Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1. Sơ đồ điều chỉnh chính sách thương mại

Hình 1. Sơ đồ điều chỉnh chính sách thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



* Định hướng phát triển cho hoạt động XNK

Với vai trò là cơng cụ hoạch định, nên cả chiến lược, quy hoạch và kế

hoạch phát triển đều giống nhau ở chức năng định hướng quá trình phát triển

kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ: việc đảm nhận chức năng định

hướng phát triển của mỗi cơng cụ này ở các vị trí, mức độ, phạm vi khác nhau

trong tồn bộ lộ trình thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế

thị trường.

Chiến lược phát triển hoạt động XNK là tập hợp các quyết định về các

mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục

tiêu đã đề ra nhằm thể hiện những quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu của Nhà nước

về hoạt động XNK để đưa ra những sự lựa chọn về hướng và cách đi tối ưu

mang tính tổng thể trong lộ trình phát triển dài hạn cho hoạt động XNK.

Quy hoạch phát triển cho hoạt động XNK là quá trình sắp xếp, bố trí các

đối tượng quy hoạch vào một khơng gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của

kế hoạch đã đề ra, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ động

hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả cao về hoạt động XNK nhằm cụ thể hóa chiến

lược XNK.

Kế hoạch phát triển hoạt động XNK là các công cụ quản lý và điều hành

hoạt động XNK, là một tập hợp những hoạt động, công việc được sắp xếp theo

trình tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra. Nó xác định một cách có hệ

thống những hoạt động nhằm đạt mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách của

hoạt động XNK trong một thời kỳ nhất định. Kế hoạch có chức năng cụ thể hóa

các tầm nhìn chiến lược phát triển XNK và mục tiêu của quy hoạch XNK để

từng bước thực hiện và biến chiến lược, quy hoạch thành thực tế.

Chiến lược phát triển XNK của Việt Nam là đề ra mục tiêu là: “Nỗ lực gia

tăng tốc độ tăng trưởng XK, góp phần đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa,

tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu XK theo hướng nâng cao

giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm

lượng cơng nghệ và chất xám cao, thúc đẩy XK dịch vụ; mở rộng và đa dạng

hóa thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu

vực và thế giới”.

Định hướng phát triển cho hoạt động XNK Việt Nam phải coi hoạt động

XNK trở thành một qui luật tất yếu khách quan và được xem như là một điều

kiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế của nền kinh tế, tạo tiền đề cho sự phát

triển nói chung. Việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển

hoạt động XNK phải phù hợp với định hướng của Đảng về hoạt động này, phản

ánh mục tiêu của Nhà nước và kế hoạch dài hạn để đạt được mục tiêu của Nhà

nước về hoạt động XNK.

Kết quả của việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch được đánh giá

qua các tiêu chí:

SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



16



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



- Mức độ ban hành chiến lược, kế hoạch, quy hoạch của thành phố có đầy

đủ, đồng bộ, kịp thời, có tầm nhìn xa khơng?

- Các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch XNK có mang lại hiệu quả và tạo cơ

hội cho DN tham gia góp ý vào các văn bản không?

- Các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch XNK có phù hợp với các mục tiêu

XNK của thành phố đặt ra không?

- Khả năng tiếp cận thông tin, tài liệu về các chiến lược, kế hoạch, quy

hoạch của doanh nghiệp ở mức độ nào?

* Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và quy định pháp luật

về XNK

- Quan điểm lãnh đạo của Đảng về hoạt động XNK

Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội

nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác”. Ngày

05-02-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết

số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển

nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế

giới”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có

chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Từ “hội

nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế”

một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta

tại Đại hội XI. Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22NQ/TW về hội nhập quốc tế. Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược,

làm rõ và thống nhất nhận thức trong tồn Đảng, tồn dân về hội nhập quốc tế

trong tình hình mới. Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển

khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với u cầu

đổi mới mơ hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.

