Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chỉ số tính năng động

Chỉ số tính năng động

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bên cạnh đó cũng có một số chỉ tiêu được đánh giá tốt như: UBND tỉnh linh

hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các

doanh nghiệp tư nhân hay có 77,78% các doanh nghiệp trong tỉnh đánh giá những

sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa được thực thi tốt ở các Sở, ngành và thấp hơn

mức trung vị của cả nước là 0,79%.

3.2.Phân tích nhân tố đưa vào nghiên cứu tìm ngun nhân ảnh hưởng đến kết

quả đánh giá các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại tỉnh Bắc Giang bị

thấp và giảm điểm





3.2.1. Kiểm định thang đo qua hệ số Cronbach s Alpha





Hệ số Cronbach s Alpha cũng được sử dụng dựa trên các thang đo trong các

tiêu chí tác giả đưa vào câu hỏi tìm hiểu nguyên nhân đánh giá về chỉ số NLCT cấp

tỉnh trong phần lý luận, tác giả lựa chọn 86 biến quan sát mà qua điều tra xin ý kiến

của các doanh nghiệp có đưa ra ảnh hưởng.

Kết quả phân tích độ tin cậy cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của các thang

đo đều có giá trị trên 0,60. Thấp nhất là thang đo Chỉ số đào tạo lao động

(α=0,607), cao nhất là thang đo Chỉ số tính minh bạch (α= 0,770). Xem xét hệ số

tương quan biến tổng cho thấy các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng

khá chặt chẽ giữa các biến quan sát (thấp nhất là biến quan sát ND6 có tương quan

biến tổng là 0,570 và cao nhất là MB5 có tương quan biến tổng là 0,929). Kết quả

được trình bày tại Bảng 3.5





Bảng 3.5: Minh họa kết quả kiểm định Cronbach s Alpha cho biến

nguyên

nhân để nâng cao chỉ số NLCT cấp tỉnh

Nhóm biến







Cronbach s Alpha



Kết luận



1. Chỉ số gia nhập thị trường



0,702



Chấp nhận được



2. Chỉ số tiếp cận đất đai



0,708



Chấp nhận được



2. Chỉ số Tính minh bạch



0,770



Chấp nhận được



4. Chỉ số Thiết chế pháp lý



0,746



Chấp nhận được



5. Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng



0,763



Chấp nhận được



6. Chỉ số chi phí khơng chính thức



0,758



Chấp nhận được



7. Chỉ số đào tạo lao động



0,607



Chấp nhận được



8. Chỉ số tính năng động của cán bộ lãnh đạo



0,722



Chấp nhận được



Nguồn: Trích từ kết quả xử lý số liệu điều tra, 2017



3.2.2. Đối với nhóm chỉ số NLCT cấp tỉnh thấp điểm

3.2.2.1. Đối với chỉ số Gia nhập thị trường

Bảng 3.6: Đánh giá nguyên nhân về chỉ số gia nhập thị trường thấp điểm

Đơn vị tính: điểm



Các ngun nhân



Tổng



Lãnh đạo



DN ngồi



mẫu



các cơ quan



nhà nước



(n = 689)



(n=104)



(n =314)



Doanh

nghiệp

FDI

(n=271)



TT1



Lợi thế vị trí của tỉnh



3,67



3,72



3,63



3,65



TT2



Cơ sở hạ tầng



3,14



3,40



3,14



2,89



TT3



Nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh



3,85



3,94



3,71



3,91



2,69



2,76



2,60



2,72



2,79



4,04



2,15



2,14



3,15



3,41



2,93



3,10



3,05



3,29



2,82



3,04



3,56



3,85



3,56



3,26



3,53



3,85



3,56



3,19



3,26



3,43



3,15



3,19



2,03



3,41



2,68



2,76



2,57



2,90



2,47



2,34



2,72



2,54



2,86



2,76



3,09



3,37



3,06



3,14



Đội ngũ cán bộ cơng chức (CBCC) có phẩm

TT4



chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính

cấp xã (phường)

