Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp

Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp

Tải bản đầy đủ - 0trang

123



Cụ thể: Qua theo dõi diễn biến trong điều trị chúng tơi gặp bốn BN đau

nóng vùng thượng vị, tuy nhiên các BN này, đều ổn định sau khi dùng thuốc bảo

vệ niêm mạc dạ dày và trung hòa axít dạ dày, 01 BN trong nhóm nghiên cứu có

tăng HA sau khi bơm thuốc cản quang để kiểm tra quá trình ngấm thuốc và cũng

ổn định, sau khi dùng thuốc hạ huyết áp (HA) và tiếp tục thực hiện thủ thuật can

thiệp bình thường, BN khơng phải ngừng điều trị. BN mất ngủ được cải thiện rõ

khi chúng tôi thực hiện kỹ thuật vào buổi sáng (xa thời gian ngủ) hoặc BN được

điều trị bổ sung bằng thuốc an thần. Cảm giác chóng mặt, buồn nơn gặp ở một

vài BN, xong đều tự hết trong khoảng thời gian 1 đến 2 giờ sau can thiệp, có

một vài thay đổi lâm sàng tại chỗ nhẹ như: Đau và nề, đỏ tại vết tiêm, xong các

triệu chứng tự hết sau vài ba ngày điều trị. Các chỉ số xét nghiệm sinh hóa máu,

tất cả các BN trước và sau điều trị đều nằm trong giới hạn bình thường. Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cũng được khẳng định ở các nghiên cứu trong và ngồi

nước trước đó.

Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chương và cs. (2013), tiến hành tiêm cạnh rễ

CSC cho 30 BN và tiêm khoang NMC cho 40 BN TVĐĐ CSC, cả 2 phương

pháp đều không gặp tai biến, biến chứng gì nghiêm trọng [1].

Trần Thị Ngọc Trường (2015), tiêm NMC CSC dưới màn huỳnh quang

cho 40 BN TVĐĐ CSC, không gặp bất kỳ tai biến, biến chứng nào [77].

Jorgensen S.H. và cs., (2015), tiêm steroid khoang NMC trong điều trị

TVĐĐ CSC ở 33 BN, số lượng tiêm trung bình là 1,7 lần. Kết quả cho thấy có

sự cải thiện đáng kể về cường độ đau và chức năng CSC, không có tác dụng phụ

nghiêm trọng nào được ghi nhận [103].

Bàn về những tai biến, biến chứng cũng như tác dụng khơng mong muốn

liên quan tới thuốc có trong kỹ thuật, y văn Thế giới đã ghi nhận những tác dụng

đó ở cả mức độ nhẹ và nghiêm trọng:



124



El-Yahchouchi C.A. (2016), nghiên cứu trên 14,960 BN trong đó có 1,412

BN tiêm NMC qua liên bản sống và 13,548 BN tiêm NMC qua lỗ liên hợp, đã

ghi nhận những triệu chứng như đau tăng (2,2%), tác dụng phụ của steroid

(2,7%), phản ứng dị ứng (<0,1%), rò rỉ dịch não tủy/đau cột sống (<0,1%) và

biến chứng đái tháo đường (<0,1%) ở CSTL cùng. Tương tự ở CSC, các phản

ứng phụ xuất hiện muộn là tăng cảm đau (2,0%), tác dụng trên hệ thần kinh

trung ương của steroid (1,7%) và phản ứng dị ứng (0,1%). Khi sử dụng các định

nghĩa rộng hơn về các phản ứng phụ xuất hiện sau can thiệp, các tác giả cũng

thấy đau nhức tại chỗ tiêm (3,9%), nhức đầu thoáng qua (3.8%), sưng phồng do

tiêm (0,9%), sốt (0,9%), buồn nôn (0,7%), phát ban (0,6%), chèn ép tại chỗ tiêm

(0,5%), cảm giác yếu mỏi (0,4%), chuột rút (0,3%), tê (0,3%), nấc (0,3%), mệt

mỏi (0.2%), và các phản ứng phụ nhỏ khác có tỷ lệ thấp hơn, hai tác dụng phụ

muộn thường gặp nhất là tăng cảm đau (2,2%) và tác dụng phụ của steroid

(2,7%) [104].

