Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm 82 BN, tất cả đều được chụp CHT CSC hai lần, lần I để chẩn đoán xác định, lần II chụp cách lần I sau ≥06 tháng sau khi kết thúc điều trị.

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm 82 BN, tất cả đều được chụp CHT CSC hai lần, lần I để chẩn đoán xác định, lần II chụp cách lần I sau ≥06 tháng sau khi kết thúc điều trị.

Tải bản đầy đủ - 0trang

116



Tóm lược: Nên áp dụng chỉ số Torg-Radio để theo dõi kết quả điều trị

TVĐĐ trong những trường hợp TVĐĐ thể trung tâm.

4.4.2.2. Chỉ số chèn ép trước - sau sau điều trị

Chỉ số chèn ép trước-sau (APCR) (bảng 3.30), trước điều trị của nhóm

nghiên cứu là (54,71 ± 5,92), nhóm chứng là (54,88 ± 5,87).

Sau ≥06 tháng, chỉ số này tăng đáng kể, cụ thể: Nhóm nghiên cứu là

(58,26 ± 5,48) và nhóm chứng là (58,68 ± 3,41), sự khác biệt giữa trước và sau

điều trị của mỗi nhóm có ý nghĩa với p a,b<0,001. Tuy nhiên nhóm tiêm NMC

tăng nhiều hơn nhóm tiêm cạnh rễ, có ý nghĩa với p(N/cứu-chứng)<0,05.

Chỉ số chèn ép trước sau (APCR), được xác định bởi 2 đường kính của

tủy sống (đường kính trước sau cột tủy/đường kính ngang cột tủy), chỉ số này có

thể thay đổi như: Những biến đổi nội tại của cột tủy (u tủy, rỗng tủy, viêm, phù

tủy), nguyên nhân bên ngồi ít hơn và cũng có nhiều lý do (dây chằng dọc sau,

do đốt sống). Nếu xét quan hệ với đĩa đệm thì đa phần TVĐĐ là thể sau-bên, do

đó đĩa đệm khơng chèn ép trực tiếp vào hai đường kính trên của cột tủy.

Tóm lược: Nếu áp dụng chỉ số APCR để theo dõi kết quả điều trị TVĐĐ

vẫn thấy sự bất hòa hợp giữa kết quả lâm sàng và cận lâm sàng.

4.4.2.3. Chỉ số hẹp khoanh đoạn sau điều trị

SSI trung bình (bảng 3.31), trước điều trị của nhóm nghiên cứu là (79,93

± 6,57) và nhóm chứng (82,45 ± 9,66). Sau ≥06 tháng các chỉ số này của nhóm

nghiên cứu và nhóm chứng đều tăng, lần lượt là:

(85,33 ± 5,84) và (90,48 ± 6,83), sự khác biệt trước và sau điều trị ở cả 2

nhóm có ý nghĩa với pa,b<0,001. SSI được xác định bởi hai kích thước: chỗ ống

sống hẹp nhất và chỗ ống sống rộng nhất của cùng một đốt sống, như vậy sẽ

phản ánh chính xác về mức độ chèn ép ống sống. Tuy nhiên, trong nhiều trường

hợp chỗ hẹp nhất của ống sống lại không phải do TVĐĐ chèn ép, mà do các cấu

trúc khác như: Đốt sống, hệ dây chằng phì đại, quá phát...



117



Tóm lược: Nếu áp dụng chỉ số này để theo dõi kết quả điều trị, tiên lượng,

đôi khi cũng sẽ thấy bất hòa giữa sự thuyên giảm của triệu chứng lâm sàng với

sự thuyên giảm mức độ chèn ép trên CHT.



