Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết luận chương 2

Kết luận chương 2

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 3

THỰC TRẠNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP

TỈNH CỦA TỈNH BẮC GIANG QUA GIAI ĐOẠN 2006-2017

3.1.Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bắc Giang giai đoạn

2006-2017

3.1.1. So sánh tỉnh Bắc Giang với các tỉnh trong phạm vi cả nước và trong khu

vực các tỉnh Miền núi phía Bắc

Nếu so sánh với 63 tỉnh, thành trên cả nước, Bắc Giang ln có kết quả xếp

hạng PCI thuộc nhóm khơng ổn định. Cụ thể, Năm 2006 - năm đầu tiên Bắc Giang

được khảo sát về chỉ số PCI, Bắc Giang được xếp trong nhóm các tỉnh có PCI “Tốt”

với giá trị PCI là 55,99 điểm xếp hạng thứ 15, nhưng lại rớt hạng trong năm sau là

2007 xếp loại “Khá”. Phần lớn các năm còn lại xếp hạng từ mức 23/63 đến 50/63

tỉnh, thành phố của cả nước. Đặc biệt là năm 2008 và 2013 xếp hạng của Bắc Giang

giảm mạnh và đứng thứ hạng 50/63 tỉnh, thành và được coi là thấp nhất trong nhiều

năm qua. Việc giảm mạnh như vậy được coi là bài học có ý nghĩa vơ cùng sâu sắc

cho tỉnh Bắc Giang để tự nhận thức và đánh giá về sự nỗ lực của mình thơng qua sự

nhìn nhận từ bên ngồi, đặc biệt là từ nhìn nhận các doanh nghiệp về môi trường

kinh doanh, môi trường đầu tư của tỉnh. Nhờ nhận ra những hạn chế và khắc phục

kịp thời nên năm 2016 vươn lên xếp thứ 33 tăng 7 bậc so với năm 2015. Song kết

quả PCI năm 2017 cho thấy xếp loại có tăng lên 3 bậc xếp thứ 30/63 nhưng chỉ

được đánh giá là “Trung bình” bởi có các chỉ số điểm số được đánh giá rất thấp

như: Chỉ số Gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai, chỉ số vốn đươc coi là chỉ số có

điểm số cao trong giai đoạn 2006-2016, cũng trong năm 2017 chỉ số bị giảm điểm

đó là chỉ số chi phí thời gian.

Nhìn nhận và phân tích các ngun nhân chủ yếu tác động làm ảnh hưởng tới

thứ bậc PCI hàng năm của Bắc Giang. So sánh tỉnh với khu vực: Trong những năm

gần đây ln giữ vị trí thứ 4-6/14 tỉnh trong khu vực các tỉnh Miền núi phía Bắc sau

các tỉnh Lào Cai, Thái Nguyên và Phú Thọ. Đặc biệt là khi so sánh với các tỉnh lân

cận, các tỉnh trong khu vực có những lợi thế khá tương đồng với nhau về vị trí và khí

hậu thủy văn. Cũng từ kết quả số liệu xếp hạng PCI các tỉnh mà VCCI (2017) đã

công bố, nghiên cứu sinh tiến hành tổng hợp và lập đồ thị (Hình 3.1). So sánh tỉnh

với



3 tỉnh lân cận là tỉnh Quảng Ninh; Bắc Ninh và tỉnh Thái Nguyên. Kết quả cho thấy

Tỉnh Quảng Ninh nằm trong tốp 5/63 xếp hạng “Rất tốt”, tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Thái

Nguyên trong những năm gần đây luôn ổn định và nằm trong tốp 10/63 trong cả

nước và xếp loại “Tốt”. Như vậy, chỉ số NLCT của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006 2017 chưa có cải thiện nhiều, xếp thứ hạng không cao trong vùng cũng như trong

phạm vi cả nước.



Hình 3.1: So sánh chỉ số PCI với các tỉnh lân cận

Nguồn: Số liệu VCCI, 2017

Điểm số năm 2016 của các tỉnh Tỉnh Bắc Giang có điểm số Chi phí thời gian

cao nhất nhưng lại có tới 3 chỉ số đạt điểm thấp nhất (Chỉ số cạnh tranh bình đẳng;

Tính năng động; Thiết chế pháp lý). Trong 6 tỉnh tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, tỉnh

Quảng Ninh có các chỉ số ổn định và có chỉ số rất cao như chỉ số Gia nhập thị

trường; Chỉ số hỗ trợ doanh nghiệp, Tính năng động của nhà lãnh đạo… Chỉ có duy

nhất một chỉ số đó là chỉ số Thiết chế pháp lý và an ninh trật tự là điểm thấp nhất

(5,63 điểm) và thấp dưới mức trung vị của cả nước là 5,94 điểm. Tỉnh Thái Nguyên

tuy nằm trong tốp 10 song có điểm số Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và chỉ số chi phí

thời gian thấp nhất. Tỉnh Bắc Ninh có chỉ số Thiết chế pháp lý; Chi phí khơng chính

thức thấp nhất, Thành phố Hà Nội có chỉ số Thiết chế pháp lý; Cạnh tranh bình

đẳng; Tính năng động của chính quyền tỉnh có điểm số rất thấp dưới mức trung vị

của cả nước. Song các tỉnh luôn cố gắng khắc phục bằng cách nâng cao các chỉ số

khác như tỉnh Thái Nguyên có điểm số chỉ số nguồn nhân lực và đào tạo cao nhất



14 tỉnh Miền núi phía Bắc, các chỉ số Hỗ trợ doanh nghiệp và chỉ số chi phí thời

gian có điểm số cao hơn mức điểm trung bình của cả nước. Tỉnh Bắc Ninh có điểm

số Hỗ trợ doanh nghiệp cao…

Bảng 3.1: Xếp hạng PCI của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2017



C

2006

P55.99

X

15

317733464444

X

Tốt

C

ếH

1

Nguồn: NCS tổng hợp từ báo cáo PCI Bắc Giang giai đoạn 2006-2017 pỈếpI 2007

55.48

55

Khá

2008

hS

50

l 47.44

TĐT

Về các chỉ số thành phần cấu thành PCI, theo hình 3.2 nhìn một cách tổng

ạỐ

o2009thể

nạ57.5

37

Khá

gi 58.02

có thể thấy được có 2 chỉ số đó là: Chỉ số gia nhập thị trường và chi phí thời gian



2010

32

Khá

cv 60.79

23

thay đổi lớn, so sánh kết quả cho thấy sự tăng điểm đó với chính mình nhưngảù2011

điểm

Tốt

n 57.08

2012

ư 31

Khá

số chưa cao hơn mức điểm trung vị của cả nước. Điều này cho thấy khíaớg54.79

cạnh

2013

c 49

TĐT

mơi trường đầu tư được doanh nghiệp đánh giá có cải thiện tuy rằng kết quả57.33

đem

2014

41

Khá

57.61

2015

40

lại là chưa cao.

Khá

58.2

2016

62.20

33

Khá

2017

30

TB



Hình 3.2: Điểm số các chỉ số thành phần cấu thành PCI, 2017

Nguồn: NCS tổng hợp từ báo cáo PCI Bắc Giang giai đoạn 2006-2017



Trong khi chỉ số Chi phí thời gian có điểm tăng đều trong giai đoạn 2006 2017 nhưng giá trị tăng thêm rất nhỏ (trong khoảng từ 0,13 đến 0,5 điểm). Năm

2017 ngoài 2 chỉ số cao điểm (Chỉ số Hỗ trợ doanh nghiệp và chỉ số Chi phí thời

gian) còn có 8/10 chỉ số giảm điểm đó là các chỉ số: Chỉ số gia nhập thị trường; Chỉ

số tiếp cận đất đai và sử dụng đất; Chỉ số nguồn lực và đào tạo lao động; Chỉ số chi

phí kinh doanh, Chỉ số chi phí khơng chính thức; Chỉ số tính minh bạch; Chỉ số thiết

chế pháp lý; Chỉ số tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh; Chỉ số cạnh

tranh bình đẳng. Các chỉ số trên đều có sự tăng giảm hàng năm, song giá trị tuyệt

đối tương đối lớn, điều đó một phần lý giải sự thiếu tính ổn định trong xếp hạng

của tỉnh Bắc Giang những năm qua [Phụ lục 3].

3.1.2. Kết quả khảo sát sơ bộ các chuyên gia là các nhà quản lý và của các doanh

nghiệp

3.1.2.1. Nhóm chỉ số NLCT bị thấp điểm

Chỉ số gia nhập thị trường gồm có

Đội ngũ cán bộ cơng chức (CBCC) có phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ năng

hành chính với cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu cụ thể của việc thực

thi công vụ: Cán bộ công chức ở cả 3 cấp: cấp xã (phường), Huyện (thành phố, thị

trấn) và cấp tỉnh hay còn gọi chung là chính quyền. Chính quyền có vị trí hết sức

quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính, là cầu nối trực tiếp của hệ thống

chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các

lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo

thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của

Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Đội ngũ

cán bộ, công chức (CBCC) có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hồn

thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ. Hiệu lực, hiệu

quả của bộ máy chính quyền nói riêng và hệ thơng chính trị nói chung, xét đến cùng

được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC.

Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC vững vàng về chính trị, văn hóa, có

đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi

chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ

chức và phục vụ nhân dân sẽ tạo điều kiện cho các DN khi đến giao dịch làm các

thủ tục được đơn giản và nhanh chóng, rút ngắn được thời gian và khuyến khích,

thu hút được các nhà đầu tư.



Thủ tục hành chính (đảm bảo tính hợp lý, khoa học và đồng bộ): Để cho công

việc GNTT diễn ra đúng quy trình chặt chẽ nhưng hiệu quả thì địa phương đó biết

cắt giảm những thủ tục hành chính khơng thật sự cần thiết; cơng khai, minh bạch và

tổ chức thực hiện nghiêm các thủ tục hành chính trong thực tế đời sống để phục vụ

nhân dân ngày một tốt hơn. Làm tốt việc này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

xã hội của đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường kỷ

luật, kỷ cương hành chính, từng bước đáp ứng kỳ vọng của người dân và cộng đồng

doanh nghiệp về một nền hành chính chun nghiệp, phục vụ vì dân và vì các

doanh nghiệp tạo thuận lợi trong các thủ tục ĐKKD, bổ sung giấy ĐKKD hay thủ

tục phá sản DN.

Chính quyền tỉnh có đồng hành cùng doanh nghiệp: Luôn coi doanh nghiệp là

bạn đồng hành trong phát triển kinh tế; ln chú trọng giải quyết các khó khăn, tháo

gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp. Bằng cách trao đổi, gặp gỡ các doanh nghiệp

tư vấn các doanh nghiệp ra nhập mới, giúp đỡ khi DN gặp khó khăn và khi có tranh

chấp là người trọng tài đứng ra giải quyết nhanh nhưng hiệu quả nhất.

Vị trí địa lý: Đối với một quốc gia, Vị trí địa lý cũng là một tài sản quan trọng,

có giá trị trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đặc biệt là chính quyền

tỉnh biết được lợi thế của mình khi có vị trí thuận lợi sẽ làm giảm chi phí vận

chuyển cho các doanh nghiệp và tiếp cận được các thị trường lớn, để có chính sách

thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

Cơ sở hạ tầng: Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng là một trong những quyết định

lựa chọn được ưu tiên của các nhà đầu tư trước khi họ lựa chọn chính thức cho

mình. Đặc biệt là mối quan hệ các cơ sở hạ tầng gần khu công nghiệp. Cơ sở hạ

tầng là xương sống của cuộc sống hàng ngày, làm cơ sở cho các hoạt động kinh tế.

Theo cách này hay cách khác, không có hoạt động nào mà khơng dựa trên cơ sở hạ

tầng [Mỹ Hạnh, 2014].

Nguồn tài nguyên thiên nhiên: Được xem là một trong những yếu tố sản xuất

quan trọng giành lợi thế cạnh tranh ban đầu cho các nhà kinh doanh quyết định lựa

chọn đầu tư ở đâu? Ngoài những yếu tố khác mà nhà đầu tư lựa chọn như là vị trí

địa lý, chất lượng cơ sở hạ tầng, an ninh, trình độ dân trí, văn hố… thì điểm hấp

dẫn chính đó là có được nguồn tài ngun song cũng không phải là tất cả nếu các dự



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết luận chương 2

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×