Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Khái niệm cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại

1 Khái niệm cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



nhập cao hơn trong tương lai do đó nhu cầu vay tiêu dùng sẽ tăng lên nhanh chóng.

Ngược lại khi nền kinh tế khủng hoảng, suy thoái người tiêu dùng có xu hướng thắt

chặt chi tiêu vì vậy nhu cầu vay tiêu dùng cũng giảm đáng kể. CVTD của Ngân hàng

sẽ gặp khó khăn.

1.1.1.2 Lãi suất trong CVTD

Các Ngân hàng khác nhau sử dụng phương pháp khác nhau để tính lãi suất

trong cho vay tiêu dùng. Phương pháp cơ bản được sử dụng là phương pháp dựa trên

lãi suất cơ bản, phần lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro:

Lãi suất

CVTD



=



Lãi suất huy

động



+



Phần bù rủi ro kì

hạn, lãi suất



+



Mức lợi nhuận

cân biên ròng



Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay các

lĩnh vực khác vì phải bù đắp rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay. Trước đây, lãi suất

cho vay tiêu dùng thường được cố định, đem lại khoản lợi nhuận tương đối lớn cho

Ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay trong môi trường nhiều cạnh tranh giành khách hàng

giữa các Ngân hàng, lãi suất CVTD được thả nổi. Việc kìm chế lãi suất huy động khiến

lãi suất cho vay tiêu dùng dù thả nổi nhưng là sự thả nổi khơng hồn tồn, thêm nữa lại

tiềm ẩn rủi ro do lãi suất huy động có thể biến động tùy thuộc vào từng thời kì.

Hơn nữa, cầu vay tiêu dùng lại ít co giãn so với sự thay đổi của lãi suất. Điều mà

khách hàng vay quan tâm là họ phải trả bao nhiêu tiền vào mỗi kì hạn chứ khơng phải

lãi suất trong khi số tiền phải trả lại hầu như phụ thuộc vào mức lãi suất cho vay tiêu

dùng Ngân hàng đưa ra.

1.1.2.3 Đối tượng vay tiêu dùng

Đối tượng cho vay tiêu dùng chủ yếu là khách hàng cá nhân và hộ gia đình. Các

cá nhân ở đây là những người có đầy đủ năng lực pháp lí, thuộc nhiều thành phần xã

hội khác nhau( cán bộ công nhân viên chức, lao động tự do…)và nhất thiết đáp ứng

được các điều kiện vay vốn của Ngân hàng.

Các đối tượng khách hàng thường được phân chia theo mức độ tài chính. Đối

với nhóm khách hàng có thu nhập cao nhu cầu phát sinh thường đi cùng với khả năng

thanh toán. Họ thường có nhu cầu chi tiêu trong tiêu dùng với số lượng lớn nên đây trở

thành nhóm khách hàng được các Ngân hàng thương mại tập trung nhất. Đối với nhóm

khách hàng có thu nhập thấp, nhu cầu vay của họ tương đối nhỏ vì phụ thuộc nhiều

vào thu nhập. Trong khi đó nhóm thu nhập trung bình lại có nhu cầu tiêu dùng vượt

hơn nhiều so với thu nhập của mình do đó vay tiêu dùng giúp đáp ứng được nhu cầu

tiêu dùng trước khi có khả năng chi trả.

1.1.2.4 Mức độ rủi ro

Cho vay tiêu dùng thường có rủi ro cao hơn nhiều so với các hình thức cho vay

thơng thường khác vì đối tượng khách hàng khơng giống như doanh nghiệp khơng có



4



các Báo cáo kinh doanh do đó cán bộ tín dụng trong q trình thẩm định, ra quyết định

tín dụng gặp nhiều khó khăn trong việc tập hợp thông tin khách hàng. Thông tin khách

hàng thường khơng đầy đủ hoặc thiếu tính chính xác. Việc trả nợ chủ yếu phụ thuộc

vào thu nhập của người tiêu dùng cũng như ý chí trả nợ của họ, bên cạnh đó khơng thể

khơng kể đến các yếu tố khách quan cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hồi

khoản vay của Ngân hàng.

