Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ MARKETING

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ MARKETING

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhu cầu (Needs) là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm

nhận được. Nhu cầu của con người rất đa dạng, phức tạp và có thể xem xét từ

nhiều góc độ khác nhau.

Mong muốn (Wants) là một nhu cầu có dạng đặc thù tương ứng với trình

độ văn hóa và nhân cách của cá thể.

u cầu (Demands) là ước muốn có kèm điều kiện có khả năng thanh

tốn.

Sản phẩm (Products) là tất cả những gì có thể thỏa mãn được những mong

muốn hay nhu cầu và được cung ứng trên thị trường với mục đích thu hút sự chú

ý, mua sắm hay tiêu dùng.

Trao đổi (Exchange) là hành vi nhận từ một người nào đó thứ mình muốn

và đưa lại cho người đó một thứ gì đó.

Giao dịch (Transaction) Là một cuộc trao đổi những vật có giá trị giữa hai

bên.

Thị trường là nơi tập hợp tất cả những người mua thực sự hay những

người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm. Hay nói một cách khác thị trường

chứa tổng số cung, tổng số cầu và cơ cấu của tổng số cung và cầu về một loại

hàng hóa, nhóm hàng hóa.

1.3. Marketing mix

Marketing Mix là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của

marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây dựng phản ứng mong muốn từ phía

thị trường mục tiêu.

Marketing Mix bao gồm tất cả những gì mà cơng ty có thể vận dụng để tác

động lên nhu cầu hàng hóa của mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả năng thành

bốn nhóm cơ bản: Hàng hóa, giá cả, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh.

Trong một số trường hợp còn có thêm thành phần thứ 5 là con người (people).

7



Price



Product



Marketing Mix



Place



Promotin



Sản phẩm (Product) : là tập hợp những hàng hóa ( sản phẩm và dịch vụ )

mà công ty cung ứng cho thị trường mục tiêu.

Giá cả (Price) là tổng số tiền mà người tiêu dùng phải bỏ ra để có được

hàng hóa

Phân phối (Place) là mọi hoạt động để đưa hàng hóa đến tay khách hàng

mục tiêu.

Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (Promotion): Là mọi hoạt động của công

ty nhằm truyền bá những ưu điểm của hàng hóa do mình sản xuất ra và thuyết phục

khách hàng mục tiêu mua hàng hóa đó.

1.4. Marketing dược

Marketing dược thực chất là tổng hợp các chính sách, chiến lược

marketing của thuốc nhằm thỏa mãn nhu cầu của người bệnh, nhằm phục vụ và chăm sóc

8



sức khỏe cộng đồng. Ngồi các mục tiêu, chức năng marketing thơng thường, do đặc thù

riêng của ngành yêu cầu marketing dược có nhiệm vụ: thuốc được bán ra đúng loại thuốc,

đúng giá, đúng số lượng, đúng lúc và đúng nơi (5 Right).



Đúng nơi

Đúng số lượng



Đúng thuốc



Đúng giá



Marketing dược

SỨC KHỎE



Đúng giờ



KINH TẾ



9



CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CƠNG TY VÀ DỊNG SẢN PHẨM PANADOL

WITH OPTIZORB

1.5. Giới thiệu về cơng ty GSK

GlaxoSmithKline (GSK) đã có mặt tại Việt Nam từ 1995 (từ 2 công ty tiền thân là

Glaxo Wellcome và SmithKline Beecham), là một trong những thương hiệu hàng đầu

trong lĩnh vực Dược phẩm, Vắc Xin và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là

nhóm kháng sinh, hơ hấp, vắc xin và các sản phẩm chăm sóc răng miệng và chăm sóc

da.

GSK hiện diện trên toàn cầu cùng các hoạt động thương mại trên 150 quốc gia, với

86 mạng lưới sản xuất trên 36 nước và các trung tâm nghiên cứu phát triển lớn ở Anh,

Mỹ, Tây Ban Nha, Bỉ và Trung Quốc.

GSK là một trong những công ty lớn nhất trên thế giới về thuốc không kê toa

(OTC). Thuốc giảm đau chứa paracetamol của GSK được bán tại hơn 85 quốc gia với

nhiều dòng sản phẩm dành cho người lớn và trẻ em dùng để giảm đau, hạ sốt và cảm

cúm.



10



1.6. Sản phẩm Panadol

1.6.1. Lịch sử hình thành

Cuối những năm 1800, sự khan hiếm thuốc kháng sinh đã thúc đẩy cuộc nghiên

cứu ra một loại thuốc giảm đau rẻ hơn. Những cuộc nghiên cứu này đã dẫn đến nhiều

phát minh trong đó có dược phẩm từ aminophenol, trước đó là N-acety-P-aminophenol

(bây giờ gọi là paracetamol), một thành phần tích cực trong Panadol.

Năm 1956 Frederick Steams & Co, cùng thời với một chi nhánh của Sterling Drug

Inc. đã sản xuất Panadol.

Panadol bước vào thị trường là một loại thuốc để giảm đau và trở thành một thách

thức lớn đối với aspirin và hợp chất aspirin/phenacetin được quảng cáo là “không gây hại

cho dạ dày của bạn” và dễ dàng giảm đau.

Tháng 6 năm 1958, đáp ứng yêu cầu của những bệnh nhân đặc biệt, loại thuốc cho

trẻ em đã được sản xuất. “Panadol Elixir” ngay lập tức đã thành công.

Vào năm 1963 thành phần tích cực trong Panadol đã được thêm vào danh sách

British Pharmacopoeia và The Australia Pharmaceutical Benefit List.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ MARKETING

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×