Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
-Theo quan điểm của GS. Đỗ Hữu Châu: “ Căn cứ vào

-Theo quan điểm của GS. Đỗ Hữu Châu: “ Căn cứ vào

Tải bản đầy đủ - 0trang

đến tận bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về nó. Chúng tơi xin trích

dẫn những quan niệm về từ láy của một số nhà nghiên cứu:

- Quan niệm của GS. Nguyễn Tài Cẩn được trình bày trong cuốn “Ngữ pháp

tiếng Việt - Tiếng- Từ ghép - Đoản ngữ”: Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo

con mắt nhìn của người Việt hiện nay có các thành tố tr c tiếp được kết hợp lại với

nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các

thành tố tr c tiếp phải có s tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm

đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần

và âm cuối vần). Ví dụ ở từ láy đôi chúng ta thấy:

a) Về các yếu tố âm đoạn tính: các thành tố tr c tiếp phải tương ứng với nhau

hoặc ở phụ âm đầu: làm lụng, đất đai, mạnh mẽ,… hoặc ở vần: lảm nhảm, lưa thưa,

lác đác,… có khi các thành tố tr c tiếp tương ứng cả phụ âm đầu, cả ở vần, ví dụ:

chuồn chuồn, quốc quốc, đa đa,…

b) Về mặt yếu tố siêu âm đoạn tính các thành tố nói chung đều phải có thanh

thuộc cùng một âm v c: thuộc âm v c cao (thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc) hoặc

thuộc âm v c thấp (thanh huyền, ngã, nặng). Ví dụ:

+ Cùng thuộc âm v c cao: hay ho, méo mó, ngay ngắn, bảnh bao, lỏng lẻo, rẻ

rúng mê mẩn, sáng sủa.

+ Cùng thuộc âm v c thấp: lụng thụng, dày dạn, rầu rĩ, đẹp đẽ.

- Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả đưa ra quan điểm:

Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi

là từ lấp láy, từ láy âm). Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là

bốn tiếng, và có cả từ láy ba tiếng. Một từ sẽ được gọi là từ láy khi các thành tố cấu

tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp)

vừa có biến đổi (gọi là đối). Ví dụ: đỏ đắn- điệp phần âm đầu, đối ở phần vần.

- Theo GS. Đỗ Hữu Châu: “ Từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là

phương thức hồ phối ngữ âm bằng cách lặp lại một bộ phận hay tồn bộ hình thức

ngữ âm của tiếng gốc, còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm, từ ghép láy, từ phản điệp. Các

từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm và

số lần tác động của phương thức láy. Căn cứ vào cách hồ phối ngữ âm có thể phân



6



biệt hai kiểu từ láy: từ láy bộ phận (chúm chím, đủng đỉnh, bập bồng,...), từ láy toàn

bộ (oe oe, ầm ầm, lăm lăm,...). Từ láy bộ phận chia làm hai loại: lặp lại phụ âm đầu

(chắc chắn, chí choé, mát mẻ,...), lặp lại phần vần (lênh khênh, chót vót, lè tè,...).

Căn cứ vào số lần tác động của phương thức từ láy có thể phân biệt các kiểu từ láy:

từ láy đôi hay từ láy 2 âm tiết (gọn gàng, vững vàng, vuông vắn,...), từ láy ba hay từ

láy ba âm tiết (sạch sành sanh, tẻo tèo teo, dửng dừng dưng,...), từ láy bốn hay từ

láy bốn âm tiết (nhí nha nhí nhảnh, vội vội vàng vàng, lam nham lở nhở, tẩn ngẩn

tần ngần,...). Từ láy có những đặc trưng ngữ nghĩa riêng như giá trị biểu trưng, sắc

thái hoá, chuyên biệt hoá về nghĩa”.

- Nguyễn Văn Tu (1976) cho rằng: Những từ lấp láy gồm những âm tiết tương

quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm. Trong tiếng Việt hiện đại, có những từ

gồm hai từ tố có quan hệ về ngữ âm thường gọi bằng tên lấp láy, từ trùng điệp, từ

láy âm hoặc từ láy…Th c ra trong số những từ kiểu này có những từ th c s là từ

láy âm và cũng có những từ láy âm ngẫu nhiên (đất đai, tuổi tác, hỏi han,...). Nhưng

hiện nay về mặt quan hệ ngữ âm, chúng ta cũng gọi chung chúng là những từ láy

âm. Sở dĩ chúng tôi gọi chung những từ láy âm là những từ ghép vì th c chất chúng

