Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: phương hướng và giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt( NCB)

Chương 3: phương hướng và giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt( NCB)

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



Với kế hoạch tăng tài sản, nguồn vốn, tiếp tục tái cấu trúc và thu hồi nợ quá

hạn, xây dựng ngân hàng hiện đại theo chuẩn mực quốc tế để tạo thuận lợi cho người

tiêu dùng cũng như nhân viên ngân hàng.

Cho vay tiêu dùng được định hướng phát triển trong tương lai nhằm nâng cao hiệu

quả, tạo nguồn thu lớn hơn cho Ngân hàng, đưa Ngân hàng trở thành ngân hàng bán lẻ,

cung cấp dịch vụ cá nhân hàng đầu. Đứng trước xu hướng phát triển mạnh mẽ của

CVTD nói riêng- Ngân hàng bán lẻ nói chung Ngân hàng Nam Việt( Quốc Dân) cũng

đưa ra những chính sách, định hướng mở rộng cho vay tiêu dùng:

- Mở rộng, phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng với nhiều hình thức đa

dạng hơn, cùng với đó đảm bảo chất lượng dịch vụ, chất lượng tín dụng

- Giảm tỉ lệ nợ quá hạn về mức an toàn theo qui định của ngân hàng nhà nước

- Nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống, quản trị rủi ro, tiêu chuẩn đánh giá tín

dụng theo chuẩn mực quốc tế, mở rộng mạng lưới hoạt động để phục vụ khách

hàng tốt hơn

- Tiếp tục nghiên cứu các sản phẩm cho vay tiêu dùng hiện đại phục vụ đối tượng

tiêu dùng trẻ năng động: thanh toán thẻ, thanh toán điện tử…

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng các nghiệp vụ chuyên

sâu về Tín dụng cũng như CVTD

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CVTD TẠI NGÂN HÀNG NAM

VIỆT( QUỐC DÂN- NCB)

Trên cơ sở kết quả đạt được trong giai đoạn 2011-2013 và những định hướng mở rộng

CVTD của NCB một số giải pháp được đề xuất để mở rộng CVTD có thể kể đến:

3.2.1 Mở rộng nguồn vốn.

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung

cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất luợng

hoạt động của ngân hàng. Trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thì tiền gửi là

nguồn tiền quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Đây là

nguồn huy động từ quỹ nhàn rỗi trong dân cư khối lượng lớn và thường xuyên dân

chúng đã biết đến ngân hàng như là nơi đảm bảo an toàn và sinh lợi cho những khoản

tiết kiệm của họ.Do đó để cạnh tranh với các ngân hàng trong việc thu hút lượng tiền

gửi trong dân chúng thì đòi hỏi NCB phải đưa ra những chiến lược, những sản phẩm

hấp dẫn để có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác: phát triển một hệ thống các sản

phẩm dịch vụ phong phú, tiếp thị hiệu quả, phân phối và cung ứng các dịch vụ thuận

tiện, phát triển các dịch vụ trọn gói như: thu, chi hộ tiền mặt…phát triển hình thức

thanh tốn hiện đại. Thực hiện các chính sách ưu đãi về lãi suất đối với những khách

trả nợ đúng hạn, tiền gửi lớn và kì hạn dài, tiết kiệm tích lũy, cho phép rút từng phần

theo yêu cầu của khách hàng… Thực hiện tổ chức tiếp thị và quảng cáo để người dân

hiểu được những lợi ích khi gửi tiền.



51



3.2.2 Giải pháp về sản phẩm dịch vụ

3.2.2.1 Hồn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay khi mà có rất nhiều các TCTD

cung cấp sản phẩm dịch vụ cho vay tiêu dùng khi sử dụng khách hàng sẽ quan tâm đến

lợi ích của các sản phẩm và có sự so sánh giữa các nhà cung cấp. Dù các thuộc tính cơ

bản của một sản dịch vụ ngân hàng đã được xác định ngay từ đầu, nhưng trong quá

trình cung ứng, Ngân hàng cần phải thực hiện các chiến lược khác biệt hóa sản phẩm,

cung cấp thêm nhiều dịch vụ tiện ích nhằm thu hút khách hàng. Mức độ hoàn thiện và

nâng cao chất lượng của sản phẩm dịch vụ sẽ là nhân tố quyết định sự trung thành, mối

quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng. Một sản phẩm ngân hàng hoàn thiện

được khách hàng đánh giá dựa trên các tiêu chí:

- Hiệu quả mang lại khách hàng.

