Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết luận chương 1

Kết luận chương 1

Tải bản đầy đủ - 0trang

47

nào ở quy mô luận án Tiến sỹ nghiên cứu về chỉ số NLCT cấp tỉnh cho tỉnh Bắc

Giang một cách có hệ thống, trong nghiên cứu tìm hiểu về nguyên nhân tác động

đến nhóm các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thấp điểm và giảm điểm để từ đó

đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cho tỉnh

Bắc Giang. Trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Giang trong việc

nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh để thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và ổn

định kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của địa phương và đây là

lý do NCS lựa chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu cho mình.

Để thực hiện theo hướng nghiên cứu này, chương 2 của luận án sẽ xem xét đặc

điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp đánh giá nguyên nhân chỉ số NLCT cấp

tỉnh thấp điểm và giảm điểm tỉnh Bắc Giang.



48

Chương 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1.Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang

2.1.1. Các điều kiện tự nhiên của tỉnh

2.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình

Bắc Giang nằm ở toạ độ địa lý từ 21.007’ đến 21.037’ vĩ độ bắc; từ 105.053’

đến 107.002’ kinh độ đông; nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đơng Bắc với các

tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội. Lịch sử hình thành tự nhiên để lại

cho Bắc Giang có địa hình đa dạng với nhiều cảnh quan đồi núi, đồng bằng. Phía

Đơng nghiêng 300-500m, vùng núi phía tây bắc (phía bắc huyện Yên Thế) là chân

của đồi núi thuộc địa phận Thái Nguyên, đã thoải dần về phía nam, Khu vực này

khơng có núi cao như phía đơng của tỉnh mà hầu hết là những đồi tròn có độ cao tư

100 - 200m, thấp dần về phía nam thành miền đồi thấp trung du chủ yếu là đồi thấp

xem kẽ với đồng bằng độ cao trung bình dưới 100m gồm thành phố Bắc Giang, một

phần huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên bị cắt xẻ. Vùng đồng bằng phù sa cổ ven

sông Cầu, sông Thương… thuộc địa phận các huyện Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà,

Yên Dũng, Lạng Giang [Báo cáo: Tình hình thu hút đầu tư, cấp phép thành lập mới

DN và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nă 2016; nhiệm

vụ và giải pháp chủ yếu năm 2017, 2016].

Địa hình đa dạng là điều kiện tự nhiên thuận lợi để tỉnh phát triển nơng, lâm

nghiệp theo hướng đa dạng hố với nhiều loại cây trồng, vật ni có giá trị hàng hoá

phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và ngày càng cao của thị trường.

Theo kết quả điều tra của luận án có 1,1% ý kiến cho rằng môi trường tự nhiên

của Bắc Giang là rất tốt; 71,1% ý kiến cho rằng là tốt, 22,5% dân số cho rằng mơi

trường Bắc Giang ở mức độ trung bình, 5,3% cho rằng mơi trường Bắc Giang tồi.

Tóm lại, với lợi thế về vị trí địa lý, tỉnh Bắc Giang có những yếu tố thuận

lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói

chung của các tỉnh miền núi phía bắc và phát triển của tỉnh Bắc Giang nói riêng

trong tương lai.

2.1.1.2. Thời tiết khí hậu, thuỷ văn

Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khu vực Đơng Bắc

Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa Đơng có khí hậu khơ, lạnh; mùa Hè khí



49

hậu nóng, ẩm; mùa Xuân và Độ ẩm trung bình trong năm là 83%, một số tháng

trong năm có độ ẩm trung bình trên 85%. Các tháng mùa khơ có độ ẩm khơng khí

dao động khoảng 74% - 80%.

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.533mm, mưa nhiều trong thời gian

các tháng từ tháng 4 đến tháng 9. Lượng nước bốc hơi bình qn hàng năm khoảng

1.000 mm, 4 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa là từ tháng 12 năm trước

đến tháng 3 năm sau.

