Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Độ chèn ép TK

Độ chèn ép TK

Tải bản đầy đủ - 0trang

87



Sau 06 tháng cả 2 nhóm các chỉ số lâm sàng, mức độ chèn ép thần kinh

được cải thiện tốt lên có ý nghĩa với (p<0,05). Nhóm nghiên cứu có HSTG cao

hơn so với nhóm chứng.



88



3.4.4. Tác dụng khơng mong muốn và diễn biến trong điều trị

Bảng 3.34. Tai biến, biến chứng sau can thiệp

Nhóm

Tai biến

biến chứng

Đau tại chỗ sau thủ thuật



Nhóm nghiên

cứu (n = 42)



Nhóm chứng

(n = 40)



n



%



n



%



3



7,1



4



10



Thủng màng cứng



0



0



0



0



Chạm tủy cổ



0



0



0



0



Chạm rễ thần kinh



1



2,4



2



5



Nhiễm trùng



0



0



0



0



Chảy máu



0



0



0



0



Tăng huyết áp tạm thời



1



2,4



3



7,5



Mất ngủ



4



9,5



6



15



Đau thượng vị



2



4,7



5



12



Phù



4



9,5



6



15



15



36%



26



65%



Tổng



PN/cứu-chứng



>0,05



Cả 2 phương pháp can thiệp điều trị đều an tồn, khơng gặp những tai

biến, biến chứng nghiêm trọng, chỉ gặp một vài tác dụng phụ của thuốc như:

- Phù: Nhóm bệnh gặp với tỷ lệ 9,5% nhóm chứng gặp với tỷ lệ là 15%

- Mất ngủ: Nhóm bệnh gặp với tỷ lệ 9,5%, nhóm chứng gặp với tỷ lệ 15%.

- Đau thượng vị: Nhóm bệnh gặp 02 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 4,7%, nhóm

chứng gặp 05 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 12%.

- Tỷ lệ tác dụng không mong muốn của hai phương pháp can thiệp khác

nhau khơng có ý nghĩa.



89



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Để đánh giá tác dụng điều trị TVĐĐ CSC của phương pháp tiêm khoang

NMC, chúng tơi thiết kế một nghiên cứu bệnh-chứng, chọn nhóm chứng gồm 40

BN, được điều trị bằng phương pháp phong bế cạnh cột sống cổ, là phương pháp

điều trị nền cho TVĐĐ CSC, lấy kết quả điều trị của nhóm này làm tham chiếu

để so sánh, đánh giá kết quả điều trị của nhóm nghiên cứu gồm 42 BN được điều

trị bằng phương pháp tiêm khoang NMC CSC. Chọn BN nghiên cứu, tuân thủ

chặt chẽ tiêu chuẩn chọn BN. BN tiêm NMC CSC được giải thích cặn kẽ, rõ

ràng đầy đủ về lợi ích cũng như tai biến, biến chứng có thể gặp trong quá trình

thực hiện kỹ thuật. BN đồng ý ứng dụng kỹ thuật phải viết đơn cam kết trước

khi thực hiện kỹ thuật. Phương pháp chọn BN như vậy, đảm bảo BN của hai

nhóm tương đồng về: Tuổi, giới, mức độ lâm sàng cũng như hình ảnh CHT,

nghiên của chúng tơi chỉ lựa chọn BN có độ tuổi từ 20 đến ≤75 tuổi ở cả 2

nhóm, đây là lứa tuổi trưởng thành, hoàn thiện cấu trúc chức năng thần kinh và ở

độ tuổi này mức độ thối hóa chưa nhiều.

4.1.1. Đặc điểm về tuổi của nhóm bệnh nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu (bảng 3.1), cho thấy bệnh thường gặp ở người trên 30

tuổi có tỷ lệ là 97%, đây là thời kỳ hoạt động thể lực khỏe nhất, đồng thời cũng

là thời kỳ lao động, sáng tạo nhiều nhất, mang lại nhiều của cải vật chất cho gia

đình và xã hội.

Tuổi trung bình chung cho cả 2 nhóm là (54,16 ± 11,00), nhóm nghiên

cứu là (52,24 ± 11,25) và nhóm chứng (56,18 ± 10,57), trẻ nhất là 28 tuổi, độ

tuổi thường gặp nhiều nhất là 50 - 59 có tỷ lệ là 34,1%



90



Theo Hồ Hữu Lương, TVĐĐ CSC có biểu hiện lâm sàng ở độ tuổi lao

động, tuổi mắc nhiều nhất là 40 đến 49 tuổi [19].

