Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp

Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp

Tải bản đầy đủ - 0trang

137



nôn gặp ở một vài BN, xong đều tự hết trong khoảng thời gian 1 đến 2 giờ sau

can thiệp, có một vài thay đổi lâm sàng tại chỗ nhẹ như: Đau và nề, đỏ tại vết

tiêm, xong các triệu chứng tự hết sau vài ba ngày điều trị. Các chỉ số xét nghiệm

sinh hóa máu, tất cả các BN trước và sau điều trị đều nằm trong giới hạn bình

thường. Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cũng được khẳng định ở các nghiên

cứu trong và ngoài nước trước đó.

Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chương và cs. (2013), tiến hành tiêm cạnh rễ

CSC cho 30 BN và tiêm khoang NMC cho 40 BN TVĐĐ CSC, cả 2 phương pháp

đều khơng gặp tai biến, biến chứng gì nghiêm trọng [1].

Trần Thị Ngọc Trường (2015), tiêm NMC CSC dưới màn huỳnh quang cho

40 BN TVĐĐ CSC, không gặp bất kỳ tai biến, biến chứng nào [77].

Jorgensen S.H. và cs., (2015), tiêm steroid khoang NMC trong điều trị

TVĐĐ CSC ở 33 BN, số lượng tiêm trung bình là 1,7 lần. Kết quả cho thấy có sự

cải thiện đáng kể về cường độ đau và chức năng CSC, khơng có tác dụng phụ

nghiêm trọng nào được ghi nhận [103].

Bàn về những tai biến, biến chứng cũng như tác dụng không mong muốn

liên quan tới thuốc có trong kỹ thuật, y văn Thế giới đã ghi nhận những tác

dụng đó ở cả mức độ nhẹ và nghiêm trọng:

El-Yahchouchi C.A. (2016), nghiên cứu trên 14,960 BN trong đó có 1,412

BN tiêm NMC qua liên bản sống và 13,548 BN tiêm NMC qua lỗ liên hợp, đã ghi

nhận những triệu chứng như đau tăng (2,2%), tác dụng phụ của steroid (2,7%),

phản ứng dị ứng (<0,1%), rò rỉ dịch não tủy/đau cột sống (<0,1%) và biến chứng

đái tháo đường (<0,1%) ở CSTL cùng. Tương tự ở CSC, các phản ứng phụ xuất

hiện muộn là tăng cảm đau (2,0%), tác dụng trên hệ thần kinh trung ương của

steroid (1,7%) và phản ứng dị ứng (0,1%). Khi sử dụng các định nghĩa rộng hơn



138



về các phản ứng phụ xuất hiện sau can thiệp, các tác giả cũng thấy đau nhức tại

chỗ tiêm (3,9%), nhức đầu thoáng qua (3.8%), sưng phồng do tiêm (0,9%), sốt

(0,9%), buồn nôn (0,7%), phát ban (0,6%), chèn ép tại chỗ tiêm (0,5%), cảm giác

yếu mỏi (0,4%), chuột rút (0,3%), tê (0,3%), nấc (0,3%), mệt mỏi (0.2%), và các

phản ứng phụ nhỏ khác có tỷ lệ thấp hơn, hai tác dụng phụ muộn thường gặp

nhất là tăng cảm đau (2,2%) và tác dụng phụ của steroid (2,7%) [104].

Tiêm steroid khoang NMC là một phương pháp phổ biến. Tìm hiểu y văn

trên Thế giới cũng như ở Việt Nam về những tai biến, biến chứng của kỹ thuật

tiêm khoang NMC CSC bằng corticoid trên thư viện Pubmed, kho dữ liệu

Scopus thấy rằng những biến chứng có thể gặp đó là áp xe khoang NMC, tổn

thương tủy sống [67], [105], tụ máu NMC [99], liệt tứ chi [106], [107], [108],

nhồi máu tủy sống [99], [109], thậm chí tử vong [110], [111], [112]. Mặc dù đây

là những biến chứng nghiêm trọng nhưng các tác giả đều thấy rằng tỉ lệ này là

rất nhỏ. Trên y văn Thế giới khi đề cập tới các biến chứng này đều chỉ được

thông báo dưới hình thức một trường hợp, hoặc một ca lâm sàng.