Đội ngũ cán bộ cơng chức (CBCC) có phẩm



TT5



chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính

cấp huyện (Thành phố)

Đội ngũ cán bộ cơng chức (CBCC) có phẩm



TT6



chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính

cấp tỉnh



TT7

TT8

TT9

TT10

TT11

TT12

TT13



Thủ tục hành chính (đảm bảo tính hợp lý,

khoa học và đồng bộ) cấp tỉnh

Chính quyền tỉnh có đồng hành cùng DN

Chính quyền huyện, TP có đồng hành cùng

DN

Chính quyền xã có đồng hành cùng DN

Thành phố (Huyện) có áp dụng kê khai thuế

qua mạng

Tỉnh có áp dụng kê khai thuế qua mạng

Thời gian chờ đợi để DN hồn thành các thủ

tục

Điểm trung bình



Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra, 2017

Ghi chú: 1,00-1,80: nguyên nhân rất quan trọng; 1,81-2,60: nguyên nhân quan trọng;

2,61-3,40: có nguyên nhân; 3,41-4,20: nguyên nhân không quan trọng; 4,21-5,00: không

phải là nguyên nhân.



Từ số liệu điều tra cho thấy điểm trung bình chung là 3,09 có nghĩa là các chỉ

tiêu NCS đưa ra để hỏi về nguyên nhân đánh giá chỉ số này thấp điểm là có sự

thống nhất với người hỏi và cơ bản người hỏi đều cho rằng đây là các nguyên nhân

dẫn đến việc đánh giá chỉ số này thấp điểm hiện nay. Trong đó có một số chỉ tiêu có

giá trị khá thấp, hay nói cách khác đây được coi là những nguyên nhân quan trọng

như chỉ tiêu: Đội ngũ cán bộ cơng chức (CBCC) có phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ

năng hành chính cấp xã (phường) (2,69), hay Đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) có

phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính cấp huyện (Thành phố) (2,90);

Thủ tục hành chính (đảm bảo tính hợp lý, khoa học và đồng bộ) cấp tỉnh (3,05);

Thành phố (Huyện) có áp dụng kê khai thuế qua mạng (2,03); Tỉnh có áp dụng kê

khai thuế qua mạng (2,57); Thời gian chờ đợi để DN hoàn thành các thủ tục (2,72).

Tuy nhiên điều quan trọng ở chỗ một số chỉ tiêu có vẻ như có sự khác biệt

trong đánh giá giữa nhóm doanh nghiệp và nhóm cán bộ quản lý như về phẩm chất,

năng lực đội ngũ cán bộ các cấp trong khi doanh nghiệp đánh giá là ngun nhân rất

quan trọng (2,14 và 2,15) thì nhóm cán bộ quản lý lại cho rằng nguyên nhân không

quan trọng (4,04) dẫn đến sự đánh giá thấp về chỉ số NLCT cấp tỉnh, điều này cũng

thấy tương tự trong một số các nhóm tiêu chí đánh giá ngun nhân khác ở trong

bảng 3.6.

Sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm người được khảo sát được khẳng

định khi dùng cơng cụ phân tích phương sai (ANOVA) tại mức ý nghĩa sai số 5%

(Phụ lục: 4.1.1)

Có sự nhìn nhận khác nhau về nguyên nhân mà chỉ số NLCT cấp tỉnh bị đánh

giá thấp điểm giữa 3 nhóm được hỏi, nhóm cán bộ quản lý đánh giá mức độ ít quan

trọng hơn so với nhóm doanh nghiệp điều này cũng lý giải một phần tại sao trong

những năm qua tỉnh đã đưa ra nhiều chính sách mà chưa thể cải thiện và nâng cao

được các chỉ số NLCT của mình vì các chính sách đó có thể chưa thực sự phù hợp

với yêu cầu thực tiễn từ phía doanh nghiệp là những người có quyền đánh giá chỉ số

NLCT cấp tỉnh của VCCI.