4.4.2.4. Độ chèn ép thần kinh sau điều trị

Mức độ chèn ép thần kinh trung bình (bảng 3.32), trước điều trị của nhóm

nghiên cứu là (1,24 ± 0,48), nhóm chứng là (1,28 ± 0,51), sự khác biệt khơng có

ý nghĩa, sau 06 tháng cả hai nhóm mức độ chèn ép đều giảm, nhưng nhóm tiêm

NMC giảm nhiều hơn nhóm chứng, có ý nghĩa với p (N/cứu-chứng)<0,05. Sự thay đổi

so với trước khi điều trị, có ý nghĩa với p ab<0,001. “Độ chèn ép thần kinh” phản

ánh gián tiếp qua mức độ chèn ép của ống sống, hướng theo đường một trục

nằm giữa tủy sống và rễ thần kinh do đĩa đệm thoát vị gây nên. Độ chèn ép thần

kinh được chia làm 4 độ trong đó: Độ I là nhẹ nhất, độ IV là nặng nhất.

Trong lâm sàng có thể sử dụng độ chèn ép thần kinh để chẩn đoán, theo

dõi điều trị và tiên lượng bệnh lý TVĐĐ cho CSC, CSTL và thắt lưng-cùng.

Tóm lược: Các chỉ số chèn ép trên hình ảnh CHT của cả 2 nhóm can thiệp

đều thuyên giảm sau khi kết thúc điều trị có ý nghĩa với p<0,001, tuy nhiên

nhóm tiêm NMC có có HSTG lớn hơn nhóm tiêm cạnh rễ.

4.4.3. Hiệu quả điều trị của các phương pháp

Để đánh giá hiệu quả điều trị của các phương pháp can thiệp, chúng tôi áp

dụng phương pháp tính HSTG của Nguyễn Văn Chương và cs. [86], các chỉ số

lâm sàng và cận lâm sàng sau khi kết thúc điều trị cho cả hai phương pháp, sau

đó so sánh kết quả của hai phương pháp. Nghiên cứu của chúng tơi thấy rằng:

Điểm VAS trung bình trước điều trị (bảng 3.26), của nhóm nghiên cứu và

nhóm chứng lần lượt là (5,62 ± 1,04) và (5,62 ± 1,37), khác nhau khơng có ý nghĩa.

Sau 02 tuần điều trị điểm VAS trung bình của nhóm nghiên cứu là (0,98 ±

0,95) giảm nhiều hơn so với nhóm chứng (2,72 ± 1,04), có ý nghĩa với p<0,001.



118



Sau 06 tháng, điểm VAS trung bình của 2 nhóm tiếp tục giảm, nhưng

nhóm nghiên cứu có VAS trung bình là (0,76 ± 0,96), giảm sâu hơn so với nhóm

chứng (2,48 ± 1,04), có ý nghĩa thống kê với p<0,001.

Nghiên cứu của chúng tôi thấy: HSTG trung bình điểm VAS của nhóm

nghiên cứu là (0,84 ± 0,16) lớn hơn hẳn nhóm chứng (0,52 ± 0,14), có ý nghĩa

với p<0,001.

Nghiên cứu Stav A. và cs. (1993), thử nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu cho 58

BN có hội chứng cổ vai cánh tay, BN được chia làm 2 nhóm, tiêm NMC và tiêm

cạnh rễ cổ, kết quả đánh giá sau tiêm 01 tuần có 76% BN nhóm tiêm NMC giảm

đau mức rất và tốt, trong khi đó nhóm tiêm cạnh rễ chỉ có 35% [55].

Theo Catstagnera L. và cs. (1994), thử nghiêm ngẫu nhiên tiêm steroid

NMC cho thấy tỷ lệ thành công là 80% [56].

Nghiên cứu của Cathrine C. và cs. (2004) tiêm NMC cho 30 BN, kết quả

cho thấy 18 BN đã giảm đau trong 02 tuần với điểm VAS trung bình giảm từ 6,3

xuống còn 1,2. Sau 06 tháng điểm VAS các đối tượng này tiếp tục giảm còn 0,7,

đối với 12 BN còn lại có kết quả thấp, sau 02 tuần 03 BN đã được tiêm NMC

lần 02, sau 02 tuần kể từ khi tiêm NMC lần 02, kết quả 2,2 BN giảm được 75%

cơn đau (rất tốt) và 01 BN giảm dưới 25% cơn đau (kém) [57].