1.1.1.3 Mức thu nhập và trình độ học vấn

Đây được coi là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu vay tiêu dùng của

khách hàng. Khi thu nhập tăng lên nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên và ngược lại nhu

cầu tiêu dùng sẽ giảm cùng với chiều giảm của thu nhập

Tương tự thu nhập trình độ học vấn cũng là có mối quan hệ tỉ lệ thuận với nhu

cầu vay tiêu dùng. Thực tế chứng minh rằng hình thức cho vay tiêu dùng mới chỉ phát

triển mạnh ở khu vực thành thị - những khu vực có trình độ dân trí cao, còn ở vùng có

học vấn thấp như miền núi, nơng thơn, hình thức tín dụng này hầu như chưa phát triển

1.1.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng

Hiện nay, cho vay tiêu dùng – hình thức cho vay khá phổ biến tại các Ngân

hàng thương mại không chỉ mang lại lợi ích cho Ngân hàng mà còn thể hiện vai trò to

lớn đối với người tiêu dùng cũng như tồn bộ nền kinh tế…

1.1.3.1 Đối với Ngân hàng

Hoạt động CVTD giúp Ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng từ đó giúp

gia tăng khả năng huy động tiền gửi và các dịch vụ khác

Hơn nữa, các sản phẩm cho vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú, việc phát triển

cho vay tiêu dùng giúp đa dạng hóa hoạt động kinh doanh từ đó giúp Ngân hàng giảm

thiểu rủi ro, gia tăng lợi nhuận. Ngoài ra cho vay tiêu dùng còn giúp cho đội ngũ nhân

viên Ngân hàng hồn thiện kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng giao dịch với khách hàng

từ đó nâng cao hình ảnh, uy tín của Ngân hàng.

1.1.2.1 Đối với người tiêu dùng

Cuộc sống con người không ngừng được nâng cao khiến cho nhu cầu tiêu dùng

về hàng hóa của con người khơng chỉ dừng lại ở mức giản đơn. Ngày nay, những nhu

cầu: ô tô, nhà cửa, du lịch, khám chữa bệnh… ngày càng gia tăng, điều này đặt ra một

nhu cầu tài chính lớn để có thể đáp ứng được hết các nhu cầu trên. Trong các nguồn tài

trợ không thể không kể đến nguồn tài trợ từ Ngân hàng thông qua các sản phẩm cho

vay tiêu dùng. Cùng với sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất khiến cho họ để trụ vững

trên thị trường cần chú trọng vào chất lượng, đổi mới mẫu mã, hình thành giá phù hợp.

Tất cả đều đem lại lợi ích cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên việc vay nợ quá nhiều sẽ vượt khỏi khả năng chi trả, giảm khả năng

tiết kiệm và tiêu dùng trong tương lai.

1.1.3.3 Đối với doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sản xuất luôn muốn tối đa hoá lợi nhuận thu được, do vậy họ

ln tìm mọi các để tiêu thụ hàng hố, dịch vụ sản xuất ra. Điều này phụ thuộc hoàn



5



toàn vào khách hàng. Hiện nay, nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của người tiêu dùng

khơng ngừng gia tăng. Nhưng nó lại khơng thể được thoả mãn bằng nguồn tài chính

hiện có của khách hàng. Hàng hố khơng thể xếp vào kho chờ khi khách hàng có đủ

điều kiện về tài chính được do đó nguồn tài chính từ ngân hàng tài trợ là giải pháp tối

ưu. Như vậy cho vay tiêu dùng của ngân hàng giải quyết được sự ùn tắc trong việc tiêu

thụ hàng hố. Nguồn tín dụng này cũng giúp cho doanh nghiệp có điều kiên tăng

cường sản xuât, mở rộng qui mô, mở rộng thị trường.tiêu thụ hết hàng hóa dịch vụ sản

xuất ra.

1.1.2.2 Đối với nền kinh tế

CVTD có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền

kinh tế:

- Việc ngân hàng thực hiện cho vay tiêu dùng đối với khách hàng không chỉ làm

thoả mãn những nhu cầu thiết yếu, nâng cao chất lượng cuộc sống của người

tiêu dùng mà việc cho vay còn thúc đẩy sản xuất, tạo ra công ăn việc làm, tăng

khả năng cạnh tranh của các hãng sản xuất kinh doanh

- Thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng, các ngân hàng thương mại đã góp phần

kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng sức cạnh tranh

của hàng hố trong nước từ đó hỗ trợ Nhà nước trong việc đạt được các mục

tiêu xã hội như xố đói, giảm nghèo, giải quyết công an việc làm, tăng thu

nhập, giảm tệ nạn xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.1.3 Phân loại cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau giúp ta có

cái nhìn tồn diện hơn về cho vay tiêu dùng

1.1.4.1 Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay: gồm 2 loại

ü Cho vay tiêu dùng cư trú: là khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm xây

dựng, cải tạo nhà ở cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. Đặc điểm chung

của CVTD cư trú là giá trị khoản vay lớn, thời hạn vay thường là trung, dài hạn,

nguồn thu tương đối ổn định. Rủi ro của những khoản vay này thường đến từ sự

bất ổn định của thị trường bất động sản vì tài sản đảm bảo là tài sản hình thành

từ vốn vay.