Để khuyến khích hoạt động sản xuất và giao lưu thương mại, Nhà nước đã

ban hành Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế (1989) tạo khuôn khổ pháp lý cho các

hành vi giao dịch kinh tế trên thị trường. Thực hiện chính sách xố bỏ chỉ tiêu

pháp lệnh và tiếp tục xoá bỏ chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, thoát

dần ra khỏi cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, từng bước theo cơ chế thị

trường. Bộ luật Dân sự (2015) và Luật thương mại (2005) ra đời tạo hành lang

pháp lý ổn định cho hoạt động XNK.

Về cơ bàn Nhà nước đã từng bước xóa bỏ chế độ độc quyền ngoại thương,

biện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, xây dựng môi trường pháp lý, tạo điều

kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong q trình thanh tốn với đối tác nước

ngồi, những rào cản phi thuế quan như chế độ hạn ngạch, đầu mối XNK cũng

dần được dỡ bỏ.



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



17



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



- Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về XNK

Hoạt động XNK được tiến hành dưới sự quản lý của Nhà Nước trên các

nguyên tắc: Tuân thủ luật pháp Việt Nam, các chính sách có liên quan (chính

sách mặt hàng, chính sách thuế, chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, v. v...)

và các quy định của Nhà nước về sản xuất, lưu thông và quản lý thị trường; Tôn

trọng luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết

bên ngoài; Bảo đảm tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng

kịp thời nhu cầu của thị trường trong nước và nước ngoài, đồng thời bảo đảm sự

kiểm sốt của Nhà nước.

Vì vậy cần hồn thiện hệ thống pháp luật về XNK của Việt Nam phù hợp

với thực tế đặt ra và thông lệ quốc tế. Đồng thời Nhà nước thông qua hệ thống

pháp luật và công cụ quản lý để tác động vào các hoạt động XNK nhằm hướng

hoạt động này đi đúng mục tiêu đã xác định.

Các quy định về Luật quản lý ngoại thương được Quốc hội ban hành thông

qua luật số 05/2017/QH14 như các biện pháp kỹ thuật là các biện pháp áp dụng

với hàng hóa XK, NK theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng

hóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, đo lường. Các biện

pháp kiểm dịch bao gồm các biện pháp kiểm dịch động vật và các sản phẩm từ

động vật, kiểm dịch thực vật và kiểm dịch y tế biên giới theo quy định của pháp

luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, thú y, phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Các biện pháp phòng vệ thương mại; các biện pháp khẩn cấp trong hoạt động

ngoại thương; các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương; giải quyết tranh

chấp… Các bộ ngành và các cơ quan liên quan có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ

với nhau trong quá trình thực thi các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt

động XNK

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách XNK

Chính sách XNK là hệ thống các quan điểm, chuẩn mực, thế chế và

phương thức mầ nhà nược sử dụng, tác động và chủ thế XNK và thị trường để

điều chỉnh hoạt động XNK nhằm đặt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

trong từng thời kỳ nhất định. Chính sách là một bộ phận cấu thành của chiến

lược kinh tế đối ngoại của quốc gia. Tùy theo yêu cầu đặt điểm phát triển đát

nước trong từng thời kỳ, mỗi quốc gia hình thành chính sach XNK theo mục tiêu

riêng. Tuy nhiên, nghiên cứu tiến trình phát triển kinh tế thế giới, có thể thất các

nước đã và đang thực hiện một số mơ hình chiến lược XNK chung nhất, đó là

sản xuất thay thế NK, XK sản phẩm thơ và cơ chế, cơng nghiệp hóa hướng vào

XK hoặc chiến lược phát triển XNK hỗn hợp… Vì vậy, cần phải xây dựng và

hồn thiện hệ thống chính sách XNK phù hợp với đường lối phát triển kinh tế xã hội; điều kiện trong nước và quốc tế, năng lực sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp XNK; dự báo tính hình thị trường và các yếu tố liên quan. Hệ

thống chính sách này sẽ tác động lên tồn bộ các nguồn lực, các mối quan hệ,

giao dịch của các chủ thể tham gia hoạt động XNK để làm cho các hoạt động

SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



18



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



này đi đúng hướng và hiệu quả, Đây chính là yêu cầu cơ bản của quản lý nhà về

hoạt động XNK và phải được thể hiện đầy đủ trong toàn bộ hoạt động ngoại

thương cũng như trong từng nội dung đàm phán hợp tác thương mại với các

quốc gia và vũng lãnh thổ.