được tạo ra bởi một số từ tố với bản thân nó khơng bị biến âm hoặc bị biến âm. Từ

ghép láy “lâng lâng” gồm có hai từ hồn tồn giống nhau về âm thanh. Và từ ghép

“máy móc” gồm từ tố máy kết hợp với móc là biến thể ngữ âm của máy. Từ láy âm

được tạo thành bằng việc ghép hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ về ngữ âm trên

cơ sở láy âm, trên cơ sở láy lại bản thân cái âm tiết chính hoặc cái từ tố

chính. Những từ láy âm có s tương ứng về những mặt sau:

a) Về mặt phụ âm đầu như:

- Bắt bớ, bàn bạc, bạc bẽo, bụi bặm,…

- Cau có, canh cánh, cào cào, cầm cập, cặm cụi,…

- Chăm chỉ, chắc chắn, chặt chẽ, chạy chọt, chết chóc,…

- Da dẻ, dần dà, dai dẳng,…

b) Về vần mà khác nhau về phụ âm đầu:

- Bảng lảng, là đà, lụng thụng,…

- Kè nhè, lè nhè, lè tè, lì xì,…



7



c) Tương ứng hồn tồn :

- Chuồn chuồn, rầm rầm, lần lần,…

d) S tương ứng về thanh điệu

Các âm tiết trong từ lấp láy thường có những thanh điệu tương ứng với nhau.

Hai âm tiết của từ lấp láy đều thuộc về một thanh điệu: khơng, sắc, hỏi hoặc nhóm

huyền, ngã, nặng. Ví dụ:

- Nhóm 1: lâng lâng, máy móc, bắng nhắng, liểng xiểng, lỏng lẻo.

- Nhóm 2: làng nhàng, nhồm nhồm, cũ kỹ, gượng gạo, sợ sệt.

Bên cạnh đó còn có quan điểm của nhiều nhà Việt ngữ khác. Theo quan điểm

của Nguyễn Hữu Quỳnh: “Trong tiếng Việt, từ ghép theo phương thức láy có một số

lượng đáng kể. Phương thức láy là phương thức cấu tạo từ và cụm từ đặc biệt trong

tiếng Việt. Từ ghép láy (hay còn gọi là từ ghép lấp láy, từ láy) là những từ ghép

gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm. Các thành tố

của từ ghép láy có mối liên quan với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận

ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ

nghĩa nhất định. Thí dụ: nhỏ nhắn, nhỏ nhoi, nhỏ nhỏ, nhỏ nhặt, nhỏ nhen,

chằm chằm, thao thao, tỉ mỉ”. Hay như trong cuốn ngữ pháp tiếng Việt, các tác

giả cho rằng: “Từ láy đều là từ hai tiếng. Phần lớn đó là từ gốc Việt. Có một

số những từ láy gốc Hán, nhưng có thể coi chúng là đã Việt hố, đã hồ lộn vào

bộ phận từ láy gốc Việt. Ví dụ: phảng phất, linh lợi, bồi hồi…Từ láy được cấu

tạo theo phương thức phối hợp ngữ âm. Nói đến “s phối hợp ngữ âm” ở đây tức là

nói đến hiện tượng lặp và hiện tượng đối xứng”.

Tuy có rất nhiều ý kiến khác nhau về từ láy nhưng chúng ta vẫn thấy được một

điểm thống nhất, đó là tất cả các tác giả đều coi: từ láy được cấu tạo theo phương

thức láy. Các thành tố trong từ láy đều có quan hệ ngữ âm (với thanh điệu giữ

nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo

hai nhóm: nhóm cao: thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc và nhóm thấp: thanh huyền,

thanh ngã, thanh nặng). Từ láy bao gồm hai hình vị, đó là hình vị gốc và hình vị láy.

Chúng có quan hệ ngữ âm với nhau. Hình vị láy có thể lặp lại những phần trong cấu

trúc triết đoạn như âm đầu, vần hoặc lặp cả âm đầu và vần (láy hồn tồn), đồng



8



thời có s tương hợp trong cấu trúc siêu đoạn (thanh điệu). Hầu hết các tác giả đều

đồng ý: trong tiếng Việt phần lớn là những từ láy đơi (nghĩa là có hai âm tiết) ngồi

ra còn có từ láy ba và từ láy tư. Tuy nhiên có thể nói từ láy ba và từ láy tư chủ yếu

được xây d ng trên cơ sơ láy đơi.