Thông qua kết quả khảo sát và các kiểm định thống kê có thể khẳng định các

yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chỉ số gia nhập thị trường là: (1) “Phẩm chất đạo đức

của CBCC và thủ tục hành chính”, (2) “Chính quyền có đồng hành cùng doanh



nghiệp”, (3) “TTHC, Cán bộ cấp xã có đồng hành cùng doanh nghiệp”, (4) “Thời

gian chờ đợi để các doanh nghiệp hoàn thành các tủ tục”, là nguyên nhân làm cho

chỉ số NLCT cấp tỉnh bị thấp điểm trong thời gian qua.

3.2.2.2. Đối với chỉ số tiếp cận đất đai và sử dụng đất

Để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, thì nguồn tài nguyên, đất đai là

một trong những yếu tố quan trọng, công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

hiệu quả cũng là yếu tố sẽ giúp quá trình hình thành năng lực cạnh tranh của mỗi

địa phương.

Đánh giá nguyên nhân Chỉ số tiếp cận đất đai thấp điểm hiện nay nghiên cứu

sử dụng các tiêu chí đánh giá như sau: Cơng tác quy hoạch đất đai có được cơng

khai ở cấp Xã (cấp huyện, TP, Tỉnh); Quy trình Cấp GCNQSDĐ phức tạp; Thủ tục

giao đất cho th đất có thơng báo theo quy định; Thủ tục chuyển mục đích sử dụng

đất hướng dẫn hay thơng báo theo quy định; Thời gian hồn thành các thủ tục cơng

tác giải phóng mặt bằng có đúng hẹn; Chính sách giá đất cao; Chính sách giá đất

phù hợp; Chính sách giá đất thấp; Ban Quản lý khu cơng nghiệp trong cơng tác bố

trí mặt bằng phù hợp; Tính ổn định đất đai của doanh nghiệp.

Từ số liệu điều tra nguyên nhân cho thấy điểm trung bình chung là 3.22 điểm

có thể thấy các chỉ tiêu NCS đưa ra để hỏi vê nguyên nhân đánh giá tại sao chỉ số

này bị thấp điểm là có sự thống nhất với người hỏi và cơ bản người hỏi đều cho

rằng đây là các nguyên nhân dẫn đến việc đánh giá chỉ số này thấp điểm hiện nay.

Trong đó có một số chỉ tiêu có giá trị khá thấp, hay nói cách khác đây được coi là

những nguyên nhân quan trọng cụ thể: Trong 12 chỉ tiêu này có 5 chỉ tiêu có mức

điểm đánh giá thấp đó là: Cơng tác quy hoạch đất đai có được cơng khai ở cấp Xã

(cấp huyện, TP, Tỉnh) (điểm trung bình 2,32); Quy trình Cấp GCNQSDĐ phức tạp

(3,24 điểm) và Thời gian hoàn thành các thủ tục cơng tác giải phóng mặt bằng có

đúng hẹn (2,60 điểm) thấp hơn điểm trung bình của cả nhóm 0,62 điểm và thấp hơn

điểm cao nhất là 1,26 điểm. Qúa trình tìm hiểu nguyên nhân tại sao chỉ tiêu này bị

điểm thấp như vậy, hầu hết các ý kiến cho rằng: Tất cả các bộ phận liên quan đến

thủ tục đất đai chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp ở tất cả các công đoạn

liên quan đến thủ tục đất đai.



Bảng 3.7: Đánh giá nguyên nhân của chỉ số tiếp cận đất đai thấp điểm

Đơn vị tính: điểm



Các ngun nhân



DD1. Cơng tác quy hoạch đất đai có được công

khai ở cấp Xã

DD2. Công tác quy hoạch đất đai có được cơng

khai ở cấp huyện (thành phố)

DD 3. Cơng tác quy hoạch đất đai có được cơng

khai ở cấp tỉnh

DD 4. Quy trình Cấp GCNQSDĐ phức tạp

DD 5. Thủ tục giao đất cho th đất có thơng báo

theo quy định

DD 6. Thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất hướng

dẫn hay thông báo theo quy định

DD 7. Thời gian hồn thành các thủ tục cơng tác

giải phóng mặt bằng có đúng hẹn

DD 8. Chính sách giá đất cao so với thị trường

DD 9. Chính sách giá đất phù hợp so với thị trường

DD 10. Chính sách giá đất thấp hơn so với thị trường

DD 11 Ban Quản lý khu cơng nghiệp trong cơng tác

bố trí mặt bằng phù hợp

DD12: Tính ổn định của đất đai trong DN

Điểm trung bình



Tổng

mẫu

(n =

689)



