chứa trong ngữ nghĩa của từ láy để thấy được s giống và

khác nhau về tư duy văn hóa dân tộc giữa hai ngơn ngữ Việt - Trung.

5. Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc dạy và học từ láy tiếng Việt và tiếng

Trung để tránh nhầm lẫn khi sử dụng, nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập, đồng

thời phát triển tư duy sử dụng từ láy của người học.

Đương nhiên, nghiên cứu cả một hệ thống ngôn ngữ là điều không hề dễ dàng,

luận văn này chưa phải là hoàn thiện nhất, nghiên cứu vẫn chưa đủ sâu sắc. Hơn

nữa, luận văn được hồn thành trong thời gian ngắn và trình độ chun ngành của

người viết còn hạn chế, vì vậy khơng thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Sau

này, nếu có điều kiện tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao hơn chúng tôi sẽ nghiên cứu mở

rộng và đi sâu hơn nữa về đề tài này. Hy vọng những điểm còn thiếu sót sẽ được các

vị học giả, q thầy cơ giáo và các bạn chỉ bảo, góp ý kiến để bài luận văn được

hồn thiện hơn.

Chúng tơi chân thành cảm ơn!



78



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt:

1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục.

2. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên

nghiệp.

3. Nguyễn Tài Cẩn (2003), Ngữ pháp tiếng Việt [M], NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Đỗ Hữu Châu (1999), Đơn vị từ v ng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục.

5. Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam,

NXB Thanh Tân.

6. Mai Ngọc Chừ (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt[H], NXB Giáo dục.

7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và

tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội.

8. Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Thoa, Đỗ Việt Hùng,...( 2007), Nhập

môn ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Hà Nội.

9. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ v ng học tiếng Việt, NXB Giáo dục.

10. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội.

11. Hoàng Văn Hành (chủ biên) ( 1995), Từ điển từ láy tiếng Việt, NXB Giáo dục.

12. Hoàng Văn Hành (2008), Từ láy trong tiếng Việt[M]. NXB Khoa học xã hội.

13. Trịnh Đức Hiển (2006), Những vấn đề ngôn ngữ học [M], NXB Đại học quốc gia

Hà Nội, tr.306.

14. Lê Trung Hoa (2002),Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ và tiếng Việt văn học,

NXB khoa học xã hội.

15. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo của từ tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội.

16. Lê Văn Lý (1972), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm học liệu, Bộ giáo dục.

17. Hà Quang Năng (2003), Dạy và học từ láy ở trường phổ thơng, NXB Giáo dục.

18. Hồng Phê (1996), Từ điển vần, NXB Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học.

19. Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.

20. Nguyễn Hữu Quỳnh (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa.

21. Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục.

22. Hoàng Tuệ (1978), Về những từ gọi là từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa Học Xã

hội.



79



23. Nguyễn Đức Tồn (2015), đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy,NXB

Khoa Học Xã hội.

24. Nguyễn Như Ý (1996), Từ điển giải thích thuận ngữ ngơn ngữ học, NXB giáo dục.



Tài liệu tiếng Trung:

[1] 常敬宇.《论动词的叠用》[A]. 杭州:杭州大学出版社, 1996.

[2] 范方莲.《试论所谓“动词重叠”》[J]. 中国语文, 1964.

[3] 房玉清.《实用汉语语法》[M]. 北京:北京语言学院出版社,1992.

[4] 李人鉴.《关于动词重叠》. 中国语文, 1964.

[5] 李宇明.《语法研究录》. 商务印书馆, 2002.

[6] 李宇明.《论词语重叠的意义》[J]. 世界汉语教学,1996 .

[7] 刘丹青.《原生重叠和次生重叠:重叠式历时来源的多样性》[J]. 方言, 2012.

[8] 刘丹青.《实词的拟声化重叠及其相关构式》[J]. 中国语文,2009

[9] 刘月华.《动词重叠的表达功能及可重叠动词的范围》[J]. 中国语文,1983.

[10] 刘月华 .《 动量词“下”与动词重叠比较》. 汉语学习, 1984.

[11] 吕叔湘.《吕叔湘文集》, 第二卷. 商务印书馆, 1990.

[12] 吕叔湘主编.《现代汉语八百词(增订本)》. 商务印书馆, 1999.

[13] 邵敬敏.《现代汉语通论(第二版)》. 上海教育出版社, 2007.

[14] 石锓.《汉语形容词重叠研究概述》. 武汉理工大学学报(社会科学版), 2005.

[15] 石锓、江蓝生.《汉语形容词重叠形式的历史发展》[J]. 语言文字应用, 2004.

[16] 孙景涛.《古汉语重叠构词法研究》. 上海教育出版社, 2008.

[17] 张拱贵.《 汉语叠音词词典》[Z]. 南京大学出版社, 1997.

[18] 张静.《论汉语动词的重叠形式》[J]. 郑州大学学报,1979.

[19] 赵元任.《汉语口语语法》. 商务印书馆, 1979.

[20] 朱德熙.《现代汉语形容词研究》. 商务印书馆, 1979.

[21] 朱德熙.《形容词重叠式的感情色彩》. 商务印书馆, 1979.

[23] 朱德熙.《语法讲义》. 商务印书馆, 1982.



80



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Họ sôi nổi và lạc quan lạ lùng.”

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×