Tiêm steroid khoang NMC là một phương pháp phổ biến. Tìm hiểu y văn

trên Thế giới cũng như ở Việt Nam về những tai biến, biến chứng của kỹ thuật

tiêm khoang NMC CSC bằng corticoid trên thư viện Pubmed, kho dữ liệu

Scopus thấy rằng những biến chứng có thể gặp đó là áp xe khoang NMC, tổn

thương tủy sống [67], [105], tụ máu NMC [99], liệt tứ chi [106], [107], [108],

nhồi máu tủy sống [99], [109], thậm chí tử vong [110], [111], [112]. Mặc dù đây

là những biến chứng nghiêm trọng nhưng các tác giả đều thấy rằng tỉ lệ này là

rất nhỏ. Trên y văn Thế giới khi đề cập tới các biến chứng này đều chỉ được

thơng báo dưới hình thức một trường hợp, hoặc một ca lâm sàng.

Zhang J.H. và cs. (2015), đã báo cáo một trường hợp áp xe NMC sau tiêm

NMC. Đó là một phụ nữ 65 tuổi chẩn đốn là TVĐĐ CSC và được tiêm hỗn hợp

thuốc vào khoang NMC: 5ml lidocaine 2%, dexamethasone10mg, vitamin

B1100mg, vitamin B6100mg, mecobalamine1mg, và nước muối 0,9% dung tích



125



2ml, tổng lượng 12ml. Kỹ thuật được thực hiện an toàn và BN được tiêm lần thứ

hai với cùng thuốc như lần thứ nhất. Sau đó BN bắt đầu phàn nàn về sự đau

nhức cơ thể, yếu cơ nhẹ, nhức đầu và có sốt. Chẩn đốn viêm NMC từ C 6 đến D8

và hình thành ổ áp xe được xác định. Sau hơn một tháng điều trị bằng thuốc

chống viêm, kháng sinh, áp xe NMC đã được hấp thu hồn tồn và BN đã được

ra viện khơng để lại bất cứ di chứng nào [113].

Một trường hợp khác, Huang R.C. và cs. (2004), đã báo cáo: BN là một

thợ điện 51 tuổi, chẩn đoán TVĐĐ ở vị trí C 4-C5. BN được tiêm khoang NMC

CSC một lần. Trong tuần BN đã cải thiện những triệu chứng một cách đáng kể,

tuy nhiên bảy ngày sau khi tiêm, BN bắt đầu có chứng đau cổ và cảm giác ớn

lạnh. Khoảng 15 ngày sau khi tiêm, BN đau dai dẳng với số lượng bạch cầu tăng

lên. Kháng sinh cephalexin được uống trong 10 ngày, ngày thứ 6 của đợt điều trị

kháng sinh, BN bị đau cánh tay, mất ngủ và yếu cơ. Ngày thứ 22 BN thấy các

triệu chứng nặng lên và chụp CHT CSC phát hiện một áp xe khoang NMC kéo

dài từ C4 đến C6. BN được phẫu thuật mở ống sống C4 đến C6. Sau phẫu thuật,

sức cơ cánh tay trái hồi phục lên 4/5 vào ngày thứ bảy, vết thương lành lại mà

khơng có biến chứng, BN đã được ra viện sau 10 ngày sử dụng kháng sinh. Sau

7 tháng theo dõi, BN đã hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh [114].

Các tác giả trên đều cho rằng tiêm khoang NMC có thể gây biến chứng áp

xe NMC, tổn thương thần kinh nặng nề có thể xảy ra và dẫn đến tử vong nếu

không được can thiệp kịp thời. Do đó cần chẩn đốn và điều trị kịp thời, các

triệu chứng và dấu hiệu kinh điển là đau cổ - lưng, sốt và các triệu chứng thần

kinh khu trú. Các marker viêm, chụp CHT có thể cung cấp một chẩn đoán xác

định, đặc biệt là CHT tăng tương phản có độ nhạy cao, nhưng việc giải thích các

ảnh CHT thu được sau khi tiêm NMC có thể gây nhầm lẫn.

