Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chỉ số gia nhập thị trường gồm có

Chỉ số gia nhập thị trường gồm có

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thủ tục hành chính (đảm bảo tính hợp lý, khoa học và đồng bộ): Để cho công

việc GNTT diễn ra đúng quy trình chặt chẽ nhưng hiệu quả thì địa phương đó biết

cắt giảm những thủ tục hành chính khơng thật sự cần thiết; công khai, minh bạch và

tổ chức thực hiện nghiêm các thủ tục hành chính trong thực tế đời sống để phục vụ

nhân dân ngày một tốt hơn. Làm tốt việc này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

xã hội của đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường kỷ

luật, kỷ cương hành chính, từng bước đáp ứng kỳ vọng của người dân và cộng đồng

doanh nghiệp về một nền hành chính chun nghiệp, phục vụ vì dân và vì các

doanh nghiệp tạo thuận lợi trong các thủ tục ĐKKD, bổ sung giấy ĐKKD hay thủ

tục phá sản DN.

Chính quyền tỉnh có đồng hành cùng doanh nghiệp: Ln coi doanh nghiệp là

bạn đồng hành trong phát triển kinh tế; ln chú trọng giải quyết các khó khăn, tháo

gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp. Bằng cách trao đổi, gặp gỡ các doanh nghiệp

tư vấn các doanh nghiệp ra nhập mới, giúp đỡ khi DN gặp khó khăn và khi có tranh

chấp là người trọng tài đứng ra giải quyết nhanh nhưng hiệu quả nhất.

Vị trí địa lý: Đối với một quốc gia, Vị trí địa lý cũng là một tài sản quan trọng,

có giá trị trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đặc biệt là chính quyền

tỉnh biết được lợi thế của mình khi có vị trí thuận lợi sẽ làm giảm chi phí vận

chuyển cho các doanh nghiệp và tiếp cận được các thị trường lớn, để có chính sách

thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

Cơ sở hạ tầng: Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng là một trong những quyết định

lựa chọn được ưu tiên của các nhà đầu tư trước khi họ lựa chọn chính thức cho

mình. Đặc biệt là mối quan hệ các cơ sở hạ tầng gần khu công nghiệp. Cơ sở hạ

tầng là xương sống của cuộc sống hàng ngày, làm cơ sở cho các hoạt động kinh tế.

Theo cách này hay cách khác, khơng có hoạt động nào mà không dựa trên cơ sở hạ

tầng [Mỹ Hạnh, 2014].

Nguồn tài nguyên thiên nhiên: Được xem là một trong những yếu tố sản xuất

quan trọng giành lợi thế cạnh tranh ban đầu cho các nhà kinh doanh quyết định lựa

chọn đầu tư ở đâu? Ngoài những yếu tố khác mà nhà đầu tư lựa chọn như là vị trí

địa lý, chất lượng cơ sở hạ tầng, an ninh, trình độ dân trí, văn hố… thì điểm hấp

dẫn chính đó là có được nguồn tài ngun song cũng khơng phải là tất cả nếu các dự



án đầu tư có trình độ cơng nghệ khơng phụ thuộc vào nguồn tài ngun thiên nhiên

thì đây khơng phải là sự hấp dẫn đối với họ.

Chỉ số tiếp cận đất đai: Trong 10 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chỉ số

tiếp cận đất đai có vị trí hết sức quan trọng DN chỉ hoạt động được khi có mặt bằng

đất đai để xây dựng hạ tầng cơ sở. Để các DN tiếp cận được đất đai thì chính quyền

tỉnh cần có quy trình cụ thể giao cho các bộ phận chức năng thực hiện. Điển hình

là Sở Tài ngun & Mơi trường nơi trực tiếp thực hiện các thủ tục giao đất cho DN

phải có biện pháp cụ thể để tư vấn hướng dẫn DN và người dân thực hiện nó, cụ thể:

Công tác quy hoạch đất đai ở cả 3 cấp (Xã, phường - huyện-Thành phố, thị

trấn - Tỉnh).

Cấp GCNQSDĐ các DN sẽ yên tâm trong hoạt động sản xuất kinh doanh hơn

ngược lại các DN cảm thấy lo ngại và không thể mạnh dạn đầu tư xây dựng mới vì

nó trở nên rất bấp bênh. Trong trường hợp rủi ro bị thu hồi đất rất ít các DN tin

tưởng họ được đền bù một cách thỏa đáng.