Ví dụ :

Lơ mơ



>



lơ tơ mơ



Đen sì



>



đen sì sì



Dửng dưng



>



dửng dừng dưng



Lôi thôi



>



lôi thôi lếch thếch



Lúng túng



>



lúng ta lúng túng



Hùng hổ



>



hùng hùng hổ hổ



Vấn đề hiện nay nhiều nhà Việt ngữ học còn tranh cãi đó là s phân biệt giữa

từ láy và các loại từ khác. Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra những tiêu chí phân định khác

nhau.

Nói tóm lại, nếu xuất phát từ quan niệm coi láy là ghép, các nhà ngôn ngữ học

định nghĩa như sau:

- “Từ láy âm là từ ghép mà các thành tố kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ âm

(Nguyễn Tài Cẩn, 1975).

- “Từ ghép láy âm được tạo thành bằng việc ghép hai từ tố hoặc hai âm tiết có

quan hệ ngữ âm trên cơ sở láy âm, trên cơ sở láy lại bản thân các âm tiết chính hoặc

các từ tố chính” (Nguyễn Văn Tu, 1976).

Xuất phát từ quan niệm coi láy là s hồ phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá,

những nhà nghiên cứu ủng hộ quan niệm này đều thừa nhận từ láy được tạo ra từ

một phương thức cấu tạo từ đặc biệt. Để tạo ra nhạc tính cho s hòa phối âm thanh

đối với một ngơn ngữ vốn giàu nhạc tính như tiếng Việt, s láy không đơn thuần là

s lặp lại âm, thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng có s biến đổi âm, thanh

nhất định, dù là ít nhất, để tạo ra cái thế vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Từ đó có

các định nghĩa:

- “Từ láy là những từ đa tiết mà giữa các âm tiết có quan hệ ngữ âm” (Hoàng

Tuệ, 1978).



9



- “Từ láy là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những qui tắc

nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng vừa điệp vừa đối hài hoà với nhau về ngữ

âm có giá trị biểu trưng hố” (Hồng Văn Hành, 1991).

- “Từ láy là một kiểu từ phức (từ đa tiết) được tạo ra bằng phương thức hồ

phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa”(Diệp Quang Ban, 1989).

- “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức

lặp lại tồn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến

đổi theo qui tắc biến thanh, tức là qui tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm

cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh

nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” (Đỗ Hữu Châu, 1981, 2007).

- Từ láy là “những cụm từ cố định được hình thành do s lặp lại hồn tồn hay

lặp lại có kèm theo s biến đổi về ngữ âm nào đó của từ đã có. Chúng vừa có s hài

hồ về ngữ âm, vừa có giá trị biểu cảm, gợi tả” (Nguyễn Thiện Giáp, 1985).

1.2. Những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Trung

Trong tiếng Trung, từ láy là một hiện tượng phong phú và phức tạp, nó biến

hóa đa dạng theo thời gian và truyền tải nhiều ý nghĩa sắc thái khác nhau, hơn nữa

nó là một phương pháp cấu tạo từ rất quan trọng, vì vậy được nhiều nhà ngơn ngữ

Trung Quốc coi trọng và đi sâu vào nghiên cứu.

Về cách phân loại từ láy, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều ý kiến khác nhau,

một số nhà ngôn ngữ học chia từ láy thành từ láy hồn tồn và khơng hồn tồn, từ

láy cấu từ và cấu hình, từ láy biến hình và khơng biến hình.

Ngồi ra, 朱 德 熙 (Chu Đức Hi)(1982) từng nhắc đến từ láy thuận và từ láy

ngược, 李宇明( Lý Vũ Minh)(1996) chia từ láy thành láy không từ, láy từ và láy

câu v.v, 孙景涛(Tôn Cảnh Thao)(2008) phân từ láy thành từ láy song hướng và từ

láy liệt biến, 刘丹青(Lưu Đan Thanh)(2012) chia từ láy thành từ láy nguyên sinh

và từ láy thứ sinh. Cách phân loại của 刘丹青(Lưu Đan Thanh) có thể nói có tính

sáng tạo đối với việc tìm hiểu nguồn gốc, bản chất hình thái và ý nghĩa ngữ pháp

của từ láy.

