Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



1.1.3. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

1.1.3.1. Đối với doanh nghiệp

Cạnh tranh đóng vai trò quyết định sự thành bại và phát triển của mỗi doanh

nghiệp. Tùy theo chiến lược cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp họ sẽ đưa ra những

hoạt động tác động đến hiệu quả tiêu thụ sản phẩm, và từ đó mà nhà quản lí đưa ra

quyết định trong việc có nên tiếp tục nữa hay khơng. Nói cạnh tranh là yếu tố tác

động đến sự tăng trưởng của DN là bởi từ việc cạnh tranh dẫn đến “thúc đẩy doanh

nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của

mình”.Lợi ích của việc cạnh tranh có hiệu quả là thị phần của DN tăng lên, nâng

cao vị trí của doanh nghiệp trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh.

1.1.3.2. Đối với người tiêu dùng

“Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận

được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá cả

phù hợp với khả năng của họ”.

1.1.3.3. Đối với ngành kinh tế

Mỗi một DN là một thành phần của nền kinh tế, vì vậy cạnh tranh thúc đẩy sự

phát triển của doanh nghiệp cũng là đang thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh. Để

cạnh tranh cần phát triển lực lượng sản xuất đi kèm theo đó là thúc đẩy sự phát triển

của khoa học kỹ thuật. Cạnh tranh là đòi hỏi tính năng động của doanh nghiệp trong

việc khai thác nhu cầu của xã hội qua việc phát triển và cho ra các sản phẩm mới.

Bởi đời sống ngày càng được nâng cao nên doanh nghiệp cũng cần nắm bắt cơ hội

để sản phẩm của mình được tiếp cận nhiều hơn với người tieu dùng. Tuy nhiên cạnh

tranh cũng dẫn đến nhiều hệ quả đi kèm đó là sự phân hóa giàu nghèo, xu hứng độc

quyền trong kinh doanh.

1.1.4. Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

1.1.4.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường

 Cạnh tranh giữa người mua và người bán

Cạnh tranh giữa người mua vàưngười bán là cuộc cạnh tranh diễn ra theo

“luật” mua rẻ bán đắt. Chắc chắc rằng người mua luôn muốn hàng hóa mình mua có



Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



5

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



giá rẻ, ngược lại người bán thì muốn hàng hóa mình bán ra được giá cao. Sự cạnh

tranh này được thể hiện trong động thái đó là việc thương lượng giữa hai bên để đưa

ra giá cả cuối cùng và việc mua được kết thúc.

 Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

Cạnh tranh giữa những người mua với nhau là hoạt động diễn ra theo cơ chế

cung cầu “Khi một loại sản phẩm nào đó mà sự cung cấp nhỏ hơn khả năng tiêu

dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt và giá dịch vụ hàng hố đó sẽ tăng.

Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì bị

thiệt hại. Chính vì vậy dẫn đến những người mua tự làm hại chính mình

 Cạnh tranh giữa người bán với nhau

Đây là cuộc cạnh tranh mà doanh nghiệp nào cũng phải đương đầu với nó bởi

nó quyết định đến sự tồn tại của họ. Khi thị trường của bất kì một loại sản phẩm nào

phát triển đều đi kèm theo đó là sự tăng lên về số lượng của các nhà sản xuất. Các

doanh nghiệp cạnh tranh một cách quyết liệt với nhau để thu về cho mình nhiều lợi

nhuận nhất đồng thời chiếm lĩnh thị phần về cho doanh nghiệp mình. Chính vì vậy

mà đây được coi là cuộc cạnh tranh gam go và khốc liệt nhất bởi nó khơng còn là

việc tăng lợi nhuận, mở rộng quy mơ sản xuất mà còn quyết định đến sự tồn tại của

doanh nghiệp trên thị trường.

1.1.4.2. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh

 Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có cùng một loại sản phẩm. Cuộc cạnh

tranh này dấn đến một hệ quả là các doanh nghiệp yếu thế hơn sẽ bị doanh nghiệp

mạnh “buộc” phải cắt giảm quy mô của mình hoặc thậm chí là bị đánh.

 Cạnh tranh giữa các ngành

“Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau trong các ngành của nền

kinh tế với mục đích làm sao để đem về lợi nhuận lớn nhất. Trong sự cạnh tranh

này, những ông chủ doanh nghiệp luôn bị thu hút bởi những ngành đầu tư đem lại

nhiều lợi nhuận và chuyển vốn đầu tư từ những ngành khác sang ngành. Sự điều tiết

hình thành tỉ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành, tức là việc phân phối đầu tư

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



6

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



này sẽ mang đến một kết quả là các doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với

một số vốn như nhau sẽ thu lại lợi nhuận như nhau”

1.1.4.3. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh

 “Cạnh tranh hồn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó khơng có người sản

xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường, làm ảnh

hưởng đến giá cả.“Cạnh tranh hồn hảo được mơ tả tất cả các hàng hóa trao đổi

được coi là giống nhau, tất cả những người bán và”người mua đều có hiểu biết đầy

đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi, khơng có gì cản trở việc

gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay người bán.