Phan Quang Sơn, lứa tuổi thường gặp nhất là từ 41 đến 60, tuổi trung bình

là 50 với độ lệch chuẩn 12,04, tuổi trẻ nhất là 26 tuổi và tuổi lớn nhất là 76 tuổi

[87]. Phạm Anh Tuấn tuổi thấp nhất là 33 tuổi, cao nhất là 72 tuổi, tuổi trung

bình 47,13 ± 8,67 [88].

Nguyễn Đức Liên, tuổi trung bình của các bệnh nhân là 50,2 (21-78), có

40,8% bệnh nhân ở độ tuổi 40-49 [89].

Trần Thanh Tuyền, tuổi trung bình là 51,58 ± 10,13, nhỏ nhất là 34 tuổi

lớn nhất là 85 tuổi và tuổi thường gặp nhiều nhất 40 - 50 tuổi [90].

Các tác giả khác: Sarker M.H., Yusuhm K. và cs., kết quả nghiên cứu thấy

độ tuổi hay mắc đều nằm trong khoảng 41 đến 51 tuổi [31], [35].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, độ tuổi cao (≥60) tỷ lệ mắc

TVĐĐ CSC thấp dần. Cụ thể là:

Ở nhóm nghiên cứu tuổi từ 50 - 59, tỷ lệ mắc là 34,1%, tuổi từ 60 - 69 tỷ

lệ mắc là 23,2%, tuổi từ 70 -75, tỷ lệ mắc là 8,5%, điều này hoàn toàn phù hợp

với bệnh sinh, bệnh căn TVĐĐ CSC, độ tuổi 60 - 69, đĩa đệm đã thối hóa ở

một mức độ nào đó, nhưng do độ căng phồng của nhân nhày vẫn còn được duy

trì ở một mức độ nhất định, trong khi các vòng sợi đã có chỗ đứt rách, chỉ cần

một chấn thương nhẹ tác động tới CSC, cũng là điều kiện thuận lợi, là cơ hội

xảy ra TVĐĐ. Tuổi càng cao thì hoạt động thể lực sẽ càng giảm, mặt khác do

tuổi cao tỷ lệ nước và glycoprotein trong nhân nhày giảm, do đó nhân nhầy giảm

độ căng phồng, trong khi đó chỗ nứt rách của các vòng sợi đã thành sẹo theo

thời gian, do đó TVĐĐ lại ít xảy ra hơn [19].

Tóm lược: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là (54,16 ± 11,00), thường

hay mắc ở độ tuổi 40-60. Đây là độ tuổi mà con người còn đang lao động và

sáng tạo. Tuổi càng cao (>60 tuổi) thì tỷ lệ thốt vị càng giảm.



91



4.1.2. Giới tính

Nghiên cứu về giới tính của BN ở cả 2 nhóm thấy rằng: Tỷ lệ nam thấp

hơn nữ nam/nữ là 0,46/1. Nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đều có tỷ lệ nam

thấp hơn nữ lần lượt là: 0,50/1 và 0,43/1. Kết quả nghiên cứu tương tự Nguyễn

Thị Tâm, tỷ lệ nam/nữ là: 4,23/1 [6], Nguyễn Tuyết Trang và cs, tỷ lệ nam/nữ

xấp xỉ 0,5 [41].

Một số các tác giả khác lại cho thấy tỷ lệ nam mắc nhiều hơn nữ như:

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương và cs., tỷ lệ nam/nữ là: (1,35/1 1,31/1) [1]. Phan Quang Sơn, tỷ lệ nam/nữ là 5,8/1 [87]. Phạm Anh Tuấn, nam

chiếm 44%, nữ chiếm 56% [88]. Trần Thanh Tuyền tỷ lệ nam/nữ là: 1,1/1 [90].

Takahashi K. và cs., thấy tỷ lệ nam/nữ dao động từ 2,2 [91].

Tóm lược: Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với

các tác giả có lẽ mẫu nghiên cứu còn nhỏ, nữ giới thường làm công việc nội trợ

gần nhà, nên thuận lợi cho việc đi khám bệnh hơn.