Zhang J.H. và cs. (2015), đã báo cáo một trường hợp áp xe NMC sau tiêm

NMC. Đó là một phụ nữ 65 tuổi chẩn đoán là TVĐĐ CSC và được tiêm hỗn hợp

thuốc vào khoang NMC: 5ml lidocaine 2%, dexamethasone10mg, vitamin

B1100mg, vitamin B6100mg, mecobalamine1mg, và nước muối 0,9% dung tích

2ml, tổng lượng 12ml. Kỹ thuật được thực hiện an toàn và BN được tiêm lần

thứ hai với cùng thuốc như lần thứ nhất. Sau đó BN bắt đầu phàn nàn về sự

đau nhức cơ thể, yếu cơ nhẹ, nhức đầu và có sốt. Chẩn đốn viêm NMC từ C 6

đến D8 và hình thành ổ áp xe được xác định. Sau hơn một tháng điều trị bằng

thuốc chống viêm, kháng sinh, áp xe NMC đã được hấp thu hoàn tồn và BN đã

được ra viện khơng để lại bất cứ di chứng nào [113].



139



Một trường hợp khác, Huang R.C. và cs. (2004), đã báo cáo: BN là một

thợ điện 51 tuổi, chẩn đốn TVĐĐ ở vị trí C 4-C5. BN được tiêm khoang NMC CSC

một lần. Trong tuần BN đã cải thiện những triệu chứng một cách đáng kể, tuy

nhiên bảy ngày sau khi tiêm, BN bắt đầu có chứng đau cổ và cảm giác ớn lạnh.

Khoảng 15 ngày sau khi tiêm, BN đau dai dẳng với số lượng bạch cầu tăng lên.

Kháng sinh cephalexin được uống trong 10 ngày, ngày thứ 6 của đợt điều trị

kháng sinh, BN bị đau cánh tay, mất ngủ và yếu cơ. Ngày thứ 22 BN thấy các

triệu chứng nặng lên và chụp CHT CSC phát hiện một áp xe khoang NMC kéo dài

từ C4 đến C6. BN được phẫu thuật mở ống sống C 4 đến C6. Sau phẫu thuật, sức

cơ cánh tay trái hồi phục lên 4/5 vào ngày thứ bảy, vết thương lành lại mà

khơng có biến chứng, BN đã được ra viện sau 10 ngày sử dụng kháng sinh. Sau

7 tháng theo dõi, BN đã hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh [114].

Các tác giả trên đều cho rằng tiêm khoang NMC có thể gây biến chứng áp

xe NMC, tổn thương thần kinh nặng nề có thể xảy ra và dẫn đến tử vong nếu

không được can thiệp kịp thời. Do đó cần chẩn đốn và điều trị kịp thời, các

triệu chứng và dấu hiệu kinh điển là đau cổ - lưng, sốt và các triệu chứng thần

kinh khu trú. Các marker viêm, chụp CHT có thể cung cấp một chẩn đoán xác

định, đặc biệt là CHT tăng tương phản có độ nhạy cao, nhưng việc giải thích các

ảnh CHT thu được sau khi tiêm NMC có thể gây nhầm lẫn.

Trong nghiên cứu của Kim M.S. và cs. (2017) cho thấy: Tỷ lệ thay đổi bất

thường của CHT khoảng 24 giờ, và 2 và 3 ngày sau tiêm khoang NMC là 54%,

31% và 25%. Các phát hiện CHT bất thường bao gồm khơng khí và dịch khoang

NMC, đường chọc kim và thay đổi mơ mềm. Khơng khí trong khoang NMC là

phát hiện bất thường phổ biến nhất (82%) và đã được ghi nhận ở 41% BN chụp

CHT trong vòng 03 ngày sau tiêm khoang NMC. Khơng có kết quả CHT bất

thường quan sát thấy trong các hình ảnh chụp được ở ngày thứ 04 sau khi tiêm



140



hoặc sau đó, những thay đổi trong hình ảnh CHT thu được sau tiêm NMC có thể

dẫn đến sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai các phát hiện trên CHT. Dựa trên kết quả

nghiên cứu, những phát hiện bất thường về hình ảnh CHT do ảnh hưởng sau

tiêm khoang NMC được loại trừ từ ngày chụp thứ 04 sau mũi tiêm NMC [115].

Nguyên nhân gây ra áp xe khoang NMC có thể là do không tuân thủ tuyệt

đối kỹ thuật hoặc lượng thuốc đưa vào khoang NMC bị nhiễm khuẩn. Sự bùng

phát nhiễm nấm do tiêm methylprednisolone acetat không được bảo quản, ở

Hoa Kỳ đã được xác định vào 2012, có 17.675 lọ methylprednisolone acetat bị

nhiễm khuẩn, phân bố cho 76 cơ sở ở 23 bang, dẫn đến 13.534 BN có nguy cơ,

có 751 BN bị ảnh hưởng: 31% bị viêm màng não, 43% bị bệnh tủy sống, 20% bị

viêm màng não cùng với bệnh tủy sống/nhiễm trùng tủy sống và 1% bị đột quỵ

cũng như có thể là do viêm màng não [116].