- Thái độ phục vụ tốt của cán bộ nhân viên.

- Tốc độ xử lý nhanh.

- Trình độ cơng nghệ hiện đại.

Tuy nhiên cũng có thể thấy việc hồn thiện được sản phẩm còn phụ thuộc nhiều

vào chiến lược kinh doanh của lãnh đạo Ngân hàng cũng như sức mạnh, sự biến

chuyển về chất của đội ngũ cán bộ công nhân viên cũng như nguồn vốn của ngân

hàng.

3.2.2.2 Phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng mới

Hoàn thiện sản phẩm chỉ là việc tạo ra những phiên bản mới trên những sản

phẩm hiện tại với những tính năng ưu việt hơn dựa trên những sản phẩm hiện tại.

Cùng với việc hoàn thiện sản phẩm, Ngân hàng cần chú trọng việc phát triển sản phẩm

mới. Phát triển sản phẩm mới là nội dung vô cùng quan trọng trong chiến lược phát

triển sản phẩm của mỗi Ngân hàng. Bởi sản phẩm mới sẽ làm đa dạng hơn danh mục

sản phẩm kinh doanh, giúp ngân hàng thoả mãn được nhu cầu mới phát sinh của khách

hàng, từ đó tăng tính cạnh tranh, tăng vị thế, uy tín, và hình ảnh của Ngân hàng trên thị

trường.

Ngân hàng có thể phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng đối với các cán bộ

cơng nhân viên ngồi ngành Ngân hàng, cho vay mua bán xe đã qua sử dụng, cho vay

xuất khẩu lao động, cho vay sinh viên…

3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động marketing trong lĩnh vực CVTD.

Ngồi những chính sách canh tranh về lãi suất và chất lượng phục vụ thì một

trong những phương thức mà để khách hàng biết đến ngân hàng nhiều nhất là quảng bá

hình ảnh của ngân hàng thơng qua hoạt động marketing. Đây là một lĩnh vực chưa

được khai thác phát huy hiệu quả ở Navibank. Do đó Ngân hàng cần phải quảng bá

hình ảnh của mình thơng qua các phương tiện thông tin đại chúng, tạo ra một hình ảnh

đẹp chất lượng cao trong tâm trí khách hàng. Các ngân hàng đang cạnh tranh nhau

trong việc tìm kiếm khách hàng vì vậy muốn nâng cao số lượng khách hàng, chất

luợng sử dụng vốn huy động còn phải quan tâm đến công tác nghiên cứu thị trường.



52



Tăng cường phối hợp, liên kết với các siêu thị, đại lí bán lẻ trên toàn quốc để

người tiêu dùng dễ dàng thanh tốn tiền hàng hóa, mua bán trả góp với các điều kiện

dễ dàng hơn trước đây.

3.2.4 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ

đội ngũ nhân viên ngân hàng.

Xu hướng tồn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng cùng với sự phát triển

nhanh chóng của cơng nghệ, đòi hỏi các Ngân hàng có những phương tiện thanh tốn

hiện đại đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, do đó hiện đại hóa cơng nghệ Ngân

hàng là một việc làm thiết yếu để mở rộng CVTD. Một hệ thống ứng dụng công nghệ

cần phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:

- Đảm bảo tiêu chuẩn hố hệ thống thơng tin, số liệu.

- Có khả năng bảo quản, lưu trữ hồ sơ tốt.

- Phân định rõ các chức năng, nhiệm vụ.

- Có khả năng tích hợp nhiều ứng dụng.

- Nhanh, chính xác, thuận tiện khi sử dụng.

