Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết luận chương 3

Kết luận chương 3

Tải bản đầy đủ - 0trang

111

Chương 4

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CẤP TỈNH CỦA TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2018 2025

4.1.Định hướng phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2025

4.1.1. Những cơ hội và thách

thức Những cơ hội

Với vị trí địa lý nằm trong vùng kinh tế trọng điểm các tỉnh miền núi phía Bắc

và gần thủ đơ Hà Nội có hạ tầng về giao thơng (quốc lộ 1, đường vành đai 4, vành

đai 5, đường sắt) được cải tạo, nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc Giang giao

lưu trong vùng và kết nối với các vùng khác, trở thành một điểm trung chuyển hàng

hóa, một đầu mối giao thông kết nối với cảng biển, sân bay, cửa khẩu nhanh chóng

và dễ dàng hơn. Đây là cơ hội để Bắc Giang bứt phá trong thu hút đầu tư, liên kết

chặt chẽ hơn với TP Hà Nội và các tỉnh trong Vùng Thủ đô rất thuận lợi mang đến

cơ hội lớn cho phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang. Việc hoạch định chính sách

cần tập trung phát huy lợi thế so sánh này nhằm tạo đột phá trong phát triển của tỉnh

những năm tới.

Thành tựu phát triển khá ấn tượng về nhiều mặt trong giai đoạn 2006-2017 đã

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, cơ sở vật chất kỹ thuật của

tỉnh có nhiều đổi thay. Thế và lực của tỉnh ngày càng được củng cố, tạo tiền đề quan

trọng cho bước phát triển mới, cùng với sự phát triển năng động của vùng kinh tế

trọng điểm các tỉnh Miền núi phía Bắc và hồ nhập nền kinh tế cả nước trong tiến

trình hội nhập quốc tế. Chính quyền tỉnh kế thừa các chính sách đã ban hành để phát

huy tác dụng, tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh cho phù hợp các điều kiện mới.

Cụ thể, trong lĩnh vực sản xuất cơng nghiệp, các doanh nghiệp của tỉnh sẽ có

nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất, nhất là với mặt hàng

điện tử, máy tính và phụ kiện, hàng cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm, hoa quả…

Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, Vùng Thủ đô Hà Nội sẽ là một thị trường

rất lớn, nếu tận dụng và khai thác tốt, tỉnh Bắc Giang có thể trở thành nơi cung

cấp thực phẩm cho Vùng với các sản phẩm bảo đảm chất lượng, đạt các tiêu chuẩn

như rau, củ, quả, gà, lợn thịt… Về dịch vụ, Bắc Giang sẽ có cơ hội để trở thành

trung



112

tâm trung chuyển hàng hóa của Vùng Thủ đơ, Vùng Trung du và miền núi phía Bắc,

hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Mặt khác, với

khoảng cách tới trung tâm của Vùng khoảng 50km, Bắc Giang sẽ là điểm nghỉ

dưỡng cuối tuần hợp lý, từ đó sẽ tạo cơ hội thu hút đầu tư, phát triển du lịch văn

hóa, lịch sử, nghỉ dưỡng, sinh thái.

Bên cạnh đó tỉnh Bắc Giang là vùng tập trung đa dạng khống sản có khả

anwng cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.

Khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao tạo điều kiện phát triển đa dạng cây trồng, đặc biệt cây

ăn quả, là nguồn nguyên liệu tốt cho công nghiệp phát triển nông nghiệp, nông sản

và thực phẩm.