 Cạnh tranh khơng hồn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi các

điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hồn hảo khơng được thỏa mãn. Các loại

cạnh tranh khơng hồn hảo gồm: độc quyền, độc quyền nhóm, cạnh tranh độc

quyền, độc quyền mua.”

1.2. Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá

1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh

1.2.1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh và một số cách tiếp cận

Trong quá trình nghiên cứu cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm NLCT.

NLCT được xem xét ở các góc độ khác nhau như NLCT quốc gia, năng lực cạnh

tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ…Ở luận văn này,

sẽ chủ yếu đề cập đến NLCT của DN trong ngành.

Ngày nay các DN trong nước hay cả trên thế giới đều chưa hiểu về năng lực

cạnh tranh ở một thể thống nhất. Cho nên ở chuyên đề này tôi sẽ đưa ra một số các

tiếp cận về khái niệm NLCT của một số diễn giả và tổ chức trên thế giới như sau:

 Trong các cơng trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995),

Buckley (1991), Schealbach (1989) hay như tại các nước của CIEM (Ủy ban Quốc

gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế), “NLCT của DN là khả năng duy trì và mở rộng thị

phần, thu lợi nhuận của DN”. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó

“NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi”

của các DN”



Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



7

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



 NLCT của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh

nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa:

“NLCT là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới”. Ủy ban

Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: “NLCT là năng lực của một

doanh nghiệp, không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Tuy

nhiên, việc đưa ra định nghĩa như trên chỉ góp phần định tính và rất khó định lượng.

 NLCT đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát

triển Kinh tế (OECD): “NLCT của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương

đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh

nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo M. Porter

(1990): “năng suất lao động là thức đo duy nhất về NLCT. Tuy nhiên, các quan

niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN”

 NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác

giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: “NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy

trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”. Tác giả Trần

Sửu cũng có ý kiến tương tự: “NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế

cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh,

chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.

 NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh

trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có

hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển

kinh tế bền vững.

1.2.1.2. Bản chất của NLCT

NLCT của doanh nghiệp bản chất là thực lực và lợi thế của doanh nghiệp khi

đem ra so sánh với đối thủ trong việc đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu

của khách hàng đem lại lợi nhuận ngày càng cao hơn, đi cùng với đó là việc khai

thác và sử dụng những lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những đặc ddiemr

vượt trội nhằm thu hút người tiêu dùng thông qua những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn

từ đó mà DN tồn tại và phát triển, tăng lợi nhuận, vượt xa các đối thủ cạnh tranh

trong thị trường.

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



8

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



 Thực lực của doanh nghiệp

Thực lực của DN là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, khơng chỉ được

tính bằng các tiêu chí về cơng nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh

nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh

trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu

những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông

qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh.

 Lợi thế của doanh nghiệp

Lợi thế cạnh tranh là DN nắm trong tay của các điểm mạnh mà đối thủ khơng

có được, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để phát triển kinh doanh. Cụn từ

lợi thế cạnh tranh được áp dụng đối với một DN thậm chí là một quốc gia khi có sự

so sánh với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có

tính vi mơ (cấp DN), vừa có tính vĩ mơ (ở cấp quốc gia). Ngồi ra còn xuất hiện thuật

ngữ “lợi thế cạnh tranh bền vững” có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp

cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có một DN nào khác trên thị trường có

thể cung cấp được.

1.2.1.3. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh

 Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia

NLCT quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của tất cả các hàng hóa trong

thị trường nội địa và xuất khẩu. Có rất nhiều quan niệm về NLCT cấp quốc gia

Theo Asia Development Outlook 2003, “NLCT quốc gia là khả năng cạnh

tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của

thị trường quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của cơng

dân nước đó”. Nói cách khác, NLCT quốc gia phản ánh khả năng của một nước

trong việc sản xuất và bán sản phẩm trong thương mại quốc tế đồng thời tăng thêm

doanh thu từ nguồn lực của nó.

Theo như diễn đàn kinh tế thế giới 1997 (WEF), thì NLCT quốc gia có thể coi

là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh

tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định

kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



9

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”

Cũng theo WEF: “NLCT của quốc gia được đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở

của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính, mơi trường

cơng nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh

họat của thị trường lao động, môi trường pháp lý”

 NLCT cấp độ ngành/sản phẩm

Khi một đất nước muốn có nền kinh tế phát triển, có NLCT cao thì đất nước

đó cần phải có nhiều DN có NLCT cao.