Trong nghiên cứu của Kim M.S. và cs. (2017) cho thấy: Tỷ lệ thay đổi bất

thường của CHT khoảng 24 giờ, và 2 và 3 ngày sau tiêm khoang NMC là 54%,

31% và 25%. Các phát hiện CHT bất thường bao gồm khơng khí và dịch khoang



126



NMC, đường chọc kim và thay đổi mô mềm. Không khí trong khoang NMC là

phát hiện bất thường phổ biến nhất (82%) và đã được ghi nhận ở 41% BN chụp

CHT trong vòng 03 ngày sau tiêm khoang NMC. Khơng có kết quả CHT bất

thường quan sát thấy trong các hình ảnh chụp được ở ngày thứ 04 sau khi tiêm

hoặc sau đó, những thay đổi trong hình ảnh CHT thu được sau tiêm NMC có thể

dẫn đến sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai các phát hiện trên CHT. Dựa trên kết quả

nghiên cứu, những phát hiện bất thường về hình ảnh CHT do ảnh hưởng sau

tiêm khoang NMC được loại trừ từ ngày chụp thứ 04 sau mũi tiêm NMC [115].

Nguyên nhân gây ra áp xe khoang NMC có thể là do không tuân thủ tuyệt

đối kỹ thuật hoặc lượng thuốc đưa vào khoang NMC bị nhiễm khuẩn. Sự bùng

phát nhiễm nấm do tiêm methylprednisolone acetat không được bảo quản, ở Hoa

Kỳ đã được xác định vào 2012, có 17.675 lọ methylprednisolone acetat bị nhiễm

khuẩn, phân bố cho 76 cơ sở ở 23 bang, dẫn đến 13.534 BN có nguy cơ, có 751

BN bị ảnh hưởng: 31% bị viêm màng não, 43% bị bệnh tủy sống, 20% bị viêm

màng não cùng với bệnh tủy sống/nhiễm trùng tủy sống và 1% bị đột quỵ cũng

như có thể là do viêm màng não [116].

Một biến chứng liên quan tới kỹ thuật được báo cáo bởi Kerezoudis P. và

cs., (2017). Tác giả nghiên cứu tác động của tiêm khoang NMC đến loãng xương

và gãy xương cột sống với số liệu tổng hợp từ nhiều nghiên cứu. Trong tổng số

7.223 BN (8 nghiên cứu) tuổi trung bình dao động từ 49 đến 74 tuổi và theo dõi

trung bình từ 6 đến 60 tháng. Tác giả cho thấy tiêm khoang NMC có liên quan

đến việc giảm mật độ xương và tăng nguy cơ gãy xương cột sống [117].

Nghiên cứu của chúng tơi chưa có điều kiện để đánh giá biến chứng này,

đây cũng là một vấn đề cần được đánh giá kĩ hơn ở các nghiên cứu tiếp theo.

Tóm lược: Tiêm khoang NMC CSC là một phương pháp an toàn, những

tai biến, biến chứng có thể xảy ra nhưng với một tỉ lệ rất thấp. Để giảm thiểu khả

năng xảy ra biến chứng, có thể áp dụng nhiều chiến lược phòng ngừa bao gồm:



127



Xác định các chỉ dẫn thích hợp và sự cần thiết về mặt y tế dựa trên hiểu

rõ giải phẫu, sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh, thực hiện với chọn lựa kỹ

thuật và thuốc an toàn, theo dõi thích hợp. Khi xảy ra biến chứng, chẩn đốn và

điều trị kịp thời sẽ cho hiệu quả lâm sàng tốt.