ü Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay nhằm trang trải các chi phí

mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, chi phí học hành, giải trí, du học, y tế…Các

khoản vay có khối lượng, thời hạn nhỏ hơn so với vay tiêu dùng cư trú

1.1.4.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả

Theo tiêu thức này cho vay tiêu dùng được chia làm 3 loại: cho vay tiêu dùng trả góp,

cho vay tiêu dùng phi trả góp, cho vay tiêu dùng tuần hồn

Cho vay tiêu dùng trả góp: là phương thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ gốc

cho ngân hàng làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp

thường áp dụng đối với các khoản vay có giá trị lớn, thời hạn tương đối dài, thu nhập



6



từng kì của khách hàng khơng thể trả hết nợ trong một lần. Đặc điểm của cho vay tiêu

dùng trả góp mà ngân hàng cần lưu ý:

ü Loại tài sản tài trợ: khách hàng sẽ có ý thức trả nợ hơn nếu tài sản được tài trợ

hình thành từ khoản vay đáp ứng được nhu cầu cần thiết của họ một cách lâu

dài.

ü Số tiền phải trả trước: thông thường Ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng thanh

toán một phần giá trị tài sản cần mua sắm, xây dựng, sửa chữa- đây được gọi là

số tiền ứng trước. Số tiền này tùy thuộc vào loại tài sản, cũng như môi trường

kinh tế, năng lực của người đi vay…

ü Chi phí tài trợ: là chi phí khách hàng phải trả cho Ngân hàng cho việc sử dụng

vốn, chi phí này được tính tốn sao cho ngồi bù đắp được chi phí huy động,

chi phí hoạt động, phần bù rủi ro thì phải đem lại một phần lợi nhuận thỏa đáng

cho Ngân hàng

ü Điều khoản thanh toán: các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ cho

Ngân hàng. Các điều khoản chi tiết liên quan đến:

ü Số tiền thanh tốn hàng kì: phù hợp với thu nhập cũng như trong mối liên hệ

với nhu cầu tiêu dùng của khách hàng

ü Kì hạn trả nợ phải thuận tiện cho việc trả nợ của Khách hàng. Thường thì kì hạn

tính theo tháng vì có nguồn trả nợ đến từ lương.

ü Giá trị tài sản được tài trợ phải lớn hơn hoặc bằng với số tiền tài trợ

ü Thời hạn vay khơng được q dài

Cho vay tiêu dùng phi trả góp( trả một lần): theo phương thức này, tiền vay được

khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản

vay trong trường hợp này có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn. Mặc dù nó có giá trị khơng lớn

nhưng đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời như dùng để sửa chữa tài sản cố định, mua

sắm các vật dụng thiết yếu…

Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Đây là khoản cho vay tiêu dùng mà ngân hàng cho

phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi. Trong

thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm

được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều

kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn mức tín dụng. . Lãi được trả mỗi kỳ có thể tính theo

các cách sau:

- Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: nghĩa là số dư nợ được

dùng để tính lãi là số dư nợ mỗi kỳ có trước khi nợ được hạch tốn.

- Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: theo đó, số dư nợ được dùng để

tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi khách hàng đã thanh toán nợ cho

ngân hàng.

- Lãi được tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân



7



1.1.4.3 Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ( phương thức tài trợ)

Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các

khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các

dịch vụ cho người tiêu dùng. Hình thức này ngân hàng cho vay thơng qua các doanh

nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.

Ngân hàng và công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng

thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu

tối đa, loại tài sản bán chịu. Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua

bán chịu hàng hố. Thường thì người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.

Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp:



NGÂN HÀNG



(1)

(4)

(5)



(6)



CÔNG TY BÁN LẺ



(2)



(3)



NGƯỜI TIÊU DÙNG



(1) Ngân hàng và cơng ty bán lẻ kí hợp đồng

(2) Cơng ty bán lẻ và người tiêu dùng kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa

(3) Cơng ty bán lẻ giao hàng hóa cho người tiêu dùng

(4) Cơng ty bán lẻ giao toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng

(5) Ngân hàng thanh tốn tiền cho cơng ty bán lẻ

(6) Người tiêu dùng thanh tốn tiền cho Ngân hàng



Cho vay tiêu dùng gián tiếp có ưu điểm là tạo điều kiện để ngân hàng thương mại

dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay tiêu dùng. Các ngân hàng thương mại sẽ

tiết kiệm được các chi phí khi cho vay. Đây là cơ sở để mở rộng quan hệ với khách

hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khác của ngân hàng. Nhược điểm

của phương thức tài trợ này là Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng,

không kiểm sốt được q trình cơng ty bán lẻ bán chịu hàng hóa cho khách hàng, bên

cạnh đó nghiệp vụ này đòi hỏi kĩ thuật khá cao, phức tạp.