Chính sách XNK bao gồm các bộ phận chủ yếu sau đây:

- Chính sách NK

- Chính sách XK

- Chính sách mặt hàng XNK bao gồm một số chính sách sau:

+ Mặt hàng cấm XK (XK), NK (NK); tạm ngừng XK, NK.

+ Mặt hàng XK, NK theo giấy phép.

+ Mặt hàng XK, NK theo điều kiện.

+ Mặt hàng XK, NK phải kiểm tra chuyên ngành (kiểm dịch, kiểm tra nhà

nước về chất lượng, kiểm tra an tồn thực phẩm).

+ Chính sách mặt hàng đối với loại hình khác (hàng tạm nhập tái xuất,

chuyển khẩu, gửi kho ngoại quan).

- Chính sách chuyển dịch cơ cầu XNK

- Chính sách thị trường XNK

- Chính sách khuyến khích và hỗ trợ XK

Các chính sách quản lý mặt hàng XNK được thực hiện theo Nghị định số

12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho

các chủ thể tham gia quá trình thương mại quốc tế.

Kết quả xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và quy định pháp

luật về XNK được đánh giá qua một số tiêu chí sau:

- Mức độ tuân thủ của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động XNK về

các quy định pháp luật về thuế quan, các biện pháp hành chính áp dụng đối

với hàng xuất, NK theo quy định pháp luật, các thủ tục khai báo hải quan, quy

trình cấp giấy phép DN hoạt động XNK…

- Mức độ ban hành các quy định pháp luật có kịp thời, đồng bộ; sự can

thiệp của Nhà nước là thiếu sự điều tiết hay can thiệp quá mức.

- Hiệu quả của việc ban hành quy định pháp luật có tạo khung pháp lý ổn

định lâu dài, ít điều chỉnh và bổ sung, đảm bảo công khai minh bạch thông tin

pháp luật không?



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



19



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



- Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách XNK có hợp lý đối với

thời điểm hiện tại khơng và doanh nghiệp có tiếp cận, hiểu, thực hiện cũng như

tham gia góp ý kiến về các quy định, chính sách XNK khơng?

* Thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý XNK

Các công cụ quản lý nhà nước về XNK là các phương pháp, cách thức tác

động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các đối tượng XNK mà Nhà nước sử dụng

nhằm điều tiết đối tượng vận hành theo mục tiêu chiến lược đã hoạch định. Căn

cứ vào tính chất, mục đích và đối tượng bị điều chỉnh để chia các công cụ quản

lý XNK thành các loại khác nhau như công cụ thuế quan và phi thuế quan, các

hàng rào thương mại… Việc điều tiết các công cụ quản lý XNK nhằm thực hiện

các mục tiêu bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và lợi ích của từng cá thể tham

gia hoạt động XNK. Vì vậy, để quản lý nhà nước đối với XNK đạt hiệu quả phải

đảm bảo bằng một hệ thống công cụ hữu hiệu mang tầm chiến lược, phù hợp với

từng giai đoạn phát triển và hội nhập của đất nước.

Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc

gia, người ta sử dụng các công cụ chủ yếu sau: Công cụ thuế quan và công cụ

phi thuế quan.

 Công cụ thuế quan

Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất hay NK của

mỗi quốc gia.

Thuế quan bao gồm: Thuế quan XK và thuế quan NK

- Thuế quan XK

Thuế quan XK là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hố XK.

