Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.9: Đánh giá nguyên nhân về chỉ số pháp lý thấp điểm

Bảng 3.9: Đánh giá nguyên nhân về chỉ số pháp lý thấp điểm

Tải bản đầy đủ - 0trang

100

Nguyên nhân tại sao lại thấp như vậy? Hầu hết các doanh nghiệp đánh giá là

cán bộ các đơn vị từ cấp xã đến cấp tỉnh gây sách nhiễu mà họ khơng biết khiếu nại

ở đâu và nếu có sẽ càng cản trở và công việc, thời gian càng phải chờ đợi lâu và nếu

có được giải quyết các khiếu nại đó thì cũng khơng được thoả đáng. Thậm chí họ

còn phải trả các khoản chi phí mà khơng có trong khoản phí phải nộp, thời gian giải

quyết chậm, các kết luận không được thoả đáng. Một số chỉ tiêu của Chỉ số thiết chế

pháp lý là nguyên nhân gây ra giảm điểm như: Tòa án các cấp của tỉnh xử các vụ

kiện kinh tế còn chậm (chỉ có 59,29% doanh nghiệp cho rằng Tòa án các cấp của

tỉnh xử các vụ kiện kinh tế nhanh chóng (năm 2016 là 64%); Phán quyết của tòa án

được thi hành còn chậm (có 61,11% doanh nghiệp cho rằng phán quyết của tòa án

được thi hành nhanh chóng (năm 2016 là 71%); Tỷ lệ DN sẵn sàng sử dụng tòa án

để giải quyết các tranh chấp là 32,28% (năm 2016 là 42%).

Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu vẫn ở mức thấp như chỉ có 35,38% số doanh

nghiệp cho rằng hệ thống pháp luật có cơ chế giúp DN tố cáo hành vi tham nhũng

của cán bộ. Vậy cần khắc phục ngay những thiếu sót đó để các doanh nghiệp có

lòng tin với pháp luật trong lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.2.2.5. Chỉ số cạnh tranh bình đẳng

Kết quả điều tra các nhà lãnh đạo và các doanh nghiệp cho thấy điểm trung

bình chung là 2,85 có nghĩa là các chỉ tiêu NCS đưa ra để hỏi về nguyên nhân đánh

giá chỉ số này thấp điểm là có sự thống nhất với người hỏi và cơ bản người hỏi đều

cho rằng đây là các nguyên nhân dẫn đến việc đánh giá chỉ số này thấp điểm hiện

nay cụ thể:

Khơng có chỉ tiêu đạt mức điểm 3.4 trở nên đó là chỉ tiêu, chỉ có 2/12 chỉ tiêu

được đánh giá là “có nguyên nhân” là các chỉ tiêu như: Thủ tục vay vốn (CT 10:

3,17 điểm) và không thể vay vốn nếu khơng có thế chấp (CT 9: 3,19 điểm). Các chỉ

tiêu này nhờ sự can thiệp kịp thời của Chính phủ mà ngày nay các thủ tục vay vốn

được đơn giản hơn và các chính sách vay vốn cũng được mềm hoá hơn (Quy định

tại Điều 94 Bộ Luật dân sự). Như vậy có thể thấy trong cạnh tranh bình đẳng dù



101

doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng nào nhưng đảm bảo các tiêu chí trên thì đều có

thể bình đẳng vay vốn tại các ngân hàng. Còn lại 10/12 chỉ tiêu là nguyên nhân

“Quan trọng” ảnh hưởng đến chỉ số cạnh tranh bình đẳng bị thấp điểm. Trong đó có

một số chỉ tiêu có giá trị khá thấp, hay nói cách khác đây được coi là những nguyên

nhân quan trọng như chỉ tiêu: Tài chính, ngân hàng và vốn vay của DN (2,41); ưu

đãi cho doanh nghiệp FĐI hơn là doanh nghiệp trong nước (2,64); DNNN dễ dàng

có được các hợp đồng kinh tế hơn là các DNVVN (2,74); Vì DNNN thuận lợi trong

tiếp cận đất đai hơn là DNTN (2,81); Vì DNNN thuận lợi vay vốn tín dụng ngân

hàng hơn là DNTN (2,81); Tỷ trọng nợ của DNNN trong tỉnh lớn hơn so với tỷ

trọng nợ của DNDD (2,82); Chi phí cho cán bộ ngân hàng (2,84); Chính quyền tỉnh

ưu đãi doanh nghiệp Lớn hơn là DNVVN(2,86); ưu đãi cho Tổng cơng ty, tập đồn

nhà nước hơn là các DNTN(2,87) và DN chưa có chính sách nào ưu đãi để được

vay vốn (2,99).

Tuy nhiên điều quan trọng ở chỗ một số chỉ tiêu có vẻ như có sự khác biệt

trong đánh giá giữa nhóm doanh nghiệp và nhóm cán bộ quản lý như DNNN dễ

dàng có được các hợp đồng kinh tế hơn là các DNVVN các doanh nghiệp đánh

giá là nguyên nhân quan trọng thì các nhà lãnh đạo cho rằng nó chỉ là “có nguyên

nhân” hay chỉ tiêu DN khơng thể vay vốn nếu khơng có thế chấp các nhà lãnh đạo

cho rằng đây là nguyên nhân “không quan trọng”, còn đối với các doanh nghiệp

đó là có nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của

DN dẫn đến sự đánh giá thấp về chỉ số NLCT cấp tỉnh, điều này cũng thấy tương tự

trong một số các nhóm tiêu chí đánh giá nguyên nhân khác ở trong bảng 3.10.