Các phương thức cho vay tiêu dùng gián tiếp:

 Tài trợ truy đòi tồn bộ: Ngân hàng có quyền truy đòi tồn bộ số nợ từ nhà bán

lẻ nếu người tiêu dùng không thanh tốn khi đến hạn



8



 Tài trợ truy đòi một phần: theo hình thức này, trách nhiệm hồn thành nghĩa vụ

nợ của công ty bán lẻ đối với Ngân hàng trong trường hợp người tiêu dùng

khơng thanh tốn chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, tùy thuộc vào

thỏa thuận giữa công ty bán lẻ và Ngân hàng

 Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho

Ngân hàng, công ty bán lẻ khơng có trách nhiệm gì trong việc người tiêu dùng

có thanh tốn hay khơng. Đây là phương thức tài trợ khá rủi ro nên chi phí nhận

tài trợ cao, khoản nợ được kén chọn kĩ đồng thời công ty bán lẻ cũng thực sự

phải có uy tín.

 Tài trợ có mua lại: khi thực hiện cho vay tiêu dùng gián tiếp theo phương thức

truy đòi một phần hoặc miễn truy đòi để để hạn chế rủi ro xảy ra cho mình

trong trường hợp người tiêu dùng khơng thanh tốn nợ, nếu có thỏa thuận từ

trước thì Ngân hàng sau khi thanh lí tài sản có quyền bán lại phần nợ của mình

cho cơng ty bán lẻ chưa thanh tốn kèm theo tài sản đã giữ trong một thời gian

nhất định

Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Đây là khoản vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp

xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay. Người tiêu dùng

trả trước một phần số tiền mua tài sản cho cơng ty bán lẻ. Ngân hàng thanh tốn số

tiền mua tài sản còn thiếu cho cơng ty bán lẻ, công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu

dùng, người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.



(3)

CÔNG TY BÁN LẺ



NGÂN HÀNG



(1)



(5)



(2)

(4)

NGƯỜI TIÊU DÙNG



(1) Ngân hàng và người tiêu dùng kí kết hợp đồng vay

(2) Người tiêu dùng trả trước một phần giá trị tài sản cho cơng ty bán lẻ

(3) Ngân hàng thanh tốn số tiền mua còn thiếu cho cơng ty bán lẻ

(4) Cơng ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(5) Người tiêu dùng thanh toán số tiền vay cho Ngân hàng



Cho vay tiêu dùng trực tiếp ưu việt hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp:



9



Các khoản cho vay thường có chất lượng cao hơn so với việc cho vay thơng qua doanh

nghiệp bán lẻ do ngân hàng có thể sử dụng trình độ, nghiệp vụ, kinh nghiệm… của cán

bộ tín dụng. Các cán bộ ngân hàng khi cho vay thường chú ý tới chất lượng khoản vay,

còn các doanh nghiệp bán lẻ khi cho vay thường chú ý tới doanh số bán hàng, trình độ

phân tích thẩm định tín dụng còn thấp.

Hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp. Khi

cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng do đó có thể

dễ dàng xử lý tốt các tình huống phát sinh, làm thoả mãn quyền lợi của cả khách hàng

và ngân hàng.

Các hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp

 Tín dụng trả theo định kì: theo đó Ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng một

số tiền và Khách hàng sẽ trả nợ theo kì hạn xác định. Kì hạn này tùy thuộc vào

thu nhập của khách hàng.

 Thấu chi: Đây là hình thức cấp tín dụng trong đó khách hàng được quyền rút

theo hạn mức tín dụng đã được cấp trong một khoảng thời gian nhất định (tối đa

không quá 12 tháng

 Thẻ tín dụng: Đây là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng có tài khoản tại

Ngân hàng và đủ điều kiện cấp thẻ. Ngân hàng sẽ ấn định hạn mức tối đa cho

những người có thẻ sử dụng.

1.2MỞ RỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG

1.2.1 Khái niệm mở rộng tín dụng tại Ngân hàng thương mại

Cho vay tiêu dùng được xem là nghiệp vụ chiếm thị phần lớn và đem lại lợi

nhuận nhiều nhất cho các Ngân hàng thương mại. Hầu hết tổ chức tín dụng ở Việt

Nam đều đã tiến hành cho vay tiêu dùng, nhưng thị trường này chỉ thật sự sôi động

trong khoảng vài năm trở lại đây, khi có sự tham gia của các ngân hàng thương mại,

cơng ty tài chính nước ngồi.