Về sức cơ (bảng 3.28), sau 06 tháng nhóm nghiên cứu BN cải thiện tốt

hơn nhóm tiêm cạnh rễ, với HSTG có ý nghĩa là p<0,001.

Chức năng cột sống cổ NDI (bảng 3.26), sau 06 tháng nhóm nghiên cứu

cải thiện tốt hơn nhóm tiêm cạnh rễ với HSTG nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm

chứng, có ý nghĩa với p<0,001.

Bush K. và cs. (1996), nghiên cứu 68 BN có đau cổ và bệnh lý rễ thần

kinh cổ, ban đầu các BN được phong bế đám rối thần kinh cánh tay, nếu triệu

chứng khơng cải thiện các BN đó được tiêm khoang NMC bằng steroid dưới sự

hướng dẫn của màn hình tăng sáng. Kết quả 25% BN giảm đau nhờ phong bế



119



đám rối thần kinh cánh tay, 62% với tiêm NMC. Với thời gian theo dõi 39 tháng

76% giảm đau cánh tay hồn tồn. Trước khi điều trị có 75% BN yếu cơ, sau

thời gian theo dõi, 73% không còn yếu cơ, 84% khơng bị ảnh hưởng bởi triệu

chứng trước đây của họ [98].

Theo Sudhir A.D. và cs., (2012), điều trị cho 120 BN cho kết quả tình

trang giảm đau đáng kể và tình trạng cải thiện chức năng CSC (>50%) ở 68 BN

chỉ dùng thuốc tê, (72%) BN dùng hỗn hợp thuốc tê kết hợp với steroid [62].

Joon J.Y. và cs., (2007), tiêm steroid NMC CSC cho BN rễ tủy cổ đơn, so

sánh kết quả phương pháp đường giữa và cạnh giữa cho thấy: Tiêm steroid

NMC CSC có hiệu quả ở 124 trong số 182 BN chiếm 68,1% lần theo dõi đầu

tiên, khơng có sự khác biệt lớn trong kết quả lâm sàng của tiêm NMC, phương

pháp đường giữa 69,6% và phương pháp cạnh giữa 63,7% (p = 0,723) [97].

Nguyên nhân của bệnh lý rễ tủy là yếu tố quan trọng duy nhất ảnh hưởng

đến hiệu quả của tiêm khoang NMC CSC. BN TVĐĐ có kết quả tốt hơn đáng kể

so với những bệnh nhân hẹp ống sống (82,9% so với 56,0%). Các nghiên cứu đã

đưa ra kết luận là: Khơng có sự khác biệt lớn về hiệu quả điều trị phương pháp

đường giữa và cạnh giữa trong tiêm khoang NMC đối với bệnh lý rễ tủy đơn,

nguyên nhân của bệnh lý rễ tủy liên quan mật thiết đến hiệu quả điều trị, BN

TVĐĐ khả năng giảm đau tốt hơn BN hẹp ống sống [99], [100], [101].

Lee J.H. và cs. (2016), nghiên cứu 184 BN trải qua tiêm NMC CSC qua

lỗ liên hợp, điều trị đau cổ và đau vai cánh tay, theo dõi sau 1 năm, BN được

chia làm 2 nhóm. Nhóm A (N=108) gồm các BN được tiêm lặp lại khoảng

thời gian từ 02 đến 03 tuần sau lần tiêm đầu tiên, nhóm B (N=76) bao gồm

những BN không được tiêm lặp lại khoảng thời gian quy định, mà chỉ nhận

tiêm gián đoạn chỉ khi cơn đau trầm trọng hơn. Kết quả thấy số BN nhóm A

được tiêm lặp lại sau 02 đến 03 tuần sau mũi tiêm đầu tiên, đóng góp lợi ích

lâm sàng kéo dài hơn với ít mũi tiêm hơn so với nhóm B [64].