Chế độ gió cơ bản chịu ảnh hưởng của gió Đơng Nam (mùa Hè) và gió Đơng

Bắc (mùa Đơng). Một số khu vực thuộc miền núi cao có hình thái thời tiết khơ lạnh,

rét đậm, có sương muối vào mùa Đơng. Ít xuất hiện gió Lào vào mùa Hè. Một số

huyện miền núi có hiện tượng lốc cục bộ, mưa đá, lũ vào mùa mưa. Bắc Giang ít

chịu ảnh hưởng của bão do có sự che chắn của nhiều dãy núi cao.

Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho canh tác, phát

triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới.

2.1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên

Bắc Giang hiện sử hữu nguồn tài nguyên ngầm trong lòng đất với một số mỏ

và điểm mỏ khoáng sản của 15 loại khoáng sản gồm các loại: Khoáng sản nhiên liệu

(than): Phân bố chủ yếu tại các huyện Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế, Lục Ngạn.

Khoáng sản kim loại: Có quặng sắt (Yên Thế) quặng đồng (Lục Ngạn, Sơn Động),

chì, kẽm (Yên Thế, Lạng Giang, Sơn Động), vàng (Yên Thế, Lục Ngạn), thủy ngân

(Lục Nam). Khoáng chất cơng nghiệp: Có barit (Tân n, Hiệp Hòa, n Thế),

kaolin (Yên Dũng), than bùn (Việt Yên Lục Nam), felspat (Hiệp Hòa). Khống sản

vật liệu xây dựng: Gồm sét, gạch, ngói, cát, cuội, sỏi, đá xây dựng, sét gốm, sét chịu

lửa,... được phân bố rải đều trên các huyện thuận lợi cho việc khai thác, chế biến

phục vụ cho xây dựng công nghiệp, dân dụng, giao thông. Song hiện nay chưa được

khai thác, điều này được đánh giá là một trong những lợi thế lớn của Bắc Giang để

phát triển cơng nghiệp.

Tài ngun đất: Tổng diện tích đất tự nhiên tồn tỉnh là 389.548,3 ha, trong đó:

Đất nơng nghiệp 302.158,7 ha, chiếm 77,57%; Đất phi nông nghiệp 79.634,60 ha,

chiếm 20,44%; Đất đô thị 1.344,5ha, chiếm 0,35%. Quốc lộ 1A mới và nhiều tuyến

đường được nâng cấp tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển cơng nghiệp -



50

dịch vụ. Trong đó diện tích đất lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang hiện có 145.835,8ha, trong

đó: diện tích rừng đặc dụng 13.186,5ha, chiếm 3,39%; rừng phòng hộ 22.569,1ha,

chiếm 5,79%; rừng sản xuất 110.080,2 ha, chiếm 28,26% tổng diện tích đất lâm

nghiệp. Hiện nay, trữ lượng gỗ của tỉnh có khoảng 5,3 triệu m3. Tổng diện tích đất có

sự thay đổi so với năm trước là do hàng năm thực hiện chuẩn hoá đo đạc. Những năm

qua các loại đất đều có sự biến động, đất nơng nghiệp có xu hướng giảm dần, đất

chuyên dùng, đất ở nông thôn và đô thị tăng phù hợp với quy luật của xã hội nhằm

phát triển nề kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, làm cho bộ mặt của nông thôn

và đô thị có nhiều thay đổi. Tuy nhiên trong những năm tới, cùng với sự phát triển

nhanh của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đất cho các lĩnh vực kinh tế, đặc

biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng. khu công nghiệp, nhà ở đô thị và nông thơn sẽ tăng

nhanh chóng, cần phải điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai để vừa bảo

vệ nghiêm ngặt vùng đất lúa và trồng hoa màu cho năng suất cao vừa đáp ứng yêu

cầu sử dụng đất vào mục đích khác cho phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội

2.1.2.1. Dân số và lao động

Dân số: Bắc Giang là một tỉnh trung tâm kinh tế - xã hội của vùng Đơng bắc có

dân số ở mức trung bình trong cả nước. Theo số liệu của cục Thống kê tỉnh Bắc Giang

năm 2016 hơn 1.657.573 người, mật độ dân số bình quân 425,5 người/km2, là tỉnh có

mật độ dân số bình qn cao hơn so với mật độ dân số bình quân của cả nước, tăng

1,8%/năm. So với với tốc độ tăng bình quân chung của cả nước cùng thời kỳ.