Thuế XK hiện nay ít được các quốc gia áp dụng vì hiện nay cạnh tranh trên

thị trường quốc tế đang diễn ra quyết liệt, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp

cạnh tranh mở rộng nên Nhà nước chỉ đánh thuế đối với một số mặt hàng có kim

ngạch lớn, mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia...

Tác động của thuế quan XK:

Tác động tích cực:

+ Thuế XK làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

+ Thuế XK làm hạn chế XK quá mức những mặt hàng khai thác từ tài

nguyên thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, những

mặt hàng ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích quốc

gia.

Tác động tiêu cực:



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



20



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



+ Thuế XK tạo nên bất lợi cho khả năng XK của quốc gia do nó làm cho

giá cả của hàng hoá bị đánh thuế vượt quá giá cả trong nước làm giảm sản lượng

hàng hoá XK, đặc biệt là đối với nước nhỏ.

+ Thuế XK làm giảm sản lượng XK, điều này dẫn đến các nhà sản xuất thu

hẹp quy mô sản xuất dẫn đến tình trạng thật nghiệp gia tăng, ảnh hưởng đến đời

sống kinh tế xã hội.

+ Một mức thuế XK cao và duy trì q lâu có thể làm lợi cho các đối thủ

cạnh tranh dựa trên cơ sở cạnh tranh về giá cả.

- Thuế quan NK

Thuế quan NK là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá NK

Tác động của thuế quan NK:

Tác động tích cực:

+ Thuế quan NK tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộng

sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do hàng NK bị giảm bớt, tạo thêm công ăn việc làm

cho nâng cao đời sống xã hội

+ Thuế NK làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

+ Thuế NK tạo điều kiện cho những ngành cơng nghiệp còn non trẻ, có khả

năng cạnh tranh còn yếu trên thị trường quốc tế phát triển

+ Thuế quan NK có thể điều chỉnh hàng hóa từ thị trường nước ngồi vào

thị trường trong nước

+ Thuế NK có tác động tác chính sách phân phối thu nhập giữa các tầng

lớp dân cư: từ người tiều dùng sản phẩm nội địa sang nhà sản xuất trong nước và

Chính phủ, Chính Phủ có thể sử dụng nguồn thu này để làm phúc lợi xã hội, tạo

điều kiện cho người nghèo có cuộc sống tốt hơn.

Tác động tiêu cực

+ Thuế NK làm cho giá trị hàng hoá trong nước cao vượt hơn mức giá NK

và chính người tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế này.

Điều đó đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu dùng đối với hàng NK

và làm hạn chế mức NK thiệt hại lợi ích người tiêu dùng.

+ Thuế quan NK khuyến khích một số doanh nghiệp sản xuất không hiệu

quả trong nước gây tổn thất cho nhà sản xuất và ảnh hưởng đến sự phát triển

kinh tế - xã hội của quốc gia.

+ Về lâu dài thuế quan NK sẽ tạo ra những vấn đề buôn lậu, trốn thuế tạo ra

nền sản xuất nội địa kém hiệu quả, gây ảnh hưởng đến xấu đến đời sống xã hội.

Bên cạnh thuế XK và thuế NK còn có một số loại thuế quan đặc thù:



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



21



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



+ Hạn ngạch thuế quan: là một biện pháp quản lý XNK với 2 mức thuế

XNK; hàng hoá trong hạn ngạch mức thuế quan thấp, hàng hố ngồi hạn ngạch

chịu mức thuế quan cao hơn.

+ Thuế đối kháng: là loại thuế đánh vào sản phẩm NK để bù lại việc nhà

sản xuất XK sản phẩm đó được Chính phủ nước XK trợ cấp.

+ Thuế chống bán phá giá: : Là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng

để ngăn chặn, đối phó với hàng hoá NK được bán phá giá vào thị trường nội địa

tạo ra sự cạnh tranh khơng lành mạnh.

Ngồi ra còn một số loại thuế khác như: Thuế tối huệ quốc, thuế phi tối huệ

quốc, thuế thời vụ...