120



Meir A. và cs., (2017), đã công bố kết quả thành công của phương pháp

tiêm gây tê NMC CSC cho chứng bệnh chệch đĩa đệm C 4-C5, liên quan đến

thiếu hụt thần kinh. Hai trường hợp được xem xét đều là nam giới, 59 tuổi và 36

tuổi và đã được chẩn đoán chệch đĩa C 4-C5 qua chụp CHT. Cả 2 đều giảm vận

động nặng và đều được điều trị bằng tiêm steroid gây tê NMC qua lỗ liên hợp. Ở

cả 2 BN, cơn đau và thiếu hụt thần kinh được cải thiện một cách kịp thời dẫn

đến hồi phục hoàn toàn. CHT được thực hiện sau hồi phục cho thấy sự trở lại

hoàn toàn của chệch đĩa trong cả hai trường hợp, tác giả kết luận: Với bệnh rễ

thần kinh C5, ngay cả khi có tình trạng thiếu hụt thần kinh nghiêm trọng, liệu

pháp tiêm NMC có thể được cân nhắc, các trường hợp đã chứng minh, có thể

thu được kết quả xuất sắc mà không cần phẫu thuật vốn có những rủi ro [25].

Cho đến thời điểm này chưa có tài liệu nào đánh giá hiệu quả điều trị

TVĐĐ CSC bằng HSTG, được đăng tải trên truyền thông. Mới chỉ thấy tác giả

Nguyễn Văn Chương và cs. (2017), đánh giá hiệu quả điều trị TVĐĐ CSTL

bằng tiêm khoang ngoài màng cứng methylprednisolon acetat kết hợp với

uống cyclophosphorineA, các BN được chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm (nhóm

nghiên cứu) gồm 30 BN điều trị bằng phương pháp tiêm depo-medrol 40mg

kết hợp với sandimmune đường uống, nhóm chứng gồm 30 BN điều trị bằng

tiêm khoang NMC de-po-medrol 40mg. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhận

xét: Điểm lâm sàng sau điều trị của nhóm nghiên cứu (2,87 ± 1,04) thấp hơn

nhóm chứng (4,07 ± 1,76), với p<0,01. Điểm thuyên giảm của nhóm nghiên

cứu (8,63 ± 2,34) cao hơn nhóm chứng (7,40 ± 1,75), khác nhau có ý nghĩa

với p<0,05. HSTG của nhóm nghiên cứu là 0,75 cao hơn nhóm chứng là 0,65,

có ý nghĩa với p<0,01 [7].

Nguyễn Văn Chương và cs. (2015), nghiên cứu 73 bệnh nhân TVĐĐ

CSTL điều trị tại Khoa nội thần kinh viện Quân y 103, trong đó 37 BN được

điều trị bằng phương pháp tiêm khoang NMC với kỹ thuật hai kim (nhóm



121



nghiên cứu), 36 BN điều trị bằng phương pháp tiêm khoang NMC với kỹ

thuật một kim (nhóm chứng). Kết quả nghiên cứu cho thấy: Điểm thuyên

giảm của nhóm nghiên cứu là (10,41 ± 2,34) nhóm chứng (7,67 ± 1,71), sự

khác biệt có ý nghĩa với (p<0,05), HSTG của nhóm nghiên cứu là 0,71 cao

hơn nhóm chứng 0,57, sự khác nhau có ý nghĩa với p<0,05 [86].