NLCT của DN được đo bằng việc thu được lợi nhuận cao trong môi trường

cạnh tranh, bảo vệ và phát triển được thị phần của mình. Ngồi ra, NLCT còn được

đánh giá qua các yếu tố khác như: nguồn lực về vốn, công nghệ, con người, quản lý;

chất lượng và giá cả sản phẩm; hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng của

DN; chiến lược kinh doanh của DN.

Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, lợi thế cạnh tranh của một DN,

một ngành ngồi có sự phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ DN mà còn phụ

thuộc vào các yếu tố bên ngoài phạm trù một quốc gia bao gồm: các điều kiện nhà

cung cấp, sức mua của khách hàng, các ngành có liên quan, mơi trường cạnh tranh

ngành và các công cụ của nhà nước.

 NLCT của DN.

NLCT của ngành hay DN lại được thể hiện thơng qua NLCT của sản phẩm,

dịch vụ của nó. Đây cũng là cái thể hiện rõ nhất NLCT của các chủ thể nói chung.

Theo số ra 317 của báo Nghiên cứu kinh tế, tháng 10/2004 của TS Nguyễn

Văn Thanh: “NLCT cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có được nhằm

duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”

NLCT của một hàng hóa được nhận biết thơng qua điểm vượt trội hơn hẳn của

hàng hóa đó với các hàng hóa khác cùng loại.

NLCT của một hàng hóa có thể được cho điểm qua: giá cả, sự khác biệt hóa,

mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương hiệu… so với DN đối thủ trên cùng một phân

đoạn thị trường vào cùng một thời điểm.

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



10

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là “một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở đâu có nền

kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh nghiệp nào

cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn DN mình tồn tại và

đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay do tác động của

khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu

cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con người

không chỉ cần có nhu cầ” “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà còn cần “ăn ngon

mặc đẹp”. Để theo kịp xu hướng đó, DN có sự đầu tư trong việc điều tra nghiên cứu

thị trường, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng, DN nào có thể đáp ứng được càng

nhiều những đòi hỏi khắt khe của khách hàng thì DN đó sẽ chiến thắng trong cạnh

tranh. Những điều trên đã nói lên sự cần thiết của cạnh tranh, nó giúp cho DN:

- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh

doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách

hàng tin rằng sản phẩm của DN mình là tốt nhất. DN nào càng bán được nhiều sản

phẩm cho khách hàng thì DN đó mới có khả năng tồn tại trong thị trường.

- DN cần phải cạnh tranh để phát triển

“Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là một

yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển

sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá sản xuất ra nhiều, số lượng

người cung ứng ngày càng đơng thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh

là loại bỏ những công ty làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp và ngược lại

nó thúc đẩy những Công ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao. Do vậy, muốn tồn tại

và phát triển thì DN cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh

của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các DN cần phải tìm mọi biện

pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng

hố có chất lượng cao, giá cả phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thu

nhập của từng đối tượng khách hàng. Có như vậy hàng hố của DN bán ra mới ngày

một nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển được thì

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



11

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



DN cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với các đối

thủ cạnh tranh từ đó DN mới có khả năng tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận

cao”

- DN phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu

“Bất kỳ một DN nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều

có những mục tiêu nhất định. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh

nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau. Trong giai

đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là

muốn khai thác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng,

giai đoạn này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt. Còn ở

giai đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh

thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được coi là khơng cần

thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tin của khách

hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất. Đến giai đoạn gần như bão hồ thì mục tiêu

chủ yếu của doanh nghiệp là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách

thực hiện trách nhiệm đối với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm

tin cho của khách hàng đối với doanh nghiệp. Để đạt được các mục tiêu doanh

nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá

tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất

lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu

cầu khách hàng ngày càng tăng. Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn

tại và phát triển”

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá

1.2.3.1. Các tiêu chí định lượng

 Doanh thu

Doanh thu là số tiền mà DN thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ. Bởi vậy

mà một trong những tiêu chí đánh giá NLCT là doanh thu. Hơn khả năng cạnh tranh

của DN là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận. Đánh giá chiều hướng phát triển

của DN thông qua bảng thống kê doanh thu của DN qua các năm. Đồng thời ta cũng

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



12

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



phải quan tâm đến các vấn đề về tốc độ tăng của chi phí, các khoản DN đầu tư cho

tương lai. DN có thể sử dụng phần doanh thu đó cho việc đàu tư cơ sở hạ tầng và

mua sắm trang thiết bị,...