128



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 2 nhóm bệnh nhân thốt vị đĩa đệm cột sống cổ, với 82

bệnh nhân được điều trị bằng 2 phương pháp tiêm khoang ngoài màng cứng và

tiêm cạnh rễ cột sống cổ, chúng tôi rút ra một số kết luận:

1. Lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ

* Lâm sàng

+ Tuổi trung bình của hai nhóm bệnh nhân nghiên cứu là (54,16 ± 11,00).

+ Lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống cổ rất đa dạng, phong phú, gồm

nhiều hội chứng, các hội chứng có thể xuất hiện đồng thời, đan xen nhau, hoặc

kế tiếp nhau, những vẫn có một hội chứng chiếm ưu thế, cụ thể:

Hội chứng cột sống cổ thấy ở 100% số bệnh nhân, hội chứng chèn ép rễ

thần kinh cổ có tỷ lệ cao 90,2%, hội chứng rễ - tủy kết hợp có tỷ lệ thấp là

12,2%.

* Hình ảnh cộng hưởng từ

+ Vị trí thốt vị: Thốt vị tại vị trí C5 - C6, có tỷ lệ cao nhất, thốt vị tại vị

trí C6 - C7 có tỷ lệ 15,6%.

+ Số tầng thốt vị: Có thể gặp thốt vị một tầng hoặc nhiều tầng, trong

đó: Thốt vị đĩa đệm một tầng hay gặp có tỷ lệ 42,7%, hiếm gặp thốt vị đĩa

đệm bốn tầng.

+ Thể thoát vị: Thoát vị cạnh trung tâm lệch bên hay gặp nhất, khơng gặp

thốt vị vào lỗ ghép và thoát vị Schmorl.

+ Mức độ hẹp ống sống: Phần lớn bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

đều có hẹp ống sống cổ, cụ thể: Hẹp nhẹ có tỷ lệ 67,1%, hẹp nặng có tỷ lệ 28%.

+ Độ chèn ép thần kinh: Gặp chủ yếu chèn ép ở mức độ I có tỷ lệ 69,5%.

độ II có tỷ lệ là 28,1%. Không gặp chèn ép mức độ III và độ IV.



129



2. Hiệu quả điều trị

Tất cả các bệnh nhân cả hai nhóm đều cải thiện sau liệu trình điều trị, tuy

nhiên nhóm tiêm khoang ngồi màng cứng có hiệu quả điều trị tốt hơn hẳn

nhóm tiêm cạnh rễ, với p<0,001. Cụ thể:

* Lâm sàng

+ Nhóm tiêm cạnh rễ thần kinh cổ

Bệnh nhân đạt kết quả mức độ rất tốt (giảm ≥75% triệu chứng) là 5%, kết

quả mức độ tốt (giảm ≥50% triệu chứng) là 62,5%, số bệnh nhân đạt mục đích

điều trị là 67,5%.

+ Nhóm tiêm khoang ngồi màng cứng cột sống cổ

Bệnh nhân đạt kết quả mức độ rất tốt (giảm ≥75% triệu chứng) là 66,7%,

đạt kết quả mức độ tốt (giảm ≥50% triệu chứng) là 30,9%, số bệnh nhân đạt mục

đích diều trị là 96,7%.

* Hình ảnh cộng hưởng từ

+ Phương pháp tiêm khoang ngoài màng cứng, làm giảm mức độ chèn ép

các chỉ số trên hình ảnh cộng hưởng từ nhiều hơn và có hệ số thuyên giảm cao

hơn phương pháp tiêm cạnh rễ, với p<0,05.

+ Kỹ thuật an tồn, trong q trình thực hiện không gặp bất kỳ tai biến,

biến chứng nặng nề nào.



130



KIẾN NGHỊ

Chỉ nên ứng dụng phương pháp tiêm khoang ngoài màng cứng để điều trị

thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, ở những bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật

và bác sĩ chuyên khoa thần kinh có kinh nghiệm.