Lãnh đạo DN ngồi Doanh

các cơ

nhà

nghiệp

quan

nước

FDI

(n=104) (n =314) (n=271)



3,25



3,38



3,05



3,31



2,32



2,19



2,50



2,28



2,35



2,03



2,58



2,43



3,24



2,78



3,20



3,75



3,38



3,46



3,45



3,22



3,56



3,72



3,51



3,44



2,60



2,30



2,86



2,64



3,67

3,62

3,65



3,72

3,32

3,60



3,63

3,71

3,68



3,67

3,83

3,67



3,86



3,94



3,71



3,93



3,19

3,22



3,54

3,17



3,07

3,25



2,97

3,26



Nguồn: kết quả xử lý số liệu điều tra, 2017

Ghi chú: 1,00-1,80: nguyên nhân rất quan trọng; 1,81-2,60: nguyên nhân quan trọng;

2,61-3,40: có ngun nhân; 3,41-4,20: ngun nhân khơng quan trọng; 4,21-5,00: khơng

phải là ngun nhân



Khả năng để giành vị trí sớm hơn đi vào ổn định hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp đối với vấn đề quyền sử dụng đất rất quan trọng. Có 62,7%

số doanh nghiệp được hỏi trả lời hài lòng về tính ổn định của mặt bằng kinh doanh

mà doanh nghiệp đã nhận từ tỉnh Bắc Giang. Vậy số còn lại chưa hài lòng nguyên

nhân do đâu.

Sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm người được khảo sát được khẳng

định khi dùng công cụ phân tích phương sai (ANOVA) tại mức ý nghĩa sai số 5%



(Phụ lục: 4.1.2). Kết quả kiểm định có thể khẳng định sự khác biệt trong đánh giá

các nguyên nhân ảnh hưởng đến chỉ số đất đai của tỉnh Bắc Giang được thể hiện như

sau:

Một là: Công tác quy hoạch đất đai có được cơng khai ở cấp huyện (thành phố)

(DD2); Quy trình Cấp GCNQSDĐ phức tạp (DD4); Thủ tục giao đất cho th đất có

thơng báo theo quy định (DD5) ; Tính ổn định của đất đai trong DN (DD12) doanh

nghiệp đánh giá là nguyên nhân quan trọng và có ngun nhân, về phía chính quyền

đánh giá đó là ngun nhân khơng quan trọng.

Hai là: Thời gian hồn thành các thủ tục cơng tác giải phóng mặt bằng có đúng

hẹn (DD7); Chính sách giá đất phù hợp so với thị trường (DD9) chính quyền lãnh đạo

tỉnh đánh giá là nguyên nhân quan trọng nhưng DN chỉ ra rằng có nguyên nhân và

nguyên nhân đó có thể chấp nhận được.

Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến chỉ số NLCT cấp tỉnh trong

thời gian qua. Chính quyền các cơ quan quản lý chưa đáp ứng kịp thời đúng và

trúng các yêu cầu cấp bách mà DN đã và đang cần chính quyền cấp tỉnh có một

chính sách nhất định để thực hiện giúp cho các doanh nghiệp ổn đinh mặt bằng cơ

sở và phát triển DN.