4.1.3. Nghề nghiệp

Đặc điểm nghề nghiệp (bảng 3.2), cho thấy ở cả 2 nhóm, nhóm nghiên

cứu và nhóm chứng, TVĐĐ CSC có thể gặp ở tất cả các loại nghề nghiệp, trong

đó những người làm cơng tác hành chính văn phòng, chiếm tỷ lệ cao nhất là

32,9% bao gồm những người lao động trí óc (giáo viên, bác sỹ, kỹ sư), cán bộ

văn phòng đánh máy, thợ may.

Xã hội ngày càng phát triển, cơng, nơng nghiệp ngày càng hiện đại hóa,

họ phải thường xuyên, liên tục, làm việc theo chuỗi dây truyền, những động tác

cứ lặp đi lặp lại, cộng với phải mang vác nặng, ảnh hưởng đến CSC tạo điều

kiện thuận lợi cho TVĐĐ CSC gia tăng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm cho

thấy, những BN là nông dân chiếm 33,04%, cơng nhân: 23,48%, cán bộ kỹ sư

văn phòng: 33,92% [6]. Theo Hồ Hữu Lương, BN có nghề nghiệp lái các loại xe

có độ rung lớn, vận động viên thể thao, người lao động nặng có các động tác gây

đè ép mạnh hoặc vặn vẹo CSC có thể gây ra TVĐĐ CSC [19].



92



Tóm lược: TVĐĐ CSC thường hay mắc ở những người có mơi trường

làm việc thường xun phải cúi, ngồi nhiều, mọi động tác của họ đều tác động

đến cột sống cổ.

4.1.4. Tiền sử

Nghiên cứu của chúng tôi thấy: BN TVĐĐ CSC (bảng 3.3), có thể có tiền

sử mắc bệnh khác nhau, nhưng đáng chú ý là BN có cơng việc luôn ở tư thế ngồi

cúi chiếm tỷ lệ cao là 51,2%, có lẽ TVĐĐ CSC ở những trường hợp này là do tải

trọng bình thường, tác động liên tục lên một tư thế bất thường gây vặn, vẹo

CSC, tạo ra lực đẩy và lực sén cắt, tác động lên nhân nhầy và làm nứt rách thêm

chỗ yếu của vòng sợi, tạo điều kiện hình thành TVĐĐ.

Kết quả nghiên cứu, chỉ có 14,6% trường hợp có tiền sử chấn thương,

trong đó đa số những BN này đều bị ngã với tư thế, đập vai xuống nền cứng gây

vặn, vẹo CSC đột ngột và quá mức tạo điều kiện cho vòng sợi dễ nứt rách, sẽ

hình thành TVĐĐ. Theo Hồ Hữu Lương, 15% khởi phát sau chấn thương, đột

ngột gấp cổ quá mức [19].

CSC luôn phải mang trọng lượng của đầu khoảng 6,5kg, trong thời gian

bình thường của mỗi cá nhân (trừ khi ngủ), CSC có đường cong ưỡn ra trước,

đỉnh của đường cong là giữa đốt C4-C5. Một số nghề nghiệp có tư thế lao động

bắt buộc, cố định, khơng thay đổi hoặc các tư thế sai lệch kéo dài (gối đầu cao

làm gập cổ quá mức), dẫn đến một số điểm của CSC phải chịu áp lực của tải

trọng thường xuyên, dễ hình thành các gai xương, hoặc các biến đổi phì đại làm

thay đổi cấu trúc của bờ tận cùng thân đốt sống, khớp đốt sống, các dây chằng,

đĩa đệm lâu ngày dẫn đến TVĐĐ CSC.

TVĐĐ CSTL đi kèm, chúng tôi gặp tỷ lệ là 9,8%, điều này cho thấy q

trình thối hóa đĩa đệm, đóng vai trò chủ yếu trong bệnh căn, bệnh sinh của

TVĐĐ cột sống nói chung, ở những BN có cơng việc lao động hàng ngày nặng



93



với CSC, các động tác CSC lặp đi, lặp lại nhiều lần và liên tục, sẽ tạo thành một

vi chấn thương thường xuyên và liên tục, tác động vào CSC, tạo cơ hội cho

TVĐĐ CSC hình thành.