Từ thế kỷ 21 trở lại đây, những nghiên cứu về từ láy tiếng Trung thường tập



10



trung vào hai loại từ chính là tính từ và động từ, và nghiên cứu tổng hợp các hiện

tượng láy, những nghiên cứu về từ láy của các từ loại khác thường rất ít.

Nghiên cứu về từ láy động từ, giới học thuật đưa ra một số quan điểm sau: 李

人鉴( Lý Nhân Giám)(1964) cho rằng, từ láy động từ chỉ giới hạn dạng AA và bao

gồm dạng ABAB, hiện nay rất nhiều sách giảng dạy về ngữ pháp vẫn giữ quan điểm

này. 范方莲(Phạm Phương Liên)(1964), 刘月华(Lưu Nguyệt Hoa)(1984), 房玉清

( Phòng Ngọc Thanh)(1992) đều chia từ láy động từ thành bốn dạng: AA, A-A, A 了

A và A 了-A. Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu khác như 张静(Trương Tĩnh)(1979),

常敬宇(Thường Kính Vũ)(1996), 李宇明(Lý Vũ Minh)(1996) lại cho rằng ngồi

các dạng láy AA, A-A, A 了 A và A 了-A, còn có thêm dạng A 着 A 着 và AABB.

Nghiên cứu về từ láy tính từ, 吕叔湘(Lã Thúc Tương)(1999) cho rằng tính từ

đơn âm tiết có thể láy theo các hình thức AA, ABB và AXYZ ( ví dụ: 黑不溜秋),

tính từ song âm tiết có các hình thức láy AABB, ABAB, A 里 AB. Tuy nhiên, một số

nhà ngôn ngữ học như 江蓝生( Giang Lam Sinh), 石鋟( Thạch Lược) phân từ láy

tính từ thành 5 loại: AA, AABB, ABB, ABAB và A 里 AB. 朱 德 熙 (Chu Đức

Hi)(1979) phân từ láy tiếng Trung thành hai loại: Từ láy hoàn tồn và từ láy khơng

hồn tồn. Trong cuốn “语法讲义” (Giảng nghĩa ngữ pháp )(1982), 朱德熙(Chu

Đức Hi) lại chia từ láy tính từ thành các hình thức sau:

+ Từ gốc là tính từ đơn âm tiết A, hình thức láy là “AA 儿的”. Đối với dạng từ

láy này, âm tiết thứ hai ln mang thanh bằng. Ví dụ: 好 好 儿 的 (Hǎohāor de),

trong đó “儿” và “的” là hậu tố thêm vào đằng sau từ láy.

+Từ gốc là tính từ song âm tiết, có hai hình thức láy là “AABB” và “A 里 AB”.

Trong hai loại từ láy này trọng âm luôn đặt ở âm tiết thứ nhất, âm tiết thứ hai đọc

thành thanh nhẹ, ví dụ: 大大咧咧(dà da liē liē), 慢慢悠悠(màn man yōu yōu).

+Từ gốc là tính từ trạng thái song âm tiết, có hình thức láy là “ABAB”, trọng

âm nằm ở âm tiết đầu tiên. Ví dụ như “通红/碧绿/冰凉” sau khi láy sẽ thành “通红



通红”, “碧绿碧绿”, “冰凉冰凉”.



11



+ Tính từ mang hậu tố láy, có hình thức láy ABB. Ví dụ: 绿油油, 亮晶晶, 香



馥馥, 金灿灿, 美滋滋.

Theo quan điểm của 张拱贵(Trương Củng Qúy)(1997), tiếng Trung có từ láy

âm tính từ như 圆圈圈, 黑点点, 树枝枝,..., có từ láy âm động từ như 尝尝 , 聊



聊天, 说说笑笑,..., cũng có từ láy âm lượng từ như 一朵朵, 一句句, 一串串,....

Xét về mặt ngữ nghĩa, trong cuốn “形 容词 重 叠的 感 情色 彩 ”(Sắc thái tình

cảm của từ láy tính từ)(1979), 朱德熙(Chu Đức Hi) viết rằng: “形容词重叠后的词

语跟原式的词汇意义上一样, 区别在于原式单纯表示属性, 而形容词重叠词带

着说话人的感情在里面, 有喜爱, 有憎恨, 有主观的评价” (Tính từ sau khi láy

và từ gốc có ý nghĩa từ v ng giống nhau, khác nhau ở chỗ từ gốc chỉ đơn thuần biểu

thị thuộc tính, còn tính từ láy mang cảm xúc tình cảm của người nói, có u thích,

có hận thù, có đánh giá chủ quan). Tác giả cũng cho rằng từ láy dạng AA khi làm vị

ngữ hoặc định ngữ, có mức độ giảm về mặt ngữ nghĩa so với tính từ gốc, nhưng khi

làm trạng ngữ hoặc bổ ngữ thường biểu thị mức độ tăng lên.