3.2.2.3. Chỉ số tính minh bạch

Kết quả điều tra của các doanh nghiệp trong và ngoài nước về nguyên nhân

thấp điểm của chỉ số tính minh bạch được thể hiện bảng 3.8 cho thấy điểm trung

bình chung là 3.35 kết luận là “Có nguyên nhân” có nghĩa là các chỉ tiêu NCS đưa

ra để hỏi về nguyên nhân đánh giá chỉ số này thấp điểm là có sự thống nhất với

người hỏi và cơ bản người hỏi đều cho rằng đây là các nguyên nhân dẫn đến việc

đánh giá chỉ số này thấp điểm trong giai đoạn 2006-2017 này. Có 3/8 chỉ tiêu được

đánh giá mức độ “nguyên nhân không quan trọng” cụ thể là các chỉ tiêu: Tài liệu

pháp lý có liên quan đến DN được dễ dàng hay không (MB1:3,95 điểm); Chỉ tiêu

Các chính sách và quy định mới cấp huyện có được tham khảo ý kiến DN

(MB2:3.63 điểm) và Mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với DN (MB5 : 3.45

điểm). Còn lại cho thấy có 5 chỉ tiêu có điểm số nhỏ hơn 3.4 điểm trên thang điểm 5

chủ yếu bởi các nguyên nhân như: Việc triển khai thực hiện các chính sách quy định

đó có kịp thời (2,76 điểm); Sự minh bạch về thông tin và chính sách của chính

quyền tại huyện (3,06 điểm); Sự minh bạch về thơng tin và chính sách của chính

quyền tại tỉnh (3,19 điểm); Tài chính minh bạch trong mối quan hệ giữa thuế và chi

phí của chính quyền (3,35 điểm). Có thể nói khó có thể tiếp cận được các văn bản

hướng dẫn, các kế hoạch của địa phương gây cản trở



trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp cụ thể như: Thông báo thuế, hay các kết

luận của các đợt thanh tra kiểm tra môi trường…

Bảng 3.8: Đánh giá nguyên nhân về chỉ số Tính minh bạch thấp điểm

Đơn vị tính: điểm

Các nguyên nhân



Tổng

mẫu

(n =

689)



MB1: Tài liệu pháp lý có liên quan đến DN

được dễ dàng



3,95



4,32



3.01



4.52



MB2: Các chính sách và quy định mới cấp

huyện có được tham khảo ý kiến DN



3,63



4,30



3.26



3.35



MB3: Các chính sách và quy định mới cấp tỉnh

có được tham khảo ý kiến DN



3,16



3,31



2,99



3,19



MB4: Việc triển khai thực hiện các chính sách

quy định đó có kịp thời



2,76



2,82



2,59



2,86



MB5: Mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối

với DN.



3.45



3.48



3.12



3.75



MB6: Sự minh bạch về thơng tin và chính sách

của chính quyền tại huyện



3,06



3,11



3,04



3,04



3,19



3,03



3,08



3,46



3,35



3,60



3,25



3,21



3,35



3,58



3,04



3,43



MB7: Sự minh bạch về thông tin và chính sách

của chính quyền tại tỉnh

MB8: Tài chính minh bạch trong mối quan hệ

giữa thuế và chi phí của chính quyền

Điểm trung bình



Lãnh đạo DN ngồi Doanh

các cơ

nghiệp

nhà

quan

FDI

nước

(n=104) (n =314) (n=271)



Nguồn: kết quả xử lý số liệu điều tra, 2017

Ghi chú: 1,00-1,80: nguyên nhân rất quan trọng; 1,81-2,60: nguyên nhân

quan trọng; 2,61-3,40: có ngun nhân; 3,41-4,20: ngun nhân khơng quan trọng;

4,21-5,00: không phải là nguyên nhân



Trong đánh giá nguyên nhân về chỉ số Tính minh bạch thấp điểm cho thấy sự

khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm người được khảo sát được khẳng định khi

dùng cơng cụ phân tích phương sai (ANOVA) tại mức ý nghĩa sai số 5% (Phụ lục:

4.1.3).

Từ kết quả đánh giá có sự khác biệt đó NCS tìm hiểu ngun nhân cho thấy:

Trong những năm qua sự nỗ lực của tỉnh đã tạo được một số kết quả mang tính kỹ

thuật, như xây dựng Cổng thông tin điện tử, thành lập các trang web tỉnh Bắc Giang

và các Sở (theo Quyết định số 97/GP-TTĐT do Cục phát thanh Truyền hình và

thơng tin điện tử cấp ngày 16/7/2012) để cung cấp thông tin rộng rãi các văn bản



pháp quy của tỉnh và của huyện của các sở ngành. Tuy rằng có muộn so với các tỉnh

khác trong khu vực song đến nay 100% các bộ công chức đã có hộp thư điện tử

riêng, nhưng số cán bộ sử dụng thường xuyên chiếm tỷ trọng chưa cao (36,5%).