 Các công cụ phi thuế quan

- Hạn ngạch

Hạn ngạch là việc hạn chế số lượng đối với một loại hàng hoá xuất hoặc

NK thơng qua hình thức cấp giấy phép.

Phân loại: gồm hạn ngạch XK và hạn ngạch NK.

Hạn ngạch XK quy định một lượng hàng hoá lớn nhất được phép XK trong

một thời hạn nhất định

Hạn ngạch NK quy định lượng hàng hoá lớn nhất được NK vào một thị

trường nào đó trong 1 năm.

Hạn ngạch XK thường ít được sử dụng, hạn ngạch NK phổ biến hơn và

thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng NK gây thiệt hại trong nước.

Tác động chung của hạn ngạch

+ Chính phủ có thể kiểm sốt chặt chẽ lượng hàng XNK

+ Chính phủ khơng có được nguồn thu như thuế nếu chính phủ khơng tổ

chức bán đấu giá hạn ngạch

+ Hạn ngạch có thể dẫn đến độc quyền trong kinhdoanh dẫn đến các tiêu

cực trong tìm kiếm cơ hội để có được hạn ngạch

+ Gây tốn kém trong quản lý hành chính, bất bình đẳng giữa các doanh

nghiệp

Tác động của hạn ngạch XK:

Đối với nước XK:

+ Hạn ngạch XK làm giảm lượng hàng XK, làm giảm quy mô sản xuất dẫn

đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, thu nhập người lao động giảm, ảnh hưởng

đến đời sống kinh tế xã hội.



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



22



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



+ Hạn ngạch XK làm giảm thu ngân sách của nhà nước

+ Hạn ngạch XK nhằm đảm bảo lượng cung hàng hoá cho thị trường trong nước

+ Tác động tới người tiêu dùng: Hạn ngạch XK làm hạn chế sản lượng XK,

cung hàng hoá tại thị trường trong nước sẽ tăng lên làm giá cả hàng hoá thị

trường trong nước giảm, tăng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng.

Đối với nước NK:

+ Hạn ngạch XK của quốc gia XK làm hạn chế hàng hố từ nước ngồi

thâm nhập vào nước NK, tạo điều kiện cho nhà sản xuất nước NK mở rộng quy

mô, tạo việc làm, gia tăng thu nhập cho người lao động

+ Đối với người tiêu dùng: Nó sẽ làm giảm lượng hàng NK vào quốc gia

NK sẽ làm hạn chế mức tiêu dùng đối với hàng NK.

Tác động của hạn ngạch NK

Đối với nước NK:

+ Hạn ngạch NK làm cho giá hàng nhập nội địa tăng lên và tạo điều kiện

cho các nhà sản xuất trong nước mở rộng quy mô sản xuất, tạo việc làm cho

người lao động

+ Hạn ngạch NK nhằm bảo vệ các ngành cơng nghiệp còn non trẻ, chưa đủ

khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế phát triển

+ Hạn ngạch NK làm giảm lượng hàng NK, dẫn tới lượng tiêu dùng trong

nước giảm làm giảm lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội do cơ

hơi lựa chọn ít hơn và mua với giá đắt hơn.

Đối với nước XK

+ Sản lượng sản xuất hàng hố ở nước XK cũng bị giảm do đó quy mô sản

xuất trong nước giảm làm gia tăng thất nghiệp, giảm thu nhập của người lao

động

+ Lượng cung hàng hoá bị áp dụng hạn ngạch sẽ tăng lên, tạo điều kiện cho

người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn, và giá hàng hố có thể giảm xuống

gia tăng lợi ích của người tiêu dùng.

- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật

Tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, vệ

sinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định về an toàn lao động, bao bì đóng

gói cũng như các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định một tỷ lệ

nguyên vật liệu nhất định trong nước để sản xuất một loại hàng hố nào đó.