Tiền sử thói quen hay gối đầu cao, nghiên cứu của chúng tơi thấy tỷ lệ

chung cho cả 2 nhóm là 17,1%, những BN này thường bị TVĐĐ trên nền thối

hóa CSC. Trong thực tế lâm sàng gặp nhiều trường hợp TVĐĐ CSC khơng có

yếu tố chấn thương và tải trọng, hoặc vận động CSC cũng không vượt quá giới

hạn sinh lý, nhiều khi bản thân BN cũng không nhớ rõ là mình có tiền sử bị

chấn thương hay khơng.

Tóm lược: TVĐĐ CSC, bệnh xảy ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố

trên một BN.

4.2. Đặc điểm lâm sàng

4.2.1. Cách khởi phát

Nghiên cứu của chúng tôi thấy: BN TVĐĐ CSC phần lớn khởi phát từ từ

với tỷ lệ 90,5% (bảng 3.4), khởi phát đột ngột với tỷ lệ là 9,5%. Cũng tương tự

kết quả nghiên cứu Nguyễn Đức Liên, khởi phát từ từ 88,9%, đột ngột 11,1%

[87]. Hồ Hữu Lương, cho thấy: 85% khởi phát từ từ, chủ yếu là đau mỏi, hạn

chế vận động CSC, đau đĩa đệm: Đau thường xuyên (60%), đau sau khi ngủ dậy

(30%), biểu hiện lâm sàng thành từng đợt [19].

Cách khởi phát này phù hợp với diễn biến của một quá trình bệnh lý, trên

cơ sở của thối hóa đĩa đệm sinh học theo thời gian và thối hóa đĩa đệm bệnh

lý, dưới tác động của các yếu tố chấn thương thường xuyên, liên tục và từ từ, tạo

cơ hội cho TVĐĐ cột sống xuất hiện, bệnh tiến triển nặng dần lên, đến một

chừng mực nào đó gây khó khăn, đau đớn trong sinh hoạt.

Tóm lược: Nguyên nhân làm tổn thương tủy sống và rễ thần kinh cổ gây

khó khăn, đau đớn trong sinh hoạt khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh.



94



4.2.2. Hoàn cảnh khởi phát

Về hồn cảnh khởi phát (bảng 3.5), chúng tơi thấy: Đa số BN TVĐĐ CSC

ở 2 nhóm có hồn cảnh khởi phát bệnh không rõ ràng chiếm tỷ lệ là 81,7%, khởi

phát sau vận động đột ngột và sau chấn thương CSC chiếm tỷ lệ nhỏ. Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như các tác giả:

Nguyễn Đức Liên, đa số BN TVĐĐ CSC diễn biến từ từ không rõ ràng,

không liên quan đến chấn thương 88,9%, đau cổ 66,7% thường xuất hiện sớm và

là triệu chứng đầu tiên của TVĐĐ CSC [89].

Theo Hồ Hữu Lương, bệnh thường phát triển theo hai thời kỳ: Thời kỳ

đầu thường biểu hiện bằng hội chứng CSC, thời kỳ sau ngoài hội chứng CSC, có

thêm hội chứng rễ và/hoặc bệnh lý tủy cổ [19].

Q trình thối hóa đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu trong bệnh căn, bệnh

sinh của TVĐĐ CSC, trong các trường hợp khởi phát sau chấn thương CSC, BN

thường bị TVĐĐ trên nền thối hóa CSC.

Tóm lược: TVĐĐ CSC diễn biến từ từ, hoàn cảnh khởi phát chỉ là yếu tố

thuận lợi, tạo cơ hội cho TVĐĐ cột sống xuất hiện.

4.2.3. Các hội chứng lâm sàng

Bệnh cảnh lâm sàng TVĐĐ CSC (bảng 3.6) gồm nhiều hội chứng trong

đó: Hội chứng CSC có tỷ lệ cao nhất là 100%, tiếp đến là hội chứng chèn ép rễ

thần kinh cổ với tỷ lệ 90,2%, hội chứng chèn ép tủy chiếm tỷ lệ là 12,2%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của

Nguyễn Văn Chương và cs., hội chứng CSC và hội chứng rễ gặp 100% số BN ở

cả 2 nhóm, hội chứng chứng rễ- tủy gặp từ 10% đến 12% [1].