Hình 2.1: Cơ cấu dân số phân theo thành thị, nông thôn (%)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang, 2006-2016



51

Như vậy, mỗi năm tại tỉnh Bắc Giang tăng cơ học khoảng 100.000 người. Do

q trình đơ thị hóa diễn ra nhanh. Cơ cấu dân số có sự chênh lệch rõ ràng giữa

thành thị và nơng thơn, trong đó tỷ lệ dân số ở nơng thơn có xu hướng giảm đi, dân

số thành thị có xu hướng tăng lên.

Lao động: Cư dân Bắc Giang sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu, một số địa

phương có làng nghề truyền thống còn duy trì đến ngày nay. Cơ cấu lao động trong

tỉnh đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực

sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực sản xuất

nông - lâm - ngư nghiệp. Sự chuyển dịch này phù hợp với xu hướng cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.

Bảng 2.1: Cơ cấu nhân lực theo trình độ chun mơn kỹ thuật

Đơn vị tính: 1000 người

Trình độ chun môn



Năm



Cơ cấu (%)



2005



2010



2015



2005



2010



2015



Tổng số



876,5



890,86



973,91



100



100



100



Lao động chưa qua đào tạo



745,03



677,05



652,51



85,0



76,0



67,0



Sơ cấp nghề, CNKT



81,9



143,07



225,64



9,3



16,1



23,2



Trung cấp nghề



11,8



17,1



23,20



1,35



1,91



2,38



Cao đẳng nghề



1,5



2,3



4,30



0,17



0,26



0,44



Trung học Chuyên nghiệp



12,2



17,4



23,20



1,39



1,94



2,38



Cao đẳng



8,2



12,5



16,80



0,94



1,40



1,73



Đại học



15,7



20,9



27,10



1,79



2,33



2,78



Trên đại học (thạc sỹ, tiến sỹ)



0,18



0,54



1,15



0,02



0,06



0,12



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang, 2016

Cơ cấu nhân lực theo trình độ chun mơn kỹ thuật chuyển dịch theo hướng

tích cực phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, tỷ trọng lao động chưa qua đào

tạo trong thành phần lao động tham gia các ngành kinh tế quốc dân giảm dần, người

lao động qua đào tạo các trình độ và đặc biệt là người lao động có trình độ từ đại

học trở lên tăng cao với tốc độ tương đối nhanh. Tỷ lệ người lao động chưa qua đào

tạo giảm dần từ 85% năm 2005 xuống còn 76% năm 2010 và còn 67% năm 2015; tỷ

lệ người lao động có trình độ cao đẳng tăng từ 0,94% năm 2005 lên 1,4% năm 2010

và 1,73% năm 2015; trình độ đại học và trên đại học tăng từ 1,81% năm 2005, tăng

lên 2,39% năm 2010 và 2,98% năm 2015. Trình độ học vấn của nguồn nhân lực

ngày càng được nâng lên, số người không biết chữ trong độ tuổi lao động tham gia



52

vào lực lượng lao động trong ngành kinh tế giảm dần từ 41.145 người năm 2010

xuống còn 29.997 người năm 2015, những người này chủ yếu là làm việc ở khu vực

nơng thơn, số người có trình độ học vấn tốt nghiệp THPT tăng từ 192.787 người

năm 2010, lên 241.058 người năm 2015- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao do

còn hạn chế, bất cập trong đào tạo, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao theo yêu

cầu của sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, theo định hướng phát triển trong

quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, theo đơn đặt hàng của các

doanh nghiệp.

Như vậy, Bắc Giang là tỉnh có quy mô dân số lớn trong khu vực các tỉnh Miền

núi phía Bắc, đang trong thời kỳ dân số vàng, nguồn nhân lực khá dồi dào, số có

trình độ học vấn cơ bản chiếm tỷ lệ tương đối cao so với trung bình của cả nước,

người lao động chăm chỉ, cần cù, khéo léo, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động,

đặc biệt là kỹ năng sử dụng công nghệ hiện đại tương đối nhanh. Kết quả điều tra

cho thấy trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cho thấy, có đến 76,7% ý kiến cho rằng lợi thế

của Bắc Giang là nguồn lao động phổ thông dồi dào, 32,2% cho rằng vị trí địa lý

thuận lợi, chỉ có 1,5% cho rằng lợi thế là tài nguyên phong phú và 3,2% cho rằng

lợi thế nguồn lao động chất lượng cao.