Việc mở rộng cho vay tiêu dùng là rất cần thiết vì vừa tăng được doanh thu cho

ngân hàng, tăng sức cạnh tranh với các đối thủ khác, thỏa mãn những yêu cầu hợp lí

của khách hàng về các sản phẩm cho vay tiêu dùng cũng như các dịch vụ kèm theo. Và

việc mở rộng CVTD còn giúp cho nền kinh tế đáp ứng được nhu cầu vốn cấp thiết,

góp phần nâng cao được đời sống người dân và sự phát triển của xã hội. Từ đó ta có

thể hiểu “Mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng là việc tăng cường hoạt động cho

vay tiêu dùng trên nhiều phương diện như qui mô, chất lượng, tính đa năng…nhằm

nâng cao doanh số, cũng như lợi nhuận từ dịch vu tín dụng này ”.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng phải đặt khái niệm mở rộng CVTD trong mối

quan hệ với các chỉ tiêu tài chính khác. Q trình phân tích, đánh giá cho vay tiêu

dùng hiện đại tạo điều kiện cho việc tìm hiểu các nguyên nhân, vướng mắc trong

CVTD từ đó giúp ngân hàng lựa chon được phương pháp phù hợp để mở rộng cho vay

tiêu dùng trong từng thời kỳ nhất định



10



1.2.2 Cơ sở của việc mở rộng CVTD

1.2.2.1 Do nhu cầu của người tiêu dùng tăng cao

Sự phát triển của nền kinh tế khiến cho thu nhập của người dân tăng cao đời

sống nhân dân không ngừng cải thiện. Nếu trước đây nhu cầu của người dân chỉ ở mức

các mặt hàng thơng thường phục vụ nhu cầu thiết yếu thì ngày nay đã được nâng lên

thành các mặt hàng xa xỉ. Bên cạnh đó Việt Nam có dân số đơng trên 90 triệu người và

phần đông là người trẻ năng động thu nhập tăng cao khiến cho nhu cầu cũng lớn hơn.

Đây là một thị trường đầy tiềm năng và cũng chính là cơ hội cho các Ngân hàng mở

rộng hình thức cho vay tiêu dùng để phục vụ người dân vì khơng phải lúc nào họ cũng

có đủ nguồn tài chính để đáp ứng các nhu cầu của mình.

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và thu nhập bình quân đầu người( GDP/người)

Việt Nam giai đoạn 2011-2013

Năm

GDP

GDP/người(USD)



2011

5.89%

1517



2012

5.2%

1749



2013

5.45%

1890

( Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Thu nhập gia tăng và chính trị ổn định là những cơ sở quan trọng cho Ngân

hàng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng. Trong giai đoạn nền kinh tế đang phục hồi

sau khủng hoảng tài chính thế giới, GDP tăng trưởng thấp, thu nhập đầu người giảm

mạnh khiến cho nhu cầu tiêu dùng cũng giảm. Tuy nhiên với đà phục hồi của nền kinh

tế, cơ cấu dân số trẻ, năng động, thu nhập đầu người đã đạt gần 2000 USD, nhu cầu

vay tương đối cao chắc hẳn CVTD vẫn là một thị trường đầy màu mở mà các Ngân

hàng có thể khai thác trong tương lai.

1.2.2.2 Do lợi nhuận từ các khoản CVTD

Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác đều kinh doanh vì mục tiêu lợi

nhuận. Vấn đề này luôn đi kèm với những rủi ro. Trước đây khi cơng nghệ còn chưa

hiện đại, quy mơ vốn còn hạn chế, trình độ cán bộ tín dụng còn thấp, việc thẩm định

gặp nhiều khó khăn, cơng tác phòng ngừa rủi ro còn chưa hồn thiện nên các Ngân

hàng e ngại việc mở rộng tín dụng. Sự phát triển của xã hội cũng như của hệ thống

dịch vụ Ngân hàng đã dần xóa đi các khó khăn hạn chế trong công tác thẩm định,

khiến rủi ro tương đối thấp, cùng với đó là những khoản vay tiêu dùng với số lượng

ngày càng tăng, khoản lợi nhuận đem lại lớn khiến các Ngân hàng ngày càng chú trọng

hơn tới mảng CVTD .

1.2.2.3 Do hạn chế được rủi ro hoạt động từ CVTD

Rủi ro hoạt động được định nghĩa rủi là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên

nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành khơng tốt các quy trình, hệ

thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại

trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín. Đây là rủi ro khó phòng ngừa trong CVTD



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Khái niệm cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×