Hiện nay Navibank đang khai thác thể mạnh và hiệu quả của Hệ thống quản trị

ngân hàng cốt lõi (core banking) Microbank, cùng với đó là hệ thống Internet Banking,

SMS Banking, phone banking để phục vụ khách hàng.

Bất cứ một lĩnh vực kinh doanh nào để hoạt động làm ăn có hiệu quả đòi hỏi

cán bộ nhân viên phải có trình độ chun mơn, ngân hàng cũng không phải ngoại lệ

bên cạnh những yếu tố như trình độ chun mơn cao, am hiểu nghề nghiệp, có kiến

thức phong phú có sự nhanh nhạy trong phán đốn và đặc biệt là phải có đạo đức nghề

nghiệp. Vì vậy ngân hàng phải thường xun có những lớp tập huấn đào tạo lại cán bộ

công nhân viên trong ngân hàng, tổ chức các cuộc kiểm nhiệm về kiến thức của nhân

viên, khuyến khích tinh thần tự học hỏi của cán bộ nhân viên. Đưa ra những hình thức

kỉ luật khen thưởng kịp thời để khuyến khích tinh thần làm việc của cán bộ nhân viên.

Tạo môi trường làm việc năng động, hòa đồng để nhân viên phát huy tối đa khả năng

của mình.

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ

 Chính phủ cần ban hành thêm các quy định về CVTD cũng như văn bản luật

nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, tạo hành lang pháp lý để các

ngân hàng yên tâm kinh doanh trong lĩnh vực này.

 Có các chính sách khuyến khích sản xuất các mặt hàng tiêu dùng, nhằm tăng

lượng cung ứng, tránh tình trạng đẩy giá lên cao. Đồng thời là các chính sách

tạo điều kiện để người dân có công ăn việc làm, đảm bảo thu nhập

 Hiện nay, chênh lệch về thu nhập của người dân Việt Nam còn khá cao đặc biệt

giữa khu vực thành thị và nông thôn, điều nay gây hạn chế trong việc phát triển

hoạt động CVTD ở nơng thơn. Do đó Chính phủ cần có những chính sách hợp

lý thuận lợi cho người dân cũng được tiêu dùng những sản phẩm hiện đại nhưng



53



chi phí cao bằng cách có những chính sách ưu đãi riêng trong CVTD và đồng

thời nâng cao mức sống cho người dân, phát triển kinh tế vùng.

 Đưa ra những chính sách hợp lý tạo thuận lợi cho các ngân hàng trong nước có

khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngồi khi họ có lợi thế hơn về

trình độ, cơng nghệ, vốn…

3.3.2. Kiến nghị đối với NHNN.

 Hiện nay, ở Việt Nam chỉ mới có Luật của các tổ chức tín dụng chung chưa có

luật thể về CVTD vì vậy NHNN cần phải triển khai nhanh chóng một cách

đồng bộ những văn bản luật về CVTD, các văn bản hướng dẫn, qui định cụ thể

về các loại hình, cách thức, nguyên tắc trong cho vay tiêu dùng, cũng như các

văn bản qui định chính sách ưu đãi với hình thức này.

 Xây dựng, hồn thiện hệ thống thông tin liên ngân hàng, NHNN phối hợp với

các ngân hàng thương mại trong thu thập thông tin về khách hàng phục vụ hoạt

động tín dụng nói chung và CVTD nói riêng, giúp các ngân hàng trong quyết

định tín dụng và giảm thiểu rủi ro

 Tiếp tục phát triển hình thức thanh toán liên ngân hàng nhằm mục tiêu tiết kiệm

thời gian hạn chế tiền mặt lưu thông, giảm thiểu chi phí.

 Nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của NHNN đối với hoạt động CVTD của

các NHTM hạn chế những rủi ro cho những người vay tiến và cho chính các

ngân hàng.

3.3.3. Kiến nghị đối với NCB để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng

 Đa dạng hóa sản phẩm cho vay tiêu dùng, thống nhất về mặt quy chế, qui trình,

mẫu biểu,…

 Nâng cấp trang thiết bị hiện đại giúp cho hoạt động của ngân hàng được thực

hiện một cách nhanh chóng, chính xác thuận tiện cho khách hàng cũng như các

nhân viên ngân hàng khi thực hiện giao dịch với khách hàng.