 Thị phần DN

Hiện nay, ngoài sử dụng doanh thu để đánh giá NLCT thì thị phần DN cũng

được coi là một công cụ để đánh giá NLCT của DN so với các DN khác. Thị phần

được định nghĩa là “phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung

lượng thị trường”. Từ đó ta đưa ra một số công thúc xác định thị phần của DN như

sau:

- Thị phần tuyệt đối:

Thị phần tuyệt đối của DN đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ

lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của DN với doanh thu của tất cả các DN kinh

doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó.

Cơng thức tính:



- Thị phần tương đối:

Thị phần tương đối của một doanh nghiệp được đo lường bằng tỷ số giữa DN

với doanh số của đối thủ cạnh tranh lớn nhất. Chỉ số này cho biết vị thế của DN so

với các DN đối thủ.

Cơng thức tính:



Chỉ tiêu này đơn giản, dễ hiểu, song kết quả tính tốn chưa thật chính xác do

khó lựa chọn được đối thủ cạnh tranh lớn nhất.

Chỉ tiêu này càng lớn nói lên % thị trường của DN đang chiếm lĩnh là càng

lớn. “Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt

động của DN có hiệu quả hay khơng bởi nếu DN có một mảng thị trường lớn thì chỉ

số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



13

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



trường. Nếu DN có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản

ánh tình trạng DN đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chỉ tiêu thị

phần, DN có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành”

“Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của DN so với các đối thủ ta dùng chỉ

tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủ

cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm

còn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng

nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đối

thủ”

 Tỉ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùng

vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận cao chứng tỏ DN đó có doanh thu

bán hàng cao và chi phí bỏ ra thấp. Đây là vấn đề mà các DN đặt ra để nâng cao

NLCT, chính vì vậy mà khi DN có lợi nhuận cao thì DN đó sẽ được đánh giá là một

DN có NLCT cao.

“Chỉ tiêu này cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu được bao nhiêu

đồng lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ

tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của DN thấp. Hiệu quả kinh doanh của

DN chưa đạt hiệu quả cao. Đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường của

doanh nghiệp. Do đó DN phải không ngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng

cạnh tranh. Nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độ

tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu. Hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp được đánh giá là có hiệu quả. Điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của DN

cao. DN cần phát huy lợi thế cảu mình một cách tối đa và khơng ngừng đề phòng đối

thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của DN bất cứ lúc nào do sức hút lợi

nhuận cao.”

Lợi nhuận được tính bằng cơng thức:

L = ( P-ATC)*Q

Trong đó: L



: Lợi nhuận



Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



14

Lớp: Kế hoạch 56 A



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân



P



: Giá



ATC



: Chi phí đơn vị sản phẩm



Q



: Khối lượng đơn vị sản phẩm bán ra



( P - ATC) : Lợi nhuận đơn vị sản phẩm

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = Lợi nhuận ròng / Doanh thu

Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển. Để cung cấp

hàng hóa và dịch vụ cho thị trường các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong q trình

kinh doanh, họ mong muốn cho chí phí đầu vào ít nhất và bán hàng hóa với giá cao

nhất để sau khi trừ đi tất cả các chi phí còn số dư để mở rộng thị trường kinh doanh,

củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường để nâng cao khả năng cạnh

tranh của DN.

1.2.3.2. Các tiêu chí định tính

 Trình độ cơng nghệ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay tại Việt Nam nói riêng và tại

các nước trên thế giới nói chung, công nghệ đang là một công cụ để phát triển kinh

tế trong nước, cải thiện NLCT trên thị trường, tham gia vào thương mại quốc tế và

đời sống của người dân được nâng cao. Một khi nắm được các nhà quản lí DN lại

phải đương đầu với các vấn đề khó khăn trong việc quản lý cơng nghệ. Chính vì lí

do này mà có sự than gia của các chính sách nhà nước, các chính sách này sẽ giúp

cho DN trong việc chuyển giao và phát triển để nâng cao trình độ cơng nghệ, nâng

cao NLCT cho DN.





Trình độ quản lý



Năng lực của nhà quản lí đóng vai trò then chốt trong việc đưa ra chiến lược,

hoạch định hướng đi cho DN. Một nhà quản trị giỏi không phải là người chỉ biết ra

lệnh mà là người biết làm thế nào để nhân viên cấp dưới làm việc theo mục tiêu mà

mình đề. Có sự quan tâm động viên đúng lúc đồng thời đi kèm với đó là tạo ra áp

lực để nhân viên biết phấn đấu vươn lên. Nhà quản trị chính là người cầm lái con

tầu doanh nghiệp, họ là nhứng người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của

Sinh viên: Nguyễn Kim Khánh



15

Lớp: Kế hoạch 56 A



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×