Nghiên cứu của Hồ Hữu Lương cho thấy, hội chứng CSC và hội chứng rễ

thần kinh cổ, gặp ở 100% trường hợp TVĐĐ CSC [19]. Tác giả Nguyễn Đức

Liên cho thấy, hội chứng CSC gặp 81,5%, hội chứng tủy đơn thuần 44,4%, hội

chứng rễ-tủy kết hợp gặp 29,6%, hội chứng chèn ép rễ gặp 25,9% [89].



95



Các hội chứng chèn ép tủy đơn thuần, hội chứng tuần hoàn sống nền và

hội chứng rối loạn thần kinh tự chủ khơng gặp, có sự khác nhau trên là do mẫu

nghiên cứu của chúng tơi còn nhỏ và chủ yếu là những BN còn chỉ định điều trị

nội khoa. Mặt khác khi BN thấy triệu chứng lâm sàng rầm rộ, nặng nề, họ

thường đi thẳng lên truyến trên.

Tóm lược: Lâm sàng TVĐĐ CSC rất đa dạng, phức tạp và phong phú.

4.2.3.1. Hội chứng cột sống cổ

* Điểm đau CSC và co cứng cơ cạnh CSC

Kết quả nghiên cứu (bảng 3.7) của chúng tơi thấy: 100% BN TVĐĐ CSC

đều có các triệu chứng của hội chứng CSC, trong đó triệu chứng: Đau và co

cứng các cơ cạnh CSC thường gặp và xuất hiện sớm nhất với tỷ lệ là 68,3%,

cũng giống như nghiên cứu Hồ Hữu Lương, hội chứng CSC gặp ở 100% trường

hợp TVĐĐ CSC [19].

Đây là triệu chứng quan trọng, trong bệnh cảnh lâm sàng của TVĐĐ CSC,

là triệu chứng mà BN thường than phiền, trong hội chứng CSC và cũng là lý do

khiến BN phải đi khám bệnh. Đau thường lan tỏa khó xác định được chính xác

điểm đau cột sống và điểm đau cạnh CSC như trong TVĐĐ CSTL. BN thường

phàn nàn, đau thường xuất phát từ cổ gáy lan xuống vai và vùng liên sống bả

vai, rồi xuống tay, làm hạn chế vận động của chi trên, khi đưa tay ra sau (động

tác gãi sau lưng), hoặc đưa tay lên cao (động tác khi chải đầu), đau có khi lan

lên cả một vùng da đầu trong đau các dây thần kinh chẩm, cảm giác nhức nhối

khó chịu, đơi khi đau mỏi giống như mơ hồ, không rõ ràng.

Đa số BN đau không liên tục mà thường đau CSC thành nhiều đợt, với

cường độ khác nhau, sau một thời gian mới đau lan xuống cánh, cẳng tay, bàn và

ngón tay theo một vệt dọc, một số BN có thể vẽ được hướng lan của đau.

Cũng giống như TVĐĐ CSTL: Đau tăng khi ho, hắt hơi và vận động

CSC, hoặc ngồi lâu và đỡ đau khi nghỉ ngơi.



96



Điểm đau CSC: Khi thăm khám lâm sàng, ấn vào các điểm CSC, chính

gai sau của các đốt sống cổ có đĩa đệm thốt vị, BN có cảm giác đau tức, chói,

tại một hoặc nhiều điểm trên CSC là triệu chứng dương tính.

Chúng tơi gặp triệu chứng này với tỷ lệ là 97,6% chung cho cả 2 nhóm.

Nghiên cứu của Phan Việt Nga (2017), thấy rằng đau và co cứng cơ cạnh

CSC chiếm tỷ lệ cao (trên 90%) [83]. Trần Thanh Tuyền thấy, có 24 trường hợp

bệnh lý rễ, triệu chứng đau cổ, đau và dị cảm theo rễ thần kinh chi phối

gặp100% các trường hợp [90].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm cho thấy, đau và co cứng cơ cạnh CSC

chiếm 90,63%, khám có điểm đau CSC là 93,94%, tỷ lệ này ở nhóm BN TVĐĐ

CSC, có chèn ép tủy kết hợp là 43,86% và nhóm có chèn ép tủy cổ đơn thuần chỉ

chiếm 19,23% [6].