131



DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH CƠNG BỐ KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Đinh Huy Cương, Nguyễn Văn Chương, Nhữ Đình Sơn (2017). Đặc điểm

lâm sàng ở bệnh nhân thốt vị đĩa đệm cột sống cổ. Tạp chí Y Dược học quân

sự, (6):74-78.

2. Đinh Huy Cương, Nguyễn Văn Chương, Nhữ Đình Sơn (2017). Evaluating

the Effectiveness of cervical epidural Methylprednisolon acetat injection in

treating cervical disc displacement. Tạp chí Y Dược học quân sự, (7):112-120.



131



132



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Đăng Thứ

(2013). Bước đầu đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tiêm ngoài màng cứng

cột sống cổ bằng Steroid trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Tạp

chí Y học Việt Nam, (2): 105-111.



2.



Monireh D., Tahereh N., Ebrahim E.A. (2016). The Relationship

between Lifestyle and Pain in Patientswith Spinal Disc Herniation.

Ambient Science, 03(Sp1): 80-81.



3.



Choi A.R., Shin J.S., Lee J., et al. (2017). Current practice and usual

care of major cervical disorders in Korea: A cross-sectional study of

Korean health insurance review and assessment service national patient

sample data. Medicine, 96(46): e8751.



4.



Wong J.J., Côté P., Quesnele J., et al. (2014). The course and

prognostic factors of symptomatic cervical disc herniation with

radiculopathy: a systematic review of the literature. Spine Journal, 14(8):

1781-1789.



5.



Bùi Quang Tuyển (2010). Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống. Nhà

xuất bản Y học, Hà Nội, 81-110.



6.



Nguyễn Thị Tâm (2002). Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng

từ trong thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện

Quân y.



7.



Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Thị Hòa (2013). Đánh giá hiệu quả điều

trị TVĐĐCSTL của phác đồ tiêm ngoài màng cứng methylprednisolon

kết hợp với uống Cyclophosphorine A. Tạp chí thần kinh học, 4 + 5, 2635.



8.



Nguyễn Văn Chương (2016). Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

Trong: Thần kinh học toàn tập, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 527-535.



132



133



9.



Benditz A., Brunner M., Zeman F., et al. (2017). Effectiveness of a

multimodal pain management concept for patients with cervical

radiculopathy with focus on cervical epidural injections. Scientific

Reports 7(1): 7866.



10. Manchikanti



L.



(2014),



Epidural



Steroid



injections



safety



recommendations by the multi- Society pain Workgroup (MPW): More

regulations without evidence or clarification. Pain Physician. 17(5): 575588.

11. Trần Ngọc Anh (2015). Giải phẫu đại cương ngực - bụng. Bộ môn giải

phẫu, Học viên Quân y, 68-73.

12. Trịnh Văn Minh (2013). Giải phẫu người. Nhà xuất bản Y học, Hà

Nội,17-33.

13. Frank H.N. (2010). Atlas giải phẫu người - Nguyễn Quang Quyền dịch.

Nhà xuất bản Y học, 17-22.

14. Nguyễn Văn Chương (2011). Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

Trong: Thực hành lâm sàng thân kinh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,

tập III 326-344.

15. Moore K.L., Dalley A.F. (2014). Joints of the Vertebral Column.

Clinical Oriented Anatomy, 450-460.

16. Audette I., Dumas J.P., Côté J.N., et al. (2010). Validity and BetweenDay Reliability of the Cervical Range of Motion (CROM) Device.

Journal of Orthopaedic & Sports Physical Therapy,40(5): 318-323.

17. Nguyễn Văn Chương (2010). Bệnh lý cột sống cổ và đau đầu. Trong:

Chẩn đoán và điều trị các chứng bệnh đau đầu thường gặp, Nhà xuất

bản Y học, Hà Nội, 185-190.

18. Phan Việt Nga (2016). Tổn thương các dây thần kinh ngoại vi. Trong:

Thần kinh học toàn tập, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 536-541.

19. Phạm Ngọc Hoa (2008) CT cột sống. Nhà xuất bản Y học, 73-74.



133



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×