Diwan S.D. và cs. (2012), tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả của

tiêm khoang NMC CSC trong điều trị các chứng đau cổ và đau chi trên, bắt

nguồn từ bệnh lý CSC, nghiên cứu đã xem xét các tài liệu sẵn có về tiêm, gây tê

NMC, trong điều trị đau cổ mãn tính và đau chi trên. Các đánh giá chất lượng và

các tiêu chí lâm sàng, được dựa trên tiêu chuẩn của nhóm tổng quan về cơ

xương khớp Cochrane, được sử dụng trong các kỹ thuật can thiệp cho các thử

nghiệm ngẫu nhiên và các tiêu chí được xây dựng theo các tiêu chí mức độ

Newcastle-Ottawa cho các nghiên cứu quan sát, nghiên cứu cho thấy: Kết quả

tốt đối với viêm rễ thần kinh thứ phát do TVĐĐ bằng gây tê cục bộ và steroid,

kết quả khá nếu chỉ gây tê cục bộ, trong khi đó, gây tê cục bộ có hoặc khơng có

steroid, đau do lệch đĩa đệm đốt sống, đau hẹp cột sống và đau hậu phẫu chỉ đạt

kết quả khá [62].

Về HSTG trung bình của các chỉ số Torg, APCR, SSI (bảng 3.29, 3.30,

3.31) trên phim CHT trong nghiên cứu của chúng tôi thấy: Sau 06 tháng điều

trị HSTG các chỉ số của nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm chứng.

“Mức độ chèn ép thần kinh” (bảng 3.32), HSTG của nhóm nghiên cứu là

(0,42 ± 0,44) cao hơn nhóm chứng (0,31 ± 0,37), có ý nghĩa với p<0,05.

Tác giả David E.E. và cs., (2009), nghiên cứu hồi cứu CHT để dự đoán

kết quả điều trị đối với tiêm steroid gây tê NMC ở BN bị rễ tủy cổ, BN được

phân loại có hoặc khơng có bốn loại kết quả CHT CSC: TVĐĐ, tổn thương rễ

thần kinh, hẹp ống thần kinh, và hẹp ống sống trung tâm. Kết quả nghiên cứu

đưa ra kết luận: BN hẹp ống sống trung tâm đạt được kết quả chức năng tốt hơn



122



đáng kể sau tiêm steroid khoang NMC so với những BN khác, do đó kết quả

CHT đối với hẹp ống sống trung tâm là một dấu hiệu tiềm năng cho thấy ưu

điểm của tiêm steroid NMC [102].

Cho đến thời điểm hiện tại chưa thấy tác giả nào công bố kết quả ĐTG và

HSTG sau điều trị TVĐĐ CSC, đối với các chỉ số cận lâm sàng.

Thối hóa đĩa đệm là nguyên nhân cơ bản bên trong, tác động cơ học là

nguyên nhân khởi phát bên ngoài, sự phối hợp hai yếu tố đó là nguồn gốc phát

sinh TVĐĐ cột sống. Sự hình thành TVĐĐ sẽ làm tổn thương dây chằng, phù

viêm rễ thần kinh và hẹp ống sống.

Cơ chế chống viêm của corticosteroid: Tác dụng lên hầu hết các loại

viêm, không kể đến nguyên nhân, làm cho đĩa đệm, hệ thống dây chằng cũng

như rễ thần kinh giảm phù, hết viêm, giải phóng sự chèn ép vào khoang ống

sống. Phương pháp phóng bế cạnh rễ, thuốc chỉ tác dụng vào rễ được phóng bế,

một phần khơng nhỏ lượng thuốc sẽ ngấm vào cơ cạnh sống, trong khi đó

phương pháp tiêm khoang NMC thuốc tác dụng tập trung, trực tiếp vào nơi tổn

thương nên đã phát huy tối đa tác dụng, nhờ đó cho hiệu quả điều trị cao hơn.

Tóm lược: Qua so sánh HSTG trung bình của các chỉ tiêu lâm sàng và

CHT cho thấy tiêm NMC có hiệu quả điều trị tốt hơn hẳn tiêm cạnh rễ thần

kinh, có ý nghĩa với (lâm sàng p<0,001, CHT p<0,05).

4.4.4. Tác dụng không mong muốn và biến chứng trong điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi: Cả hai phương pháp đều không gặp biến

chứng nào nặng nề như y văn đã đề cập tới, một vài tác dụng không mong muốn

liên quan tới thuốc và phản ứng tại chỗ như: Phù do giữ nước, mất ngủ, đau

bụng vùng thượng vị, tăng huyết áp, chóng mặt, buồn nơn, đau tức tại chỗ tiêm

cũng được ghi nhận. Tuy nhiên các biến chứng này đều ở mức độ nhẹ, chiếm tỷ

lệ rất thấp và khơng có sự khác biệt giữa 2 phương pháp can thiệp.