Một biến chứng liên quan tới kỹ thuật được báo cáo bởi Kerezoudis P. và

cs., (2017). Tác giả nghiên cứu tác động của tiêm khoang NMC đến loãng xương

và gãy xương cột sống với số liệu tổng hợp từ nhiều nghiên cứu. Trong tổng số

7.223 BN (8 nghiên cứu) tuổi trung bình dao động từ 49 đến 74 tuổi và theo dõi

trung bình từ 6 đến 60 tháng. Tác giả cho thấy tiêm khoang NMC có liên quan

đến việc giảm mật độ xương và tăng nguy cơ gãy xương cột sống [117].

Nghiên cứu của chúng tơi chưa có điều kiện để đánh giá biến chứng này,

đây cũng là một vấn đề cần được đánh giá kĩ hơn ở các nghiên cứu tiếp theo.

Tóm lược: Tiêm khoang NMC CSC là một phương pháp an tồn, những

tai biến, biến chứng có thể xảy ra nhưng với một tỉ lệ rất thấp. Để giảm thiểu

khả năng xảy ra biến chứng, có thể áp dụng nhiều chiến lược phòng ngừa bao

gồm:

Xác định các chỉ dẫn thích hợp và sự cần thiết về mặt y tế dựa trên hiểu

rõ giải phẫu, sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh, thực hiện với chọn lựa kỹ



141



thuật và thuốc an tồn, theo dõi thích hợp. Khi xảy ra biến chứng, chẩn đoán và

điều trị kịp thời sẽ cho hiệu quả lâm sàng tốt.



142



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 2 nhóm bệnh nhân thốt vị đĩa đệm cột sống cổ, với 82

bệnh nhân được điều trị bằng 2 phương pháp tiêm khoang ngoài màng cứng và

tiêm cạnh rễ cột sống cổ, chúng tôi rút ra một số kết luận:

1. Lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ

* Lâm sàng

+ Tuổi trung bình của hai nhóm bệnh nhân nghiên cứu là (54,16 ± 11,00).

+ Lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống cổ rất đa dạng, phong phú, gồm

nhiều hội chứng, các hội chứng có thể xuất hiện đồng thời, đan xen nhau, hoặc

kế tiếp nhau, những vẫn có một hội chứng chiếm ưu thế, cụ thể:

Hội chứng cột sống cổ thấy ở 100% số bệnh nhân, hội chứng chèn ép rễ

thần kinh cổ có tỷ lệ cao 90,2%, hội chứng rễ - tủy kết hợp có tỷ lệ thấp là

12,2%.

* Hình ảnh cộng hưởng từ

+ Vị trí thốt vị: Thốt vị tại vị trí C5 - C6, có tỷ lệ cao nhất, thốt vị tại vị trí

C6 - C7 có tỷ lệ 15,6%.

+ Số tầng thốt vị: Có thể gặp thốt vị một tầng hoặc nhiều tầng, trong

đó: Thốt vị đĩa đệm một tầng hay gặp có tỷ lệ 42,7%, hiếm gặp thoát vị đĩa

đệm bốn tầng.

+ Thể thoát vị: Thoát vị cạnh trung tâm lệch bên hay gặp nhất, khơng gặp

thốt vị vào lỗ ghép và thốt vị Schmorl.



143



+ Mức độ hẹp ống sống: Phần lớn bệnh nhân thốt vị đĩa đệm cột sống

cổ đều có hẹp ống sống cổ, cụ thể: Hẹp nhẹ có tỷ lệ 67,1%, hẹp nặng có tỷ lệ

28%.

+ Độ chèn ép thần kinh: Gặp chủ yếu chèn ép ở mức độ I có tỷ lệ 69,5%.

độ II có tỷ lệ là 28,1%. Khơng gặp chèn ép mức độ III và độ IV.

2. Hiệu quả điều trị

Tất cả các bệnh nhân cả hai nhóm đều cải thiện sau liệu trình điều trị, tuy

nhiên nhóm tiêm khoang ngồi màng cứng có hiệu quả điều trị tốt hơn hẳn

nhóm tiêm cạnh rễ, với p<0,001. Cụ thể:

* Lâm sàng

+ Nhóm tiêm cạnh rễ thần kinh cổ

Bệnh nhân đạt kết quả mức độ rất tốt (giảm ≥75% triệu chứng) là 5%, kết

quả mức độ tốt (giảm ≥50% triệu chứng) là 62,5%, số bệnh nhân đạt mục đích

điều trị là 67,5%.

+ Nhóm tiêm khoang ngồi màng cứng cột sống cổ

Bệnh nhân đạt kết quả mức độ rất tốt (giảm ≥75% triệu chứng) là 66,7%,

đạt kết quả mức độ tốt (giảm ≥50% triệu chứng) là 30,9%, số bệnh nhân đạt

mục đích diều trị là 96,7%.