Công khai minh bạch quy định thủ tục giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất và thời gian hồn thành các thủ tục cơng tác giải phóng mặt bằng có sự

can thiệp quyết liệt của Chính quyền tỉnh trong cơng tác vận động người dân,

chuyển đổi đất những vướng mắc nhất về thủ tục quy trình giải phóng mặt bằng

phải được giải quyết được nhanh gọn và thảo đáng, quy trình cụ thể về thời hạn yêu

cầu các địa phương làm thủ tục giao đất.

Chính sách giá đất: Chính sách giá đất, giá thuê đất phải đủ sức thu hút đầu tư

trong và ngồi nước.

Ban Quản lý khu cơng nghiệp: có phương án trong xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo

lập mặt bằng sản xuất, bố trí hợp lý các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, tạo

điều kiện tốt nhất cho DN phát triển.

Chỉ số Tính minh bạch: Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh

và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu

doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách cơng bằng các văn bản này, các chính sách

và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu

trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của

trang web tỉnh đối với doanh nghiệp. Bao gồm cách tiếp cận tài liệu quy hoạch, tài

liệu pháp lý có được dễ dàng hay khơng?…



Sự minh bạch về thơng tin và chính sách của chính quyền địa phương là rất

cần thiết nhằm giảm tình trạng cố ý làm trái tham nhũng.

Tài chính minh bạch giúp dân chúng thấy rõ ràng mối quan hệ giữa thuế và chi

phí của chính quyền, đảm bảo rằng ngân sách khơng bị chi tiêu một cách lãng phí,

một mặt giúp tỉnh tránh được gánh nặng nợ nần khơng có khả năng kiểm sốt, mặt

khác nỗ lực tăng thuế của chính phủ khi cần tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu cũng sẽ

được dân chúng ủng hộ.

Chỉ số Thiết chế pháp lý: Chỉ số thiết chế pháp lý là chỉ số đo lường lòng tin

của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đối với cơ quan nội chính và tư pháp của

tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả

để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi

nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương… Vì vậy, để nâng cao năng lực

cạnh tranh cấp tỉnh, rất cần sự vào cuộc chung tay nâng cao chỉ số này của các cơ

quan hữu trách.

Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng: Chỉ số cạnh tranh bình đẳng phản ánh đánh

giá và yêu cầu của cộng đồng DN tư nhân trong nước về mơi trường kinh doanh

bình đẳng. Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013, Ðiều 51, điểm 2 ghi: "Các thành phần

kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể

thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật". Chỉ

số này sẽ là rõ những thực tế cho thấy tình trạng cạnh tranh thiếu bình đẳng nêu trên

xuất hiện ở hầu khắp các địa phương nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng với

mức độ khác nhau. Điển hình nhất năm 2013, đứng đầu cả nước về chỉ số cạnh

tranh bình đẳng là tỉnh Kiên Giang với 8,19 điểm. Những địa phương có chỉ số này

thấp là các tỉnh Bắc Giang, Ninh Thuận, Hưng n, Thanh Hóa... Sự cạnh tranh

thiếu bình đẳng; chính quyền địa phương thường ưu đãi DNNN hơn trong lĩnh vực

tiếp cận đất đai, tín dụng và mua sắm công là một trở ngại cho hoạt động của họ.

Ngoài yếu tố quan hệ, DN lớn trong tỉnh (về quy mô doanh thu và lao động)

cũng nhận được nhiều ưu ái. Ưu đãi dành cho DN lớn và thân quen rõ rệt nhất ở

lĩnh vực mua sắm công, tiếp theo là tiếp cận đất đai, vốn và thủ tục hành chính

nhanh chóng, đơn giản. Bên cạnh đó lãnh đạo tỉnh ưu tiên thu hút đầu tư nước

ngoài hơn là phát triển DN tư nhân trong tỉnh.



3.1.2.2. Nhóm chỉ số NLCT bị giảm điểm

Chỉ số chi phí khơng chính thức: Chỉ số thành phần này đo lường các khoản

chi phí khơng chính thức mà doanh nghiệp phải trả như: các trở ngại do những chi

phí khơng chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

việc trả những khoản chi phí khơng chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ”

như mong đợi và liệu các cán bộ nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương

để trục lợi hay không. Điểm số này là cơ sở để lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố chấn

chỉnh lại đội ngũ cán bộ công chức tại địa phương. Trong thời gian qua, chi phí

khơng chính thức gây khá nhiều bức xúc cho doanh nghiệp khi đến làm việc tại các

cơ quan hành chính.

Chỉ số nguồn lao động: Yếu tố về nguồn nhân lực: Khai thác tài nguyên con

người là một trong những điểm mạnh quan trọng cho hiệu quả cơng việc, từ đó sẽ

quyết định tới nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đây là một đặc trưng khác biệt

so với mọi yếu tố khác.

Phát triển giáo dục đào tạo kết nối giữa các cơ sở đào tạo gắn với doanh

nghiệp tại địa phương. Đào tạo theo nhu cầu của địa phương đồng thời nâng cao

chất lượng đào tạo tại các cơ sở.

Phát triển y tế, chăm lo đến sức khỏe người lao động trong doanh nghiệp.

Chỉ số tính năng động tiên phong của lãnh đạo cấp tỉnh:

Cơ cấu kinh tế: Việc xác định một cơ cấu kinh tế thích hợp rất quan trọng với

một địa phương, để từ đó xác định tỷ trọng cho từng lĩnh vực và đầu tư vào những

nhóm ngành mũi nhọn, xây dựng danh sách ngành ưu tiên để phát huy lợi thế các

nguồn lực trong tỉnh.

Chất lượng điều hành của chính quyền địa phương: Đồi hỏi phải có sự quản lý

mềm dẻo và linh hoạt năng động như chính sách thuế có tác động đến việc điều

chỉnh các gói ưu đãi đến các dự án thu hút vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp tại

tỉnh. Các định hướng chính sách vĩ mơ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ quyết định

đến việc phân bổ nguồn lực của trung ương cho địa phương cũng như sẽ đòi hỏi về

việc sắp xếp thứ tự ưu tiên nguồn lực cho các ngành và lĩnh vực ở địa phương.

Chiến lược phát triển: Nó phải xác định được các mối liên hệ quan trọng giữa

các chủ thể có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng địa phương trong tương lai về



kinh tế, xã hội, chính trị, mơi trường; phải đưa ra được một sự kết hợp độc đáo các

thế mạnh về các điều kiện mơi trường kinh doanh, đồng thời phải có phù hợp với

tính cấp bách và bối cảnh chính trị của địa phương.

3.1.3. Về xếp hạng các chỉ số thành phần cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

3.1.3.1. Nhóm chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có điểm số cao

Là chỉ số có điểm số cao hơn mức điểm số trung vị của cả nước. Cụ thể đó là

các chỉ số sau:

Chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Phân tích sự thay đổi qua chuỗi thời gian cho thấy các dịch vụ hỗ trợ doanh

nghiệp như tìm kiếm thơng tin thị trường, tư vấn pháp luật và tìm kiếm đối tác đang

dần được cải thiện về chất lượng lẫn số lượng. Tuy nhiên, tư vấn pháp luật, xúc tiến

thương mại và các dịch vụ về công nghệ vẫn cần những chính sách khuyến khích để

khối doanh nghiệp tư nhân tham gia thị trường này nhiều hơn. Cụ thể chỉ số này xếp

thứ 20 cả nước và xếp thứ 5 khu vực các tỉnh Miền núi phía Bắc.

Chỉ số Chi phí thời gian

Điểm số chỉ số chi phí thời gian trong tỉnh giai đoạn 2006-2017 có những thay

đổi theo chiều hướng tăng nhẹ, chỉ duy nhất có 3 năm là 2008, 2009 và 2013 là

điểm số xếp dưới mức trung vị của cả nước cũng bởi nguyên nhân. Thời gian chờ

đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất tăng từ 45 ngày lên 228 ngày

(tính theo giá trị trung vị - có nghĩa nhiều doanh nghiệp phải mất hơn 228 ngày để

được cấp GCNQSDĐ) và trong năm 2013 rút xuống 60 ngày nhưng so với mức

trung vị vẫn cao hơn 30 ngày. Kết quả đánh giá trên có thể chỉ ra ngun nhân

chính khiến chỉ số này bị giảm điểm mạnh trong năm 2013 mà các doanh nghiệp

đánh giá Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất là quá

dài và tăng đột biến so với các năm trước.

Trong giai đoạn 2006-2017, được sự quan tâm sát sao của chính quyền tỉnh

điểm số này được cải thiện rõ ràng, đặc biệt khi cả nước chỉ số này liên tục giảm

trong 3 năm qua, 2014-2016, tại tỉnh Bắc Giang chỉ số này tăng điểm bình quân

0,211 điểm, xếp thứ 12 trong cả nước và xếp thứ nhất trong vùng. Tuy nhiên hai chỉ

số Hỗ trợ doanh nghiệp và chỉ số Chi phí thời gian trong năm 2017 điểm số này bị

giảm điểm và điểm số thấp dưới mức trung vị của cả nước, nguyên nhân giảm đột

biến đó sẽ được tác giả tìm hiểu và minh chứng tại Bảng 3.2.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ số gia nhập thị trường gồm có

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×