123



Cụ thể: Qua theo dõi diễn biến trong điều trị chúng tơi gặp bốn BN đau

nóng vùng thượng vị, tuy nhiên các BN này, đều ổn định sau khi dùng thuốc bảo

vệ niêm mạc dạ dày và trung hòa axít dạ dày, 01 BN trong nhóm nghiên cứu có

tăng HA sau khi bơm thuốc cản quang để kiểm tra quá trình ngấm thuốc và cũng

ổn định, sau khi dùng thuốc hạ huyết áp (HA) và tiếp tục thực hiện thủ thuật can

thiệp bình thường, BN khơng phải ngừng điều trị. BN mất ngủ được cải thiện rõ

khi chúng tôi thực hiện kỹ thuật vào buổi sáng (xa thời gian ngủ) hoặc BN được

điều trị bổ sung bằng thuốc an thần. Cảm giác chóng mặt, buồn nơn gặp ở một

vài BN, xong đều tự hết trong khoảng thời gian 1 đến 2 giờ sau can thiệp, có

một vài thay đổi lâm sàng tại chỗ nhẹ như: Đau và nề, đỏ tại vết tiêm, xong các

triệu chứng tự hết sau vài ba ngày điều trị. Các chỉ số xét nghiệm sinh hóa máu,

tất cả các BN trước và sau điều trị đều nằm trong giới hạn bình thường. Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cũng được khẳng định ở các nghiên cứu trong và ngồi

nước trước đó.

Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chương và cs. (2013), tiến hành tiêm cạnh rễ

CSC cho 30 BN và tiêm khoang NMC cho 40 BN TVĐĐ CSC, cả 2 phương

pháp đều không gặp tai biến, biến chứng gì nghiêm trọng [1].

Trần Thị Ngọc Trường (2015), tiêm NMC CSC dưới màn huỳnh quang

cho 40 BN TVĐĐ CSC, không gặp bất kỳ tai biến, biến chứng nào [77].

Jorgensen S.H. và cs., (2015), tiêm steroid khoang NMC trong điều trị

TVĐĐ CSC ở 33 BN, số lượng tiêm trung bình là 1,7 lần. Kết quả cho thấy có

sự cải thiện đáng kể về cường độ đau và chức năng CSC, khơng có tác dụng phụ

nghiêm trọng nào được ghi nhận [103].

Bàn về những tai biến, biến chứng cũng như tác dụng khơng mong muốn

liên quan tới thuốc có trong kỹ thuật, y văn Thế giới đã ghi nhận những tác dụng

đó ở cả mức độ nhẹ và nghiêm trọng:



124



El-Yahchouchi C.A. (2016), nghiên cứu trên 14,960 BN trong đó có 1,412

BN tiêm NMC qua liên bản sống và 13,548 BN tiêm NMC qua lỗ liên hợp, đã

ghi nhận những triệu chứng như đau tăng (2,2%), tác dụng phụ của steroid

(2,7%), phản ứng dị ứng (<0,1%), rò rỉ dịch não tủy/đau cột sống (<0,1%) và

biến chứng đái tháo đường (<0,1%) ở CSTL cùng. Tương tự ở CSC, các phản

ứng phụ xuất hiện muộn là tăng cảm đau (2,0%), tác dụng trên hệ thần kinh

trung ương của steroid (1,7%) và phản ứng dị ứng (0,1%). Khi sử dụng các định

nghĩa rộng hơn về các phản ứng phụ xuất hiện sau can thiệp, các tác giả cũng

thấy đau nhức tại chỗ tiêm (3,9%), nhức đầu thoáng qua (3.8%), sưng phồng do

tiêm (0,9%), sốt (0,9%), buồn nôn (0,7%), phát ban (0,6%), chèn ép tại chỗ tiêm

(0,5%), cảm giác yếu mỏi (0,4%), chuột rút (0,3%), tê (0,3%), nấc (0,3%), mệt

mỏi (0.2%), và các phản ứng phụ nhỏ khác có tỷ lệ thấp hơn, hai tác dụng phụ

muộn thường gặp nhất là tăng cảm đau (2,2%) và tác dụng phụ của steroid

(2,7%) [104].