Về mặt ngữ âm, 赵元任(Triệu Nguyên Nhậm)(1968) cho rằng: “重叠作为一

种变化或一种语缀......”( Từ láy là một loại biến đổi hoặc một loại từ tố...). Tác giả

đưa ra các dẫn chứng như: âm tiết thứ hai trong từ láy đơn âm tiết đọc âm bình, âm

uốn lưỡi “儿”, âm tiết sau trong từ láy song âm tiết đọc âm bình. Như vậy có thể

thấy từ láy tiếng Trung cũng chịu s biến đổi về ngữ âm.

Ngồi ra, những nhà ngơn ngữ học nổi tiếng khác của Trung Quốc như 邵敬

敏(Thiệu Kính Mẫn), 李宇明(Lý Vũ Minh) cũng đưa ra các quan điểm về từ láy.

Họ chủ yếu tìm hiểu và phân tích từ láy từ phạm trù phân loại, ngữ âm, ngữ nghĩa

và ngữ pháp.

1.3. Phân biệt từ láy với từ ghép và các loại từ khác

Vấn đề nhận diện, phân biệt từ láy với các loại từ khác cũng trở thành mối

quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và đã có rất nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề

này.

Trong “Từ điển từ láy tiếng Việt” của NXBGD Hà Nội-1995 do Hoàng Văn



12



Hành chủ biên đã xếp những từ: “cào cào, dành dành, bìm bìm, chuồn chuồn, châu

chấu…vào mục từ láy. Những từ tương t như trên cũng xuất hiện trong từ điển mở

Wiktionary mục từ láy tiếng Việt. Tuy nhiên, tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ

v ng ngữ nghĩa”-1999 lại cho rằng đây là hiện tượng trung gian giữa từ đơn đa âm

tiết và từ láy.

Trong th c tế, nếu căn cứ vào hình thức, ý nghĩa và sắc thái biểu cảm về cơ

bản chúng ta có thể xác định đúng đơn vị từ láy. Tham khảo quan điểm của giáo sư

Đỗ Hữu Châu - người viết cuốn “Đơn vị từ v ng - ngữ nghĩa tiếng Việt” NXBGD-1999, có những trường hợp từ có hình thức láy cần phân biệt như sau:

Có những trường hợp, ví dụ như từ “cào cào”, giống hệt nhau về “vỏ âm

thanh” nhưng khác nhau về từ loại (“danh từ” và “động từ”) và cũng khác nhau về

cấu tạo (“từ đơn đa âm tiết” và “từ láy”). Cần phân biệt rõ những trường hợp này để

có thể nhận diện từ láy một cách chính xác.

Ở đây chúng tôi chủ yếu tập trung phân loại từ ghép, từ láy là để làm rõ hơn

chức năng, phương thức cấu tạo của từ tiếng Việt, từ đó có cái nhìn chính xác về các

dạng thức của từ tiếng Việt. Khi cần phân biệt từ láy với từ ghép có nghĩa là chúng

ta đã xác định láy không phải là ghép. Vậy, phương thức láy khác phương thức ghép

ở chỗ nào? Từ láy khác với từ ghép ra sao?

Từ láy và từ ghép có nhiều điểm tương đồng, nếu chúng ta chỉ căn cứ vào mặt

ngữ âm thì rất khó có thể phân biệt được. Vì vậy, để thấy được s khác biệt giữa từ

láy với từ ghép trong tiếng Việt, cần kết hợp đồng thời cả hai mặt ngữ âm và ngữ

nghĩa.

Trong cơng trình Ngữ pháp tiếng Việt của mình, GS. Nguyễn Tài Cẩn coi từ

láy âm “là loại từ ghép trong đó các thành tố tr c tiếp được kết hợp lại với nhau

chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm”. Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”(2001), tiến sĩ

ngôn ngữ học Nguyễn Hữu Quỳnh cho rằng “Từ ghép là những từ do hai hình vị trở

nên cấu tạo thành”, chẳng hạn như nước non, ngọt ngào,… Căn cứ vào phương thức

cấu tạo và quan hệ giữa các thành phần