* Hình ảnh cộng hưởng từ

+ Phương pháp tiêm khoang ngoài màng cứng, làm giảm mức độ chèn ép

các chỉ số trên hình ảnh cộng hưởng từ nhiều hơn và có hệ số thuyên giảm cao

hơn phương pháp tiêm cạnh rễ, với p<0,05.

+ Kỹ thuật an tồn, trong q trình thực hiện khơng gặp bất kỳ tai biến,

biến chứng nặng nề nào.



144



KIẾN NGHỊ

Chỉ nên ứng dụng phương pháp tiêm khoang ngồi màng cứng để điều

trị thốt vị đĩa đệm cột sống cổ, ở những bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị kỹ

thuật và bác sĩ chun khoa thần kinh có kinh nghiệm.



DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH CƠNG BỐ KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Đinh Huy Cương, Nguyễn Văn Chương, Nhữ Đình Sơn (2017). Đặc điểm lâm

sàng ở bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Tạp chí Y Dược học quân sự,

(6):74-78.

2. Đinh Huy Cương, Nguyễn Văn Chương, Nhữ Đình Sơn (2017). Evaluating the

Effectiveness of cervical epidural Methylprednisolon acetat injection in treating

cervical disc displacement. Tạp chí Y Dược học quân sự, (7):112-120.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Đăng Thứ (2013). Bước

đầu đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tiêm ngoài màng cứng cột sống cổ

bằng Steroid trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Tạp chí Y học Việt

Nam, (2): 105-111.



2.



Monireh D., Tahereh N., Ebrahim E.A. (2016). The Relationship between

Lifestyle and Pain in Patientswith Spinal Disc Herniation. Ambient Science,

03(Sp1): 80-81.



3.



Choi A.R., Shin J.S., Lee J., et al. (2017). Current practice and usual care of

major cervical disorders in Korea: A cross-sectional study of Korean health

insurance review and assessment service national patient sample data.

Medicine, 96(46): e8751.



4.



Wong J.J., Côté P., Quesnele J., et al. (2014). The course and prognostic

factors of symptomatic cervical disc herniation with radiculopathy: a

systematic review of the literature. Spine Journal, 14(8): 1781-1789.



5.



Bùi Quang Tuyển (2010). Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống. Nhà xuất

bản Y học, Hà Nội, 81-110.



6.



Nguyễn Thị Tâm (2002). Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ

trong thốt vị đĩa đệm cột sống cổ. Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện Quân y.



7.



Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Thị Hòa (2013). Đánh giá hiệu quả điều trị

TVĐĐCSTL của phác đồ tiêm ngoài màng cứng methylprednisolon kết hợp

với uống Cyclophosphorine A. Tạp chí thần kinh học, 4 + 5, 26-35.



8.



Nguyễn Văn Chương (2016). Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Trong:

Thần kinh học toàn tập, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 527-535.



9.



Benditz A., Brunner M., Zeman F., et al. (2017). Effectiveness of a

multimodal pain management concept for patients with cervical

radiculopathy with focus on cervical epidural injections. Scientific Reports

7(1): 7866.



10. Manchikanti L. (2014), Epidural Steroid injections safety recommendations

by the multi- Society pain Workgroup (MPW): More regulations without

evidence or clarification. Pain Physician. 17(5): 575-588.

11. Trần Ngọc Anh (2015). Giải phẫu đại cương ngực - bụng. Bộ môn giải

phẫu, Học viên Quân y, 68-73.

12. Trịnh Văn Minh (2013). Giải phẫu người. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,1733.

13. Frank H.N. (2010). Atlas giải phẫu người - Nguyễn Quang Quyền dịch. Nhà

xuất bản Y học, 17-22.

14. Nguyễn Văn Chương (2011). Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Trong:

Thực hành lâm sàng thân kinh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tập III 326344.

15. Moore K.L., Dalley A.F. (2014). Joints of the Vertebral Column. Clinical

Oriented Anatomy, 450-460.

16. Audette I., Dumas J.P., Côté J.N., et al. (2010). Validity and Between-Day

Reliability of the Cervical Range of Motion (CROM) Device. Journal of

Orthopaedic & Sports Physical Therapy,40(5): 318-323.

17. Nguyễn Văn Chương (2010). Bệnh lý cột sống cổ và đau đầu. Trong: Chẩn

đoán và điều trị các chứng bệnh đau đầu thường gặp, Nhà xuất bản Y học,

Hà Nội, 185-190.

18. Phan Việt Nga (2016). Tổn thương các dây thần kinh ngoại vi. Trong: Thần

kinh học toàn tập, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 536-541.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×