Tiêm steroid khoang NMC là một phương pháp phổ biến. Tìm hiểu y văn

trên Thế giới cũng như ở Việt Nam về những tai biến, biến chứng của kỹ thuật

tiêm khoang NMC CSC bằng corticoid trên thư viện Pubmed, kho dữ liệu

Scopus thấy rằng những biến chứng có thể gặp đó là áp xe khoang NMC, tổn

thương tủy sống [67], [105], tụ máu NMC [99], liệt tứ chi [106], [107], [108],

nhồi máu tủy sống [99], [109], thậm chí tử vong [110], [111], [112]. Mặc dù đây

là những biến chứng nghiêm trọng nhưng các tác giả đều thấy rằng tỉ lệ này là

rất nhỏ. Trên y văn Thế giới khi đề cập tới các biến chứng này đều chỉ được

thơng báo dưới hình thức một trường hợp, hoặc một ca lâm sàng.

Zhang J.H. và cs. (2015), đã báo cáo một trường hợp áp xe NMC sau tiêm

NMC. Đó là một phụ nữ 65 tuổi chẩn đốn là TVĐĐ CSC và được tiêm hỗn hợp

thuốc vào khoang NMC: 5ml lidocaine 2%, dexamethasone10mg, vitamin

B1100mg, vitamin B6100mg, mecobalamine1mg, và nước muối 0,9% dung tích



125



2ml, tổng lượng 12ml. Kỹ thuật được thực hiện an toàn và BN được tiêm lần thứ

hai với cùng thuốc như lần thứ nhất. Sau đó BN bắt đầu phàn nàn về sự đau

nhức cơ thể, yếu cơ nhẹ, nhức đầu và có sốt. Chẩn đốn viêm NMC từ C 6 đến D8

và hình thành ổ áp xe được xác định. Sau hơn một tháng điều trị bằng thuốc

chống viêm, kháng sinh, áp xe NMC đã được hấp thu hoàn toàn và BN đã được

ra viện không để lại bất cứ di chứng nào [113].

Một trường hợp khác, Huang R.C. và cs. (2004), đã báo cáo: BN là một

thợ điện 51 tuổi, chẩn đoán TVĐĐ ở vị trí C 4-C5. BN được tiêm khoang NMC

CSC một lần. Trong tuần BN đã cải thiện những triệu chứng một cách đáng kể,

tuy nhiên bảy ngày sau khi tiêm, BN bắt đầu có chứng đau cổ và cảm giác ớn

lạnh. Khoảng 15 ngày sau khi tiêm, BN đau dai dẳng với số lượng bạch cầu tăng

lên. Kháng sinh cephalexin được uống trong 10 ngày, ngày thứ 6 của đợt điều trị

kháng sinh, BN bị đau cánh tay, mất ngủ và yếu cơ. Ngày thứ 22 BN thấy các

triệu chứng nặng lên và chụp CHT CSC phát hiện một áp xe khoang NMC kéo

dài từ C4 đến C6. BN được phẫu thuật mở ống sống C4 đến C6. Sau phẫu thuật,

sức cơ cánh tay trái hồi phục lên 4/5 vào ngày thứ bảy, vết thương lành lại mà

khơng có biến chứng, BN đã được ra viện sau 10 ngày sử dụng kháng sinh. Sau

7 tháng theo dõi, BN đã hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh [114].