Bên cạnh đó nội dung trang web còn nghèo nàn thiếu thông tin, hiệu quả cung cấp

thông tin cho DN còn chưa cao cụ thể: Sở tài ngun và mơi trường, Sở tài chính,

Trung tâm xúc tiến đầu tư, Trung tâm xúc tiến thương mại - Sở kế hoạch đầu tư, Sở

thông tin và truyền thông…

Các văn bản, tài liệu chưa công khai sau khi đã được duyệt đặc biệt là tài liệu

về Ngân sách. Bên cạnh đó để tiếp cận được các văn bản, thơng tin này thì phải nhờ

mối quan hệ mói có.

Kết quả khảo sát của nghiên cứu sinh còn cho biết mức độ trao đổi thảo luận

chính sách khi có sự thay đổi giữa chính quyền cấp tỉnh và DN chưa được sâu sắc,

với 44,8% cho là thỉnh thoảng 33,1% cho là hiếm khi và 22,1% không bao giờ. Như

vậy việc chưa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngồi nước nói riêng các doanh

nghiệp nói chung tham gia vào quá trình xây dựng các kế hoạch, quy định… khơng

những làm giảm tính khả thi trong thực hiện các chính sách của tỉnh, các doanh

nghiệp là người trực tiếp chịu ảnh hưởng, họ ít hiểu biết về các chương trình chính

sách, các cơ chế hỗ trợ,… do vậy đã làm giảm đi những nỗ lực của tỉnh trong “con

mắt” các nhà DN. Đồng thời làm giảm đi tính minh bạch, tính cơng bằng, sự ổn

định trong việc thực thi các quy định của Nhà nước và của tỉnh. Bên cạnh đó DN

còn gặp khó khăn trong dự đốn chính sách của tỉnh (chỉ khoảng 18% là dự đốn

được các chính sách của tỉnh là nhờ có các kênh thông tin khác). Do vậy, khiến DN

phải thương lượng với cán bộ Nhà nước trong hoạt động kinh doanh của mình

những lĩnh vực thường xun thỏa thuận đó là: Lĩnh vực thuế, tài chính, đầu tư, đất

đai…) trong hoạt động kinh doanh của mình.

3.2.2.4. Chỉ số thiết chế pháp lý

Có 11 chỉ tiêu nghiên cứu sinh đưa ra để hỏi về nguyên nhân đánh giá chỉ số

thiết chế pháp lý bị thấp điểm là có sự thống nhất với người hỏi và cơ bản người hỏi

đều cho rằng đây là các nguyên nhân dẫn đến việc đánh giá chỉ số này thấp điểm

hiện nay. Cụ thể các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài trong đánh giá nguyên nhân bị thấp điểm cho thấy là khơng có chỉ tiêu nào có

điểm đánh giá là “Nguyên nhân không quan trọng” hay “Không phải là nguyên

nhân”, điểm trung bình của chỉ số thiết chế pháp lý được đánh giá rất thấp (2,68

điểm - là có nguyên nhân và có thể coi đó là nguyên nhân quan trọng), khơng có



nhân tố nào được cho điểm 3,40 trở lên. Chỉ có 02 chỉ tiêu được các nhà lãnh đạo và

các doanh nghiệp đánh giá rất thấp và là “Nguyên nhân rất quan trọng” đó là: Do số

lượng đơn nhiều ở cấp huyện, tỉnh là nguyên nhân chậm trễ (PL9, PL10 -với điểm

số là 1,98 và 2,08 điểm). Sau đó là nguyên nhân được cả các nhà lãnh đạo và các

doanh nghiệp đánh giá là nguyên nhân “Quan trọng” là Lòng tin của các tổ chức (cá

nhân, doanh nghiệp) đối với cơ quan nội chính và tư pháp của tỉnh (PL2 :2,63

điểm). Điểm trung bình của chỉ số thiết chế pháp lý đạt 2,68 điểm. Có thể nói đây

chính là nguyên nhân làm cho chỉ số thiết chế pháp lý bị thấp điểm trong suốt 12

năm qua, Cụ thể được mô tả bảng 3.9 như sau:

Bảng 3.9: Đánh giá nguyên nhân về chỉ số pháp lý thấp điểm

Đơn vị tính: điểm



Các ngun nhân



PL1. Lòng tin của các tổ chức (cá nhân, doanh nghiệp)

đối với cơ quan nội chính và tư pháp của huyện.

PL 2. Lòng tin của các tổ chức (cá nhân, doanh nghiệp)

đối với cơ quan nội chính và tư pháp của tỉnh

PL 3. Thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem

là cơng cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp

PL 4. Doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng

nhiễu của CBCC tại xã

PL 5. Doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng

nhiễu của CBCC tại huyện (Thành phố)

PL 6. Doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng

nhiễu của CBCC tại tỉnh

PL 7. Các kết luận đưa ra của tòa án huyện trong xử lý

các tranh chấp

PL 8. Các kết luận đưa ra của tòa án tỉnh trong xử lý

các tranh chấp

PL 9. Do số lượng đơn nhiều, ở cấp huyện là nguyên

nhận chậm trễ

PL 10. Do số lượng đơn nhiều ở cấp tỉnh là nguyên

nhận chậm trễ

PL11. Chi phí cho giải quyết các thủ tục chưa đúng

Điểm trung bình



Tổng

mẫu

(n = 689)



DN

Lãnh

Doanh

đạo

ngồi

nghiệp

nhà

các cơ

FDI

nước

quan

(n=271)

(n=104) (n =314)



2,82



2,38



3,12



2,96



2,63



2,39



2,72



2,79



2,91



2,78



3,20



2,74



2,82



3,24



2,57



2,65



2.60



2,39



2,72



2,70



2,86



2,84



2,89



2,86



2,81



2,62



3,09



2,72



2,83



2,84



2,80



2,86



2,18



2,37



1,98



2,18



2,25



2,57



2,08



2,10



2.79

2,68



2.84



2.80



2,73



2,66



2,72



2,66



Nguồn: kết quả xử lý số liệu điều tra, 2017

Ghi chú: 1,00-1,80: nguyên nhân rất quan trọng; 1,81-2,60: nguyên nhân quan trọng;

2,61-3,40: có nguyên nhân; 3,41-4,20: nguyên nhân không quan trọng; 4,21-5,00: không

phải là nguyên nhân



100

Nguyên nhân tại sao lại thấp như vậy? Hầu hết các doanh nghiệp đánh giá là

cán bộ các đơn vị từ cấp xã đến cấp tỉnh gây sách nhiễu mà họ khơng biết khiếu nại

ở đâu và nếu có sẽ càng cản trở và công việc, thời gian càng phải chờ đợi lâu và nếu

có được giải quyết các khiếu nại đó thì cũng khơng được thoả đáng. Thậm chí họ

còn phải trả các khoản chi phí mà khơng có trong khoản phí phải nộp, thời gian giải

quyết chậm, các kết luận không được thoả đáng. Một số chỉ tiêu của Chỉ số thiết chế

pháp lý là nguyên nhân gây ra giảm điểm như: Tòa án các cấp của tỉnh xử các vụ

kiện kinh tế còn chậm (chỉ có 59,29% doanh nghiệp cho rằng Tòa án các cấp của

tỉnh xử các vụ kiện kinh tế nhanh chóng (năm 2016 là 64%); Phán quyết của tòa án

được thi hành còn chậm (có 61,11% doanh nghiệp cho rằng phán quyết của tòa án

được thi hành nhanh chóng (năm 2016 là 71%); Tỷ lệ DN sẵn sàng sử dụng tòa án

để giải quyết các tranh chấp là 32,28% (năm 2016 là 42%).

Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu vẫn ở mức thấp như chỉ có 35,38% số doanh

nghiệp cho rằng hệ thống pháp luật có cơ chế giúp DN tố cáo hành vi tham nhũng

của cán bộ. Vậy cần khắc phục ngay những thiếu sót đó để các doanh nghiệp có

lòng tin với pháp luật trong lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.2.2.5. Chỉ số cạnh tranh bình đẳng

Kết quả điều tra các nhà lãnh đạo và các doanh nghiệp cho thấy điểm trung

bình chung là 2,85 có nghĩa là các chỉ tiêu NCS đưa ra để hỏi về nguyên nhân đánh

giá chỉ số này thấp điểm là có sự thống nhất với người hỏi và cơ bản người hỏi đều

cho rằng đây là các nguyên nhân dẫn đến việc đánh giá chỉ số này thấp điểm hiện

nay cụ thể:

Khơng có chỉ tiêu đạt mức điểm 3.4 trở nên đó là chỉ tiêu, chỉ có 2/12 chỉ tiêu

được đánh giá là “có nguyên nhân” là các chỉ tiêu như: Thủ tục vay vốn (CT 10:

3,17 điểm) và không thể vay vốn nếu khơng có thế chấp (CT 9: 3,19 điểm). Các chỉ

tiêu này nhờ sự can thiệp kịp thời của Chính phủ mà ngày nay các thủ tục vay vốn

được đơn giản hơn và các chính sách vay vốn cũng được mềm hoá hơn (Quy định

tại Điều 94 Bộ Luật dân sự). Như vậy có thể thấy trong cạnh tranh bình đẳng dù



101

doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng nào nhưng đảm bảo các tiêu chí trên thì đều có

thể bình đẳng vay vốn tại các ngân hàng. Còn lại 10/12 chỉ tiêu là nguyên nhân

“Quan trọng” ảnh hưởng đến chỉ số cạnh tranh bình đẳng bị thấp điểm. Trong đó có

một số chỉ tiêu có giá trị khá thấp, hay nói cách khác đây được coi là những nguyên

nhân quan trọng như chỉ tiêu: Tài chính, ngân hàng và vốn vay của DN (2,41); ưu

đãi cho doanh nghiệp FĐI hơn là doanh nghiệp trong nước (2,64); DNNN dễ dàng

có được các hợp đồng kinh tế hơn là các DNVVN (2,74); Vì DNNN thuận lợi trong

tiếp cận đất đai hơn là DNTN (2,81); Vì DNNN thuận lợi vay vốn tín dụng ngân

hàng hơn là DNTN (2,81); Tỷ trọng nợ của DNNN trong tỉnh lớn hơn so với tỷ

trọng nợ của DNDD (2,82); Chi phí cho cán bộ ngân hàng (2,84); Chính quyền tỉnh

ưu đãi doanh nghiệp Lớn hơn là DNVVN(2,86); ưu đãi cho Tổng cơng ty, tập đồn

nhà nước hơn là các DNTN(2,87) và DN chưa có chính sách nào ưu đãi để được

vay vốn (2,99).

Tuy nhiên điều quan trọng ở chỗ một số chỉ tiêu có vẻ như có sự khác biệt

trong đánh giá giữa nhóm doanh nghiệp và nhóm cán bộ quản lý như DNNN dễ

dàng có được các hợp đồng kinh tế hơn là các DNVVN các doanh nghiệp đánh

giá là nguyên nhân quan trọng thì các nhà lãnh đạo cho rằng nó chỉ là “có nguyên

nhân” hay chỉ tiêu DN khơng thể vay vốn nếu khơng có thế chấp các nhà lãnh đạo

cho rằng đây là nguyên nhân “không quan trọng”, còn đối với các doanh nghiệp

đó là có nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của

DN dẫn đến sự đánh giá thấp về chỉ số NLCT cấp tỉnh, điều này cũng thấy tương tự

trong một số các nhóm tiêu chí đánh giá nguyên nhân khác ở trong bảng 3.10.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ số tính năng động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×