102

Bảng 3.10: Đánh giá của các nhà lãnh đạo, doanh nghiệp về nguyên nhân

chỉ số cạnh tranh bình đẳng thấp điểm

Đơn vị tính: điểm



Các nguyên nhân



Lãnh

DN

Doanh

Tổng

ngoài

đạo

nghiệp

nhà

các cơ

mẫu

FDI

nước

(n = 689) quan

(n=271)

(n=104) (n =314)



CT1: ưu đãi cho Tổng cơng ty, tập đồn nhà nước

hơn là các DNTN



2,87



2,84



2,89



2,87



CT2: ưu đãi cho doanh nghiệp FĐI hơn là doanh

nghiệp trong nước



2,64



2,62



2,61



2,68



CT3: Chính quyền tỉnh ưu đãi doanh nghiệp Lớn

hơn là DNVVN



2,86



3,38



2,54



2,66



CT4- DNNN dễ dàng có được các hợp đồng kinh

tế hơn là các DNVVN



2,74



3,30



2,34



2,58



CT5- Vì DNNN thuận lợi trong tiếp cận đất đai

hơn là DNTN



2,81



3,36



2,65



2,41



CT6: Tỷ trọng nợ của DNNN trong tỉnh lớn hơn

so với tỷ trọng nợ của DNDD



2,82



2,88



2,72



2,85



CT7: Vì DNNN thuận lợi vay vốn tín dụng ngân

hàng hơn là DNTN



2,81



2,88



2,72



2,83



CT8: Tài chính,ngân hang và vốn vay của DN



2,41



2,19



2,53



2,52



CT9: DN khơng thể vay vốn nếu khơng có thế chấp



3,19



3,55



3,01



3,02



CT10: Thủ tục vay vốn



3,17



3,31



3,14



3,05



CT11: Chi phí cho cán bộ ngân hàng



2,84



3,21



2,61



2,70



CT12: DN chưa có chính sách nào ưu đãi để được

vay vốn



2,99



3,00



3,08



2,89



Điểm trung bình



2,85



3,04



2,74



2,76



Nguồn: kết quả xử lý số liệu điều tra, 2017

Ghi chú: 1,00-1,80: nguyên nhân rất quan trọng; 1,81-2,60: nguyên nhân quan trọng;

2,61- 3,40: có nguyên nhân; 3,41-4,20: nguyên nhân không quan trọng; 4,21-5,00: không

phải là nguyên nhân



Sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm người được khảo sát được khẳng

định khi dùng công cụ phân tích phương sai (ANOVA) tại mức ý nghĩa sai số 5%

(Phụ lục: 4.1.5).



103

Có sự nhìn nhận khác nhau về ngun nhân mà chỉ số NLCT cấp tỉnh bị đánh

giá thấp điểm giữa 3 nhóm được hỏi, nhóm cán bộ quản lý đánh giá mức độ ít quan

trọng hơn so với nhóm doanh nghiệp điều này cũng lý giải một phần tại sao trong

những năm qua tỉnh đã đưa ra nhiều chính sách mà chưa thể cải thiện và nâng cao

được các chỉ số NLCT của mình vì các chính sách đó có thể chưa thực sự phù hợp

với yêu cầu thực tiễn từ phía doanh nghiệp là những người có quyền đánh giá chỉ số

NLCT cấp tỉnh

Thông qua kiểm định có thể khẳng định các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết

quả chỉ số cạnh tranh bình đẳng có chỉ số bị thấp điểm là: (1) “Chính quyền tỉnh ưu

đãi doanh nghiệp Lớn hơn là DNVVN”, (2) DNNN dễ dàng có được các hợp đồng

kinh tế hơn là các DNVVN, (3) “Vì DNNN thuận lợi trong tiếp cận đất đai hơn là

DNTN” là những ngun nhân mà nhóm DN ngồi nhà nước và DN có vốn đầu tư

nước ngồi đánh giá “ Nguyên nhân quan trọng” thì các nhà lãnh đạo cho rằng đó

chỉ là “Có nguyên nhân ảnh hưởng”. Bên cạnh đó việc chính quyền tỉnh “ưu đãi cho

doanh nghiệp FDI hơn là doanh nghiệp trong nước” đặc biệt trong các lĩnh vực thuê

đất, tạo điều kiện thuận lợi để các dự án đã đăng ký đầu tư và được cấp chủ trương

đầu tư đi vào hoạt động, có mặt bằng sản xuất, hoàn thành các thủ tục để triển khai

dự án.

3.2.3. Đối với nhóm chỉ số NLCT cấp tỉnh giảm điểm

3.2.3.1. Chỉ số chi phí khơng chính thức

Theo kết quả đánh giá của các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Bắc

Giang thì chí phí khơng chính thức được coi là chỉ số có điểm số thấp trong các chỉ

số đánh giá năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Đánh giá nguyên nhân việc chỉ số này giảm điểm hiện nay, nghiên cứu sinh

sử dụng các chỉ tiêu để người hỏi có thể cho ý kiến đánh giá, kết quả cho thấy

khơng có tiêu chí nào được đanh giá bằng và lớn hơn điểm 3,4 điểm, hay nói cách

khác mọi người đều cho rằng đây là nguyên nhân hoặc nguyên nhân quan trọng dẫn

đến việc giảm điểm của chỉ số này (Điểm trung bình của chỉ số này là: 2,54 điểm)

Bảng 3.11.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.9: Đánh giá nguyên nhân về chỉ số pháp lý thấp điểm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×