Là một tỉnh nằm trong khu vực chiến lược phát triển Thủ đô, theo “Quyết định

768/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2016 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch xây dựng

Vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, phạm vi Vùng

Thủ đơ Hà Nội gồm tồn bộ ranh giới của Thủ đô Hà Nội và 9 tỉnh xung quanh là:

Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Thái

Ngun và Bắc Giang (trong đó Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang là ba tỉnh

được mở rộng so với Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 05 tháng 5/ 2008 của Thủ

tướng Chính phủ: Về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến

năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050). Tổng diện tích tồn vùng khoảng 24 nghìn

km2. Kết cấu hạ tầng của nhiều khu vực, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh đang dần được

hoàn thiện như KCN, CCN, trục giao thông lớn, các khu đô thị, điểm du lịch, một

số cơng trình hạ tầng quan trọng của quốc gia. Các ưu thế đó cho phép tỉnh Bắc

Giang được quyền chủ động tính đến việc lựa chọn ngành nghề đầu tư để đảm bảo

khơng sử dụng lãng phí nguồn tài ngun đất và những lợi thế vốn có của mình so

với địa phương khác trong vùng.

Là Tỉnh miền núi, với địa bàn rộng, dân cư phân bổ rải rác ở các vùng, miền,

cơ bản không nhiều khu vực đất đai rộng tập chung để đầu tư khu kinh tế lớn (trừ

khu vực nay là khu công nghiệp Quang Châu và khu cơng nghiệp Vân Trung với

diện tích là 1163,7 ha... Chính do địa bàn Tỉnh cùng với phân bố dân cư phân tán rất

phù hợp cho Tỉnh phát triển các cụm cơng nghiệp, vì trong những năm vừa qua phát

triển các khu, cụm công nghiệp ngày càng khẳng định rõ vị trí, vai trò quan trọng



113

cho sự phát triển cơng nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đồng thời thực sự là cú hích thúc

đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút nguồn lao động tại chỗ và trở thành động

lực cho sự phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh.

Để khai thác triệt để lợi thể về đất đai, lao động và lợi thế vùng, đồng thời

giúp cho việc đầu tư đều giữa các vùng, huyện trong tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn, phát triển cân đối giữa các vùng miền trong tỉnh. Quan

điểm phát triển kinh tế chung phải hướng đến đẩy mạnh phát triển các CCN vừa và

nhỏ ở giáp trung tâm các huyện và ven thành phố Bắc Giang trên cơ sở phân bố hài

hồ giữa các ngành nghề cơng nghiệp, nơng nghiệp sản xuất, nông nghiệp thương

mại, nông nghiệp chế biến, dịch vụ, xây dựng, xã hội v.v. Coi trọng ngành nghề có

thu hút nhiều lao động nhăm giải quyết số lao động tại các vùng nông thôn. Trong

những năm tới Tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương,

đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là Luật Đất đai, Xây dựng,

Doanh nghiệp, Đầu tư… Xây dựng quỹ xúc tiến đầu tư, kêu gọi đầu tư bằng nhiều

hình thức. Có các chính sách ưu đãi hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật, ưu đãi về thuế,

khuyến khích kêu gọi đầu tư xây dựng hệ thống các trường đào tạo nghề, đáp ứng

nguồn nhân lực công nghệ cao cho các doanh nghiệp. Tăng nguồn vốn đầu tư cho

các trường dạy nghề và các chương trình đào tạo nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề

mới cho người lao động. Đồng thời, tăng cường phối kết hợp đồng bộ giữa các

ngành, các cấp trong chỉ đạo thực hiện quản lý quy hoạch. Tiếp tục cải cách hành

chính, tạo mơi trường đầu tư thơng thống, minh bạch và hấp dẫn. Thường xuyên

tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tiến độ đầu tư các dự án đã thuê đất trong

các khu, CCN, yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện đúng tiến độ đầu tư đã cam kết

trong dự án, kiên quyết thu hồi đất đối với các dự án chậm đầu tư. Đẩy nhanh công

tác giám sát thực hiện Luật Môi trường, Luật Tài nguyên nước. Yêu cầu các chủ

đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp đẩy nhanh việc đầu tư các cơng trình cấp nước

sạch và các cơng trình xử lý nước thải, rác thải cơng nghiệp trong các khu công

nghiệp. Kiên quyết xử lý các đơn vị vi phạm gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Những thách thức