Theo Hồ Hữu Lương, đau xuất hiện sớm và là triệu chứng đầu tiên của

bệnh, đau cột sống có thể là đau từ đĩa đệm, khớp sống, gân, cơ, dây chằng dọc

sau, đau từ màng xương do kích thích vào nhánh màng tủy (nhánh thần kinh

quặt ngược).

Tóm lược: Đau CSC là một triệu chứng nổi bật, trong đặc điểm lâm sàng

của bệnh TVĐĐ CSC. Việc định khu vị trí đau, tính chất đau có giá trị hướng

đến chẩn đoán phân biệt ban đầu và hướng đến các nguyên nhân trong các bệnh

lý vùng cổ, từ đó có hướng điều trị đúng và kịp thời.

* Hạn chế vận động cột sống cổ và thường xuyên mỏi cổ

Triệu chứng thường xuyên mỏi CSC chúng tôi gặp với tỷ lệ là 86,6%, BN

thường hay than phiền mỏi CSC, triệu chứng này tăng lên khi thay đổi thời tiết,

hay khi gối đầu cao, hoặc khi ngồi ở những tư thế cúi cổ lâu, hay nằm sai tư thế,

nhiều BN đến khám bệnh cho biết, buổi sáng ngủ dậy đã thấy cứng cổ, đau vai,

nhưng khi vận động xoay cổ, vặn tay, xoay lưng… mong cho đỡ đau và khỏi

bệnh, song càng làm càng đau và cứng cổ nhiều hơn. Nguyên nhân là do cả đêm,



97



BN đã gối đầu quá cao, nằm ngủ không đúng tư thế trong một khoảng thời gian

dài, nên các mạch máu, dây thần kinh, cơ bắp bị đè ép.

Độ tuổi đau cổ, vai, gáy đang có xu hướng trẻ hóa với những người hay

làm việc ở một tư thế bất lợi, trong thời gian dài như: Vừa nghe điện thoại vừa

ghi chép, làm việc liên tục với máy tính, sơn trần nhà, lái xe ơ tơ ở tư thế ghế

ngửa ra phía sau, làm cho đĩa đệm CSC sớm bị suy thoái, sưng tấy, trực tiếp

chèn ép lên các dây thần kinh tương quan ở vai, gáy gây đau đớn, khó chịu.

Hạn chế vận động CSC về các phía, triệu chứng này chúng tơi gặp với tỷ lệ

là 86,6%, phần lớn gặp BN đang trong giai đoạn đau CSC cấp tính, có triệu

chứng co cứng cơ cạnh CSC.

Tác giả Phan Việt Nga cho thấy, tỷ lệ triệu chứng hạn chế vận động CSC

về các phía: Năm (2013) là 86%, (2015) là 84,4%, (2017) là 94,4% [83].

Tóm lược: Nguyên nhân chủ yếu gây ra hạn chế vận động CSC là do bệnh

nhân đau, đặc biệt là hạn chế các tư thế xoay cổ.

4.2.3.2. Hội chứng chèn ép rễ thần kinh cổ

* Đau và rối loạn cảm giác kiểu rễ cổ

Triệu chứng đau và rối loạn kiểu rễ cổ (bảng 3.8), của chúng tôi gặp với tỷ

lệ là 85,4% chung cho cả 2 nhóm, tương tự kết quả của Hồ Hữu Lương là 85%

[19]. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Liên (2006) cho thấy, triệu chứng lâm sàng

của BN chèn ép rễ chủ yếu là đau cổ cơ học 100%, đau kiểu rễ cổ 85,7%, rối

loạn cảm giác kiểu tê bì, kiến bò 85,7% [89], thấp hơn kết quả của Trần Thị Tâm

(2002) gặp triệu chứng này là 93,75% [6]. Phan Việt Nga (2017), cho thấy tần

suất gặp triệu chứng đau và rối loạn cảm giác kiểu rễ cổ gặp 100% kết quả

nghiên cứu năm (2013, 2015) và 94,1% kết quả nghiên cứu năm 2017 [83].

Nguyên nhân của đau là do sự chèn ép của đĩa đệm và dây chằng dọc sau,

thêm vào đó chính màng cứng cũng có khả năng nhận cảm đau khi bị kích thích,

nhất là bao rễ thần kinh được chi phối bởi dây thần kinh cảm giác, khi bao rễ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Độ chèn ép TK

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×