Các tác giả trên đều cho rằng tiêm khoang NMC có thể gây biến chứng áp

xe NMC, tổn thương thần kinh nặng nề có thể xảy ra và dẫn đến tử vong nếu

khơng được can thiệp kịp thời. Do đó cần chẩn đốn và điều trị kịp thời, các

triệu chứng và dấu hiệu kinh điển là đau cổ - lưng, sốt và các triệu chứng thần

kinh khu trú. Các marker viêm, chụp CHT có thể cung cấp một chẩn đốn xác

định, đặc biệt là CHT tăng tương phản có độ nhạy cao, nhưng việc giải thích các

ảnh CHT thu được sau khi tiêm NMC có thể gây nhầm lẫn.

Trong nghiên cứu của Kim M.S. và cs. (2017) cho thấy: Tỷ lệ thay đổi bất

thường của CHT khoảng 24 giờ, và 2 và 3 ngày sau tiêm khoang NMC là 54%,

31% và 25%. Các phát hiện CHT bất thường bao gồm khơng khí và dịch khoang



126



NMC, đường chọc kim và thay đổi mô mềm. Khơng khí trong khoang NMC là

phát hiện bất thường phổ biến nhất (82%) và đã được ghi nhận ở 41% BN chụp

CHT trong vòng 03 ngày sau tiêm khoang NMC. Khơng có kết quả CHT bất

thường quan sát thấy trong các hình ảnh chụp được ở ngày thứ 04 sau khi tiêm

hoặc sau đó, những thay đổi trong hình ảnh CHT thu được sau tiêm NMC có thể

dẫn đến sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai các phát hiện trên CHT. Dựa trên kết quả

nghiên cứu, những phát hiện bất thường về hình ảnh CHT do ảnh hưởng sau

tiêm khoang NMC được loại trừ từ ngày chụp thứ 04 sau mũi tiêm NMC [115].

Nguyên nhân gây ra áp xe khoang NMC có thể là do khơng tn thủ tuyệt

đối kỹ thuật hoặc lượng thuốc đưa vào khoang NMC bị nhiễm khuẩn. Sự bùng

phát nhiễm nấm do tiêm methylprednisolone acetat không được bảo quản, ở Hoa

Kỳ đã được xác định vào 2012, có 17.675 lọ methylprednisolone acetat bị nhiễm

khuẩn, phân bố cho 76 cơ sở ở 23 bang, dẫn đến 13.534 BN có nguy cơ, có 751

BN bị ảnh hưởng: 31% bị viêm màng não, 43% bị bệnh tủy sống, 20% bị viêm

màng não cùng với bệnh tủy sống/nhiễm trùng tủy sống và 1% bị đột quỵ cũng

như có thể là do viêm màng não [116].

Một biến chứng liên quan tới kỹ thuật được báo cáo bởi Kerezoudis P. và

cs., (2017). Tác giả nghiên cứu tác động của tiêm khoang NMC đến loãng xương

và gãy xương cột sống với số liệu tổng hợp từ nhiều nghiên cứu. Trong tổng số

7.223 BN (8 nghiên cứu) tuổi trung bình dao động từ 49 đến 74 tuổi và theo dõi

trung bình từ 6 đến 60 tháng. Tác giả cho thấy tiêm khoang NMC có liên quan

đến việc giảm mật độ xương và tăng nguy cơ gãy xương cột sống [117].

Nghiên cứu của chúng tôi chưa có điều kiện để đánh giá biến chứng này,

đây cũng là một vấn đề cần được đánh giá kĩ hơn ở các nghiên cứu tiếp theo.

Tóm lược: Tiêm khoang NMC CSC là một phương pháp an toàn, những

tai biến, biến chứng có thể xảy ra nhưng với một tỉ lệ rất thấp. Để giảm thiểu khả

năng xảy ra biến chứng, có thể áp dụng nhiều chiến lược phòng ngừa bao gồm:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm 82 BN, tất cả đều được chụp CHT CSC hai lần, lần I để chẩn đoán xác định, lần II chụp cách lần I sau ≥06 tháng sau khi kết thúc điều trị.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×