Điểm xuất phát thấp và quy mô nền kinh tế tỉnh còn nhỏ bé, thu nhập chưa

cao. Sức cạnh tranh cấp tỉnh, doanh nghiệp và sản phẩm chưa cao. Tiến độ cơ cấu

lại nền kinh tế còn chậm. Mơi trường đầu tư, kinh doanh còn hạn chế, chưa thu hút



114

được dự án lớn tạo sự bứt phá, trình độ sản xuất, cơng nghệ còn lạc hậu. Tăng

trưởng kinh tế khu vực công nghiệp chủ yếu dựa vào khu vực FDI, quy mơ, năng

lực doanh nghiệp trong tỉnh nhìn chung nhỏ bé, sức cạnh tranh yếu.

Sản xuất nông nghiệp mặc dù đã tạo được các vùng sản xuất hàng hóa nhưng

nhìn chung còn phân tán, nhỏ lẻ. Chất lượng hàng hóa nơng sản còn thấp, chủ yếu

tiêu thụ thị trường trong nước. Việc áp dụng công nghệ, phương thức canh tác hiện

đại còn nhiều hạn chế, năng suất, chất lượng cây trồng, vật ni còn thấp. Chưa có

nhiều mơ hình tổ chức sản xuất tạo chuỗi liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ.

Doanh nghiệp tham gia vào đầu tư, sản xuất nông nghiệp chưa nhiều. Công tác quản

lý nhà nước về giống, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật còn thiếu chặt

chẽ. Đầu tư chiến lược cho phát triển nông nghiệp theo quy hoạch chưa đủ mạnh.

Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực còn thiếu và chưa đồng bộ, chất

lượng quy hoạch hạn chế, thiếu tầm nhìn chiến lược. Đầu tư xây dựng cơ bản còn

dàn trải nhất là cấp huyện và cơ sở dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản lớn.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, hạ tầng giao thông xuống

cấp, nhỏ hẹp. Hệ thống giao thông đường thủy, đường sắt chưa được phát huy; còn

nhiều cơng trình đê điều, kênh mương, thủy lợi xuống cấp do thiếu vốn đầu tư. Hạ

tầng thương mại, dịch vụ, du lịch chưa phát triển. Trình độ tổ chức kinh doanh

thương mại, dịch vụ, tài chính ngân hàng còn thấp, chất lượng dịch vụ hạn chế.

Tình trạng hàng hóa trốn thuế, nhập lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng,… còn diễn

biến phức tạp. Ơ nhiễm mơi trường do nước thải, rác thải, hóa chất độc hại… ở cả

thành thị và nơng thơn đang có nguy cơ gia tăng.

Chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa xã hội cải thiện còn chậm.

Giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng cho học sinh chuyển biến chậm. Tình trạng quá

tải ở các bệnh viện còn cao. Trang thiết bị y tế còn thiếu và khơng đồng bộ. Đời

sống văn hóa của nhân dân ở nhiều nơi còn nghèo nàn, thiếu cơ sở và phương tiện

phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao. Tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận

thanh thiếu niên đang có những biểu hiện lệch lạc, xuống cấp. Trình độ nghề của

người lao động còn thấp. Cơng tác đào tạo nghề chưa sát với nhu cầu của doanh

nghiệp. Đời sống nhân dân, nhất là công nhân trong các khu công nghiệp, một bộ

phận đồng bào dân tộc, miền núi gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo

còn cao. Cơng tác giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo, nhất là ở vùng

đồng bào dân tộc còn lớn.



115

Cơng tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp có mặt còn hạn

chế. Quản lý nhà nước trên một số mặt còn nhiều lỏng lẻo, sơ hở; việc tổ chức thanh

tra, kiểm tra ở một số cấp, ngành còn bng lỏng. Việc phát huy vai trò giám sát

của nhân dân còn thiếu cơ chế khuyến khích. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở

một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế, thiếu cơng khai, minh bạch;

quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ, nhiều ý kiến, kiến nghị

của nhân dân chưa được tơn trọng tiếp thu. Kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số

nơi chưa nghiêm. Năng lực, trình độ của một số cán bộ, cơng chức còn yếu; tình

trạng sách nhiễu, thái độ thờ ơ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức trong

giải quyết công việc gây bức xúc trong nhân dân. Cải cách hành chính, nhất là thủ

tục hành chính trên một số mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu.