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



23



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội

nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và phản ánh trình độ phát triển đạt

được của văn minh nhân loại.

Về mặt kinh tế những quy định này có tác dụng có tác dụng bảo hộ đối với

thị trường trong nước, hạn chế và làm méo mó dòng vận động của hàng hố trên

thị trường quốc tế.

Tiêu chuẩn kỹ thuật có thể là cản trở XNK vì mỗi quốc gia có thể có những

tiêu chuẩn kỹ thuật riêng, nhiều quốc gia đã áp dụng để hạn chế NK, đặc biệt là

các nước phát triển.

- Hạn chế XK tự nguyện

Là hình thức quốc gia NK đòi quốc gia XK hạn chế XK một cách tự

nguyên nếu không sẽ bị trả đũa.

Thực chất đây là cuộc thương lượng mậu dịch giữa các bên để hạn chế bớt

sự xâm nhập của hàng ngoại tạo công ăn việc làm trong nước

Hạn chế XK tự nguyện mang tính miễn cưỡng được áp dụng cho các quốc

gia có khối lượng XK quá lớn ở một mặt hàng nào đó.

- Trợ cấp XK

Trợ cấp XK là một hình thức trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp

đối với XK trong nước hoặc cho vay ưu đãi với bạn hàng nước ngồi để mua sản

phẩm của mình

Trợ cấp XK làm tăng sản lượng XK, giảm cung thị trường nội địa dẫn đến

lợi ích người tiêu dùng bị giảm

Trợ cấp XK dẫn đến chi phí ròng xã hội tăng lên do sản xuất thêm sản

phẩm XK kém hiệu quả.

Kết quả của việc thiết lập và sử dụng hiệu quả các công cụ XNK được đánh

giá qua các tiêu chí:

+ Cơng tác kiểm tra thu thuế XNK.

+ Mức độ tuân thủ pháp luật, hiểu và sử dụng các công cụ XNK của các

doanh nghiệp hoạt động XNK.

+ Quyền và nghĩa vụ cũng như vướng mắc của doanh nghiệp trong việc

kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.

* Tổ chức bộ máy quản lí nhà nước đối với hoạt động XNK.

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK được xây

dựng để vừa đảm bảo quản lý chặt chẽ vừa tạo thuận lợi cho các hoạt động

XNK. Cơ cấu quản lý XNK được tổ chức có tính hệ thống và quản lý theo mô



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



24



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



hình trùng song. Chính phủ vừa trực tiếp chỉ đạo Bộ Cơng thương điều hành

hoạt động XNK hoặc Chính phủ thơng qua các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân

các địa phương điều chỉnh các chủ thể XNK nhằm tuân thủ mục tiêu đã hoạch

định. Trong đó, phải đổi mới cơ chế quản lý, tạo môi trường hành lang pháp lý

lành mạnh, bình đẳng, cải cách mạnh mẽ các hệ thống thủ tục hành chính, chống

phiền hà tiêu cực. Mặt khác, phải xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và đào

tạo lại đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung,

các cơ quan trực tiếp quản lý XNK, đầu tư, dịch vụ nói riêng nhằm nâng cao

năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Kết quả của việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK

được đánh giá qua các tiêu chí:

+ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động XNK hiện tại có

tạo khung pháp lý lâu dài, cơng khai minh bạch và tạo điều kiện cho doanh

nghiệp tham gia hoạt động XNK không?

+ Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý XNK có phù hợp với phương pháp điều

hành chung của Nhà nước hiện nay.

+ Sự phối hợp quản lý điều hành giữa các cơ quan liên quan từ Trung ương

đến địa phương.