 Hồn thiện chính sách CVTD. Hiện nay, NCB các chính sách chưa được quy

định một cách hệ thống và hoàn chỉnh mới chỉ được thể hiện trên các văn bản

hướng dẫn đối với từng loại sản phẩm CVTD. Vì vậy đối với chính sách CVTD

ngân hàng cần phải bổ sung thêm nhiều khoản mục và làm chi tiết hơn những

khoản mục đã có như: mở rộng hạn mức tín dụng, nâng cao thời hạn CVTD đối

với từng đối tượng khách hàng loại hình nghề nghiệp, điều kiện của từng loại

khách hàng, xác định đoạn thị trường mục tiêu để đưa ra những chính sách biện

pháp cụ thể, phù hợp. Bên cạnh đó, để cạnh tranh được với các ngân hàng khác,

thì NCB cần phải điều chỉnh chính sách lãi suất để mở rộng CVTD.

 Nhanh chóng hồn thành cơng tác tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng, giảm tỉ

trọng nợ xấu, làm sáng tình hình tài chính của nhằm thu hút khách hàng.

 Navibank cũng phải có chính sách tạo điều kiện cho các cán bộ trong ngân hàng

linh hoạt hơn khi tiếp cận cung cấp các sản phẩm cho khách hàng. Thường



54



xuyên có những lớp tập huấn để nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ nhân

viên. Đưa ra những chính sách khen thưởng thi đua đối với các nhân viên để

khuyến khích tinh thần làm việc.

 Tăng cường cơng tác thanh tra giám sát, nhằm kiểm tra phát hiện sai sót trong

hoạt động cho vay tiêu dùng.

 Thêm đó, cần phải mở rộng mạng lưới hoạt động, phòng giao dịch chi nhánh ,

điểm đặt máy ATM, khu vực đặt máy POS, tăng cường liên kết với các đại lí,

cửa hàng, nhà cung cấp để phục vụ khách hàng hiệu quả hơn, tăng hiệu quả

bán chéo sản phẩm dịch vụ.

KẾT LUẬN

Trong xu thế hội nhập và mở cửa cảu nền kinh tế cùng với sự phát triển của xã

hội về mọi mặt thì CVTD là một xu thế tất yếu trong hoạt động của ngân hàng, nó sẽ

là một lĩnh vực hoạt động thu được lợi nhuận cao cho các ngân hàng. Ngân hang NCB

cũng đã tích cực thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng tiêu

dùng, khẳng định vai trò ngân hàng đa năng và có chất lượng phục vụ hàng đầu, buớc

đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Có thể nói, dù chiếm tỉ trọng chưa cao trong cơ cấu dư nợ tín dụng của NCB

nhưng hoạt động CVTD đã dần khẳng định vai trò của mình trong sự đóng góp vào

doanh thu cho ngân hàng. Tuy nhiên để thực hiện thành công hơn nữa loại hình tín

dụng này, đặc biệt là trong tình hình cạnh tranh cao như hiện nay, đòi hỏi ngân hàng

cần phải có sự đầu tư đổi mới về nhân lực, quy trình hoạt động, mở rộng mạng lưới…

để phát huy tốt nhất hiệu quả của ngân hàng.

Qua quá trình thực tập tại ngân hàng, nghiên cứu thực trạng mở rộng CVTD tại

NCB em đã hiểu rõ thêm về hoạt động CVTD cũng như sự cần thiết cần phải mở rộng

hoạt động tín dụng này. Do những hạn chế về nhiều mặt: kiến thức lý luận cũng như

thực tiễn, thời gian nghiên cứu, tài liệu,...nên chuyên đề không thể tránh khỏi thiếu sót.

Em rất mong sự góp ý, nhận xét của thầy cơ cho để em hồn thiện đề tài này.

Em xin chân thành cảm ơn !



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: phương hướng và giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt( NCB)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×