4.1.2. Định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang giai đoạn

2018-2025

Căn cứ Báo cáo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVIII

nhiệm kỳ 2015-2020 năm 2015; Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2015-2020 năm 2015 và Nghị quyết của Ban chấp hành

Đảng bộ tỉnh về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trên địa bàn tỉnh, giai đoạn

2016-2020, năm 2016

4.1.2.1. Định hướng phát triển

Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, lấy tăng trưởng hợp lý, bền vững làm

quan điểm xuyên suốt. Phát triển kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng

xã hội trong từng bước của quá trình phát triển, đảm bảo phát triển cân đối giữa khu

vực thành thị, nông thôn và khu vực vùng sâu.

Khai thác tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, chuyển dịch nhanh cơ

cấu nguồn vốn đầu tư theo hướng tăng nhanh tỷ trọng huy động từ khu vực ngoài

nhà nước. Tăng trưởng kinh tế dựa trên sự bứt phá mạnh về chất lượng và trình độ

khoa học cơng nghệ.

4.1.2.2. Mục tiêu phát triển

Mục tiêu tổng quát

Phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của địa phương, sức mạnh tổng hợp của nhân

dân, đưa Bắc Giang phát triển nhanh , toàn diện , vƣ̃ ng chắ c ; bảo đảm vững

chắc



116

quốc phòng, an ninh; có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ chung của cả

nước, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, trọng tâm là

hạ tầng giao thông, công nghiệp, đô thị, dịch vụ, nông nghiệp, nông thôn.

Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội phát triển tồn diện thuộc nhóm

tiên tiến của cả nước. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc, quyền

làm chủ của nhân dân được phát huy cao độ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân

dân được cải thiện rõ rệt, có mức thu nhập bình quân đầu người nằm trong các tỉnh

đứng đầu khu vực của vùng Trung du và miền núi phía Bắc và bằng bình qn cả

nước; vị thế, hình ảnh tỉnh Bắc Giang được nâng lên tầm cao mới.

Mục tiêu cụ thể của giai đoạn 2018-2025

- Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 10 - 11%/năm. Cơ cấu kinh tế:

Công nghiệp - xây dựng chiếm 42 - 43%; Dịch vụ chiếm 38 -39%; Nông, lâm

nghiệp và thuỷ sản chiếm 18 - 20%.

- GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 3.200 - 3.500 USD.

- Thu ngân sách trên địa bàn năm 2025 đạt trên 5.300 tỷ đồng.

- Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2015-2025 đạt khoảng

250 nghìn tỷ đồng.

- Giá trị sản xuất trên 1ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2025 đạt khoảng 120150 triệu đồng.

- Tạo việc làm tăng thêm bình quân mỗi năm 29.000 - 30.000 lao động. Tỷ lệ

lao động qua đào tạo đạt 70%.

4.2. Các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc

Giang giai đoạn 2018-2025

Giải pháp nêu ra trong luận án hướng tới không dàn trải, không đi theo tính hệ

thống mà đảm bảo tính trọng tâm. Tính trọng tâm hướng vào những chỉ số thành

phần có điểm số thấp và những chỉ số thành phần theo chuỗi thời gian từ năm 2006

đến nay ít được cải thiện hay thậm chí suy giảm. Mặt khác các giải pháp nâng cao

chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh phải căn cứ vào định hướng phát triển của tỉnh

và mục tiêu phát triển các ngành kinh tế của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2015

cũng như xuất phát từ phân tích thực trạng nguyên nhân chỉ số NLCT bị thấp và

giảm điểm của tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết luận chương 3

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×