* Tổ chức kiểm tra, kiểm sốt, xử lý vi phạm về hoạt động XNK

Cơng tác thanh tra, kiểm tram hoạt động XNK là nhằm đảm bảo tuân thủ

các quy định XNK. Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đới với tất cả

các hoạt động XN trong phạm vi cả nước và thống nhất toàn ngành, đảm bảo

hiệu quả chung của nền kinh tế đối ngoại. Trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước

về XNK đã quy định, các cơ quan chủ thể quản lý XNK Trung ương đến đí

phương tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiến hành những

biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để điều chỉnh các hoạt động

XNK đi đúng hướng. Các cơ quan quản lý nhà nước về XNK hoạch định chiến

và kế hoạch XNK ở tầm vĩ mô, định hướng phát triển và mục tiêu XNK cho

từng thời kỳ và điều tiết tổng thể các mối quan hệ về XNK. Trong đó, Bộ Cơng

Thương là cơ quan trực tiếp được Nhà nước giao thực hiện chức năng quản lý

thống nhất đối với các hoạt động XNK trên phạm vi cả nước.

Kết quả của việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hoạt động XNK được

đánh giá qua các tiêu chí:

+ Mức độ kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của cơ quan quản lý XNK tại

thành phố là thường xuyên hay buông lỏng.

+ Tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm về XNK.



SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



25



BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP



GVHD: TS. NGUYỄN LÊ THU HIỀN



+ Các quy định kiểm tra, kiểm sốt, xử lý vi phạm về XNK có phù hợp nội

dung QLNN về XNK và phương thức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi

phạm.

Để quản lý đối với hoạt động XNK, đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các bộ

ngành trong cơng tác quản lí. Xây dựng quy định pháp luật, chính sách được ban

hành giúp cho hoạt động điều tiết của Nhà nước về hoạt động XNK theo đúng

định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hoạt động

XNK.

1.1.4. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt động XNK.

* Nhân tố chính trị - pháp luật

- Quan điểm đường lối lãnh đạo về phát triển kinh tế thương mại

Phải xây dựng chiến lược phát triển thương mại tổng thể, trên cơ sở đó có

thể xây dựng các chiến lược phát triển hoặc đề án phát triển thương mại trong

nước, phát triển XNK, phát triển thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ ....

để làm căn cứ và định hướng cho sự phát triển của thương mại trong bối cảnh và

điều kiện mới. Trong các chiến lược đó cần chú trọng đến những cơ cấu chủ yếu

của thương mại cũng như mối tương quan giữa chúng, như: thương mại trong

nước và thương mại quốc tế (XNK); thương mại hàng hóa và dịch vụ; cơ cấu

hàng hóa và dịch vụ XNK; cơ cấu thị trường, đối tác; về cán cân thương mại

cùng những điều kiện thương mại, tỷ giá, thuế quan và hàng rào phi thuế quan...

Đặc biệt, chiến lược phát triển thương mại cần gắn với chiến lược sản xuất công

nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong cùng thời kỳ. Căn cứ vào chủ trương,

đường lối trong từng giai đoạn về những vấn đề liên quan đến hoạt động XNK,

nội dung quản lý nhà nước về hoạt động XNK sẽ được xác định cho phù hợp.

- Nhận thức của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK

Nhận thức của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK đóng vai trò quan trọng

đến định hướng phát triển của hoạt động XNK. Nếu lãnh đạo các cấp nhận thức

tầm quan trọng của hoạt động XNK, coi XNK là hoạt động chủ lực để phát triển

kinh tế đất nước thì sẽ tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển. Ngược lại nếu

khơng có sự quan tâm và giúp đỡ của lãnh đạo các cấp về hoạt động XNK thì

hoạt động XNK khơng còn là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Việt Nam

để hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về hoạt động XNK

Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng và công tác cán

bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Cán

bộ là gốc của mọi cơng việc; cơng việc có thành cơng hay thất bại đều do cán bộ

tốt hay kém; khi đã có đường lối chính trị đúng đắn thì yếu tố quyết định sự

thành bại của cách mạng là công tác tổ chức và cán bộ; Đảng thống nhất lãnh

đạo trực tiếp, tồn diện cơng tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống

SVTH: TRẦN QUỐC TUẤN



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1. Sơ đồ điều chỉnh chính sách thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×