Tỉnh vẫn chưa có cơ chế, chính sách để thu hút, trọng dụng nhân tài và hạn

chế tình trạng chảy máu chất xám ra khỏi địa bàn tỉnh, nhân lực sau khi được đào

tạo có trình độ cao thường khơng trở về làm việc tại tỉnh.

2.1.2.2. Giáo dục và y tế

Về Giáo dục và đào tạo: Năm học 2016-2017: Tỉnh Bắc Giang có 276 trường

mầm non (trong đó có 268 trường cơng lập và 08 trường ngồi cơng lập); 260 trường

tiểu học (trong đó có 259 trường cơng lập và 01 trường ngồi cơng lập); 225 trường

THCS, 15 trường PTCS, 49 trường THPT; 10 trung tâm giáo dục thường xuyên; có 6

trường trung cấp chun nghiệp (trong đó có 01 trường ngồi cơng lập), Trường cao

đẳng có 04 trường, có 01 trường đại học và hệ thống trường dạy nghề với 82 cơ sở.

Tỷ lệ đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non 44,1%; tiểu học 77,2%;

THCS, dân tộc nội trú và THPT 45,8%; THPT công lập 32,4 %; tỷ lệ phòng học/lớp

ở các cấp học đạt 0,8%. Có thể nói với một tỉnh thì chất lượng giáo dục đào tạo như



53

vậy cần có nhiều chính sách để nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu

CNH và hội nhập kinh tế của tỉnh.

Về y tế: Mạng lưới y tế gồm: 9 bệnh viện tuyến tỉnh; 9 bệnh viện tuyến huyện,

thành phố; 3 phòng khám đa khoa khu vực; 230 trạm y tế xã và 10 trung tâm y tế dự

phòng. Hiện nay cơ sở vật chất của các bệnh viện tuyến huyện đang được đầu tư

nâng cấp, đã đưa vào sử dụng Bệnh viện đa khoa khu vực Lục Ngạn và 5 bệnh viện

đa khoa tuyến huyện. Mạng lưới y tế dự phòng của 10 huyện, thành phố hiện nay đã

xây dựng. Y tế tuyến xã, phường còn khoảng 50% các xã chưa đủ diện tích cho khối

điều trị và hậu cần. Nhìn chung hệ thống cơ sở hạ tầng ngành y tế luôn được nâng

cấp, cải tạo và xây dựng mới. Từ bện viện đa khoa tỉnh, bện viện đa khoa cấp huyện

đến các cơ sở y tế khác đều được đầu tư xây dựng, các trang thiết bị được thay thế,

nâng cấp theo hướng tiêu chuẩn, hiện đại góp phần nâng cao chất lượng khám chữa

bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho nhân dân.

2.1.2.3. Kết cấu hạ tầng

Những năm qua, tỉnh Bắc Giang đạt được những thành tựu khá ấn tượng trong

xây dựng và hoàn thành hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các kết cấu khác của

nền kinh tế, cụ thể:

Về hệ thống giao thơng:

Hệ thống giao thơng của tỉnh gồm 3 loại chính: Đường bộ, đường sắt và

đường thuỷ nội địa, giao thông của tỉnh có vị trí chuyển tiếp giữa các tỉnh phía

Đơng Bắc với các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sơng Hồng và thủ đô Hà Nội; nằm

giữa trung tâm giao lưu của vùng tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng Quảng Ninh; là điểm giao thơng quan trọng vận chuyển ở phía Bắc.

Hệ thống đường liên tỉnh tương đối tốt so với các tỉnh trong khu vực nhưng

đường liên huyện, xã còn khó khăn do đặc thù vị trí đem lại. Nhưng nhìn chung các

trục đường chính được trả nhựa và nâng cấp, các đường giao thơng nơng thơn được

bê tơng hố. 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã. Mạng lưới giao thơng

đường bộ của tỉnh 10.784,79 km, trong đó: Quốc lộ có 05 tuyến chạy qua km gồm:

QL 1A, QL 31, QL 37, QL 279 và QL 17 với tổng chiều dài 308,9 km; 18 tuyến



54

đường tỉnh, dài 367,66 km; đường huyện, dài 736,9 km; đường xã dài 2.053,72 km;

đường đô thị khoảng 308,18 km và 7.009,43 km đường thơn. Ngồi ra, còn có hệ

thống đường chun dùng ở các khu công nghiệp và đường nội đồng. Chất lượng

đường dù ở mức khá nhưng để đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế xã hội cần

được cải tạo, nâng cấp, nhất là hệ thống giao thông các huyện miền núi như Lục

Ngạn, Sơn Động, Lạng Giang.

Giao thơng đường sắt có 03 tuyến: Hà Nội - Đồng Đăng dài 167 km (qua

Bắc Giang 40 km); Kép - Hạ Long dài 106 km (qua Bắc Giang 32,77 km); Kép Lưu Xá (chưa khôi phục hoạt động). Tuyến đường sắt tạo điều kiện thuận lợi cho

lưu chuyển giữa Bắc Giang và các tỉnh khác cũng như trao đổi hàng hoá xuất nhập

khẩu qua Hà Nội, Lạng Sơn. Tuy nhiên, hệ thống đường sắt có chất lượng thấp do

xây dựng từ lâu nên tiêu chuẩn kỹ thuật khơng còn phù hợp dù đã được cải tạo

nhiều lần.

Tỉnh có nhiều sơng lớn chảy qua, tạo thành một mạng lưới thuỷ liên hoàn

thuận lợi giữa tỉnh với các tỉnh miền núi phía Bắc, cũng như với hệ thống cảng biển

quốc gia. Giao thông đường thủy nội địa có 03 con sơng chính (sơng Thương, sơng

Cầu và sơng Lục Nam), trong đó có 222 km do Trung ương quản lý và 130 km do

địa phương quản lý. Hệ thống cảng, bến đường thủy nội địa tương đối hiện đại,

đồng bộ đủ năng lực trung chuyển, xếp dỡ hàng hóa cho tàu, thuyền có trọng tải lớn

như: Cảng Á Lữ; cảng Cơng ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, Bến Đám, Bến

2



Tuần,… trong đó, cảng Á Lữ với diện tích khoảng 20.000 m , chiều dài khoảng 200

2



m cùng 2 kho hàng với tổng diện tích 4.440 m có năng lực thơng qua cảng với khối

lượng hàng hóa khoảng 250 nghìn tấn/năm; cảng chun dùng của Cơng ty Phân

đạm và Hóa chất Hà Bắc có năng lực thơng qua cảng khoảng 70-100 nghìn tấn/năm,

cùng hàng chục cảng, bến có quy vừa và nhỏ phục vụ nhu cầu vận chuyển nội địa

đã góp phần quan trọng vào việc đa dạng hóa các loại hình vận tải, giảm sức ép cho

vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh.

Về thủy lợi:

Hệ thống thuỷ lợi được chia theo 5 vùng là Sông Cầu, Cầu Sơn-Cấm Sơn,

Nam Yên Dũng, Sông Sỏi và Sơng Lục Nam. Tồn tỉnh có 461 hồ chứa, 147 đập



55

dâng, 674 trạm bơm, 5.530 km kênh mương tưới, tiêu các cấp. Một số cơng trình

thuỷ lợi hồ, đập, trạm bơm, kênh mương đang bị xuống cấp, có tuyến đê còn sung

yếu do cao trình mặt đê thấp, mặt cắt ngang nhỏ, khả năng chống lũ kém.

Về hệ thống cấp điện:

Nguồn cấp điện lấy từ lưới điện quốc gia, qua trạm biến áp 220/110/22kv Bắc

Giang đặt tại Đồi Cốc và lưới điện 110kv từ Nhà máy nhiệt điện Phả Lại. Hệ thống

lưới điện có 51 Km đường dây 220kv, 155 Km đường dây 110kv, 1.208 Km đường

dây 35kv, 135 Km đường dây 22kv, 709 Km đường dây 10kv, 164 Km đường dây

6kv, 5.305 Km đường dây hạ thế và 1.832 trạm biến áp.

Mạng lưới điện của tỉnh phát triển nhanh, trình độ điện khí hố cao so với các

tỉnh trong vùng. Đến năm 2007, tồn tỉnh đã có 100% số xã có điện và dùng điện.

Tuy nhiên, điện phân phối vẫn tồn tại nhiều cấp điện áp, lưới điện 22kv đã đầu tư

xây dựng nhưng còn thiếu, chủ yếu tập trung ở thành phố Bắc Giang và khu cơng

nghiệp Đình Trám. Lưới điện 10kv, 6kv ở các huyện khả năng tải và độ tin cậy

cung cấp điện kém. Trước tình hình khó khăn cần phải được tháo gỡ kịp thời đáp

ứng nguồn năng lượng điện phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh. Được

sự quan tâm của TW và chính quyền địa phương, tháng 1 năm 2017, UBND tỉnh

trao quyết đinh cho Công ty cổ phần nhiệt điện An Khánh - Bắc Giang được

xây dựng tại xã Vũ Xá, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, trên diện tích gần 90ha có

tổng vốn đầu tư trên 22500 tỷ đồng. Khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm

mới cho trên 1.000 lao động, nộp ngân sách trên 1.000 tỷ đồng, mỗi năm cung cấp

cho thị trường điện trên 5 tỷ KWh, góp phần ổn định an ninh năng lượng quốc gia,

thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang nói

chung và huyện Lục Nam nói riêng.

Về hệ thống cấp, thốt nước và xử lý ơ nhiễm môi trường:

Thành phố Bắc Giang sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước có cơng suất

25.000 m3/ngày đêm, cấp nước sinh hoạt cho gần 100% dân nội thành và một phần

ngoại thành; Các đô thị sử dụng nước hợp vệ sinh; dân cư còn lại chủ yếu sử dụng

nguồn nước tự nhiên.

Về thoát nước, Thành phố Bắc Giang đã xây dựng xong hệ thống thoát nước

theo dự án Đan Mạch; các đô thị khác đang đầu tư xây dựng song chưa có hệ thống

thốt nước thải riêng và khơng đồng bộ; khu KCN Đình Trám đã đưa vào sử dụng



56

trạm xử lý nước thải tập trung với công suất 2.000 m3/ngày đêm; các KCN còn lại

có quy hoạch hệ thống xử lý nước thải nhưng chưa xây dựng; các cụm công nghiệp

cũng chưa đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung.

Đến nay mới có bãi xử lý và chơn lấp rác thải đạt tiêu chuẩn tại thành phố Bắc

Giang, các huyện chủ yếu là thu gom vận chuyển tập trung vào các bãi để chôn lấp

không qua xử lý.

Về hạ tầng thông tin liên lạc: Mạng viễn thông được phát triển rộng khắp: có

131 trạm chuyển mạch, 152 trạm DSLAM, 749 trạm thu phát sóng (BTS) và 99 Km

tuyến truyền dẫn liên tỉnh. Thơng tin di động phủ sóng tồn tỉnh, nhưng có nhiều

khu vực sóng yếu, dung lượng thấp.

Hệ thống thơng tin viễn thông, dịch vụ ngân hàng, cảng nội địa, hải quan khá

đầy đủ, thuận tiện và tương đối hiện đại. Trong đó, kết cấu hạ tầng kỹ thuật của lĩnh

vực thơng tin viễn thơng được đầu tư hiện đại hố theo công nghệ ngang tầm với các

nước trong khu vực, đáp ứng tốt nhu cầu trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh

doanh

2.1.3. Các khu công nghiệp và đô thị

Các khu cơng nghiệp:

Có 6 KCN với tổng diện tích 1.417 ha là: Đình Trám, Quang Châu, Song Khê

- Nội Hồng, Vân Trung, Việt Hàn, Châu Minh-Mai Đình. Hệ thống hạ tầng trong,

ngồi khu cơng nghiệp đã cơ bản hồn thành. Tồn tỉnh có 29 cụm cơng nghiệp đã

và đang hình thành, nằm gần các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ nên thuận lợi về

giao thông, một số cụm công nghiệp không phải đầu tư hệ thống giao thông nội bộ

mà sử dụng hệ thống đường giao thơng sẵn có như: Cụm công nghiệp Xương Giang

I, Cụm công nghiệp Dĩnh Kế... Khu cơng nghiệp Quang Châu có diện tích lớn nhất

420ha cũng đã lấp đầy gần 85%. Tỉnh Bắc Giang là một trong những địa phương có

tốc độ thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp mạnh trong khu vực các tỉnh miền núi

phía Bắc. So với các tỉnh thành lân cận tỉnh Bắc Giang được đánh giá cao về vị trí

thuận tiện, thủ tục đơn giản, nhanh gọn, giá đất và các loại dịch vụ khá cạnh tranh.

Theo kết quả nghiên cứu, việc phát triển các KCN ở một số địa phương còn

dàn trải, nhiều khu xây dựng đã lâu, nhưng chưa thu hút được đầu tư, dẫn tới đất đai

bị bỏ hoang, gây lãng phí lớn như ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương… với tỷ lệ



57

lấp đầy chỉ đạt 89,68%. Trong khi ở tỉnh Bắc Giang, tỷ lệ lấp đầy trong các KCN

đạt 84,65%. Tính đến tháng 1/2016, tổng số dự án đầu tư vào các KCN là 274 dự

án; trong đó có trong đó có 173 dự án FDI và 101 dự án DDI với số vốn đầu tư đăng

ký là 3.022,17 triệu USD và 7.604,29 tỷ đồng. Vốn đầu tư thực hiện của các dự án

FDI ước đạt 1.250 triệu USD, bằng 41% tổng vốn đầu tư đăng ký; vốn đầu tư thực

hiện của các dự án DDI ước đạt 4.500 tỷ đồng, bằng 60% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Các DN đầu tư đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó DN Nhật Bản và

Hàn Quốc có số dự án đầu tư vào các KCN nhiều nhất chiếm 52%.

Hiện nay các KCN trên địa bàn tỉnh thu hút gần 70.000 lao động tăng 28.000

người so với cùng kỳ 2016. lao động là người địa phương chiếm khoảng 80%. Thu

nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 5,5 triệu đồng/người/tháng. Nguyên

nhân số lao động tăng cao so với cùng kỳ là do Cơng ty TNHH New Wing

Interconnect Technology (thuộc Tập đồn Hồng Hải) mới đi vào hoạt động, hiện đã

sử dụng khoảng trên 16.000 lao động.

Về kết quả sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu và thu nộp ngân sách: tính

đến nay, tại các KCN của tỉnh có 196 doanh nghiệp đi vào hoạt động, tăng 32 doanh

nghiệp so với cùng kỳ 2015. Doanh thu đạt 72.591 tỷ đồng, tăng 68,3% so với năm

2015; thuế phát sinh phải nộp ước đạt 757,4 tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2015.

Giá trị xuất khẩu ước đạt 2.831 triệu USD, tăng 84,0% so với năm 2015; giá trị

nhập khẩu ước đạt 2.319 triệu USD, tăng 92,3% so với năm 2015.

Bảng 2.2: So sánh quy mô các KCN - KCX các địa phương

Chỉ tiêu



Bắc Giang



Thái Nguyên



Quảng Ninh



Bắc Ninh



6



6



14



16



1.372,4



1420



7326,8



6397,68



274



153



470



754



4.1. Trong nước (tỷ đồng)



7.604,29



7.800



51.077



34.953,78



4.2. Nước ngoài (triệu USD)



3.022,17



7.000



9.329



13.201,87



1. Số KCN (kể cả khu chế xuất)

2. Tổng diện tích (ha)

3. Số dự án đầu tư

4. Vốn đầu tư



Nguồn: Ban quản lý các KCN-KCX của các địa phương tính đến 1/2016

Bảng trên cho thấy, quy mơ cũng như số lượng dự án đầu tư ở các KCN của

tỉnh Bắc Giang thấp hơn nhiều so với các tỉnh giáp ranh như Quảng Ninh, Bắc Ninh

và Thái Nguyên. Do đó vốn đầu tư cũng thấp hơn nhiều. Sự chênh lệch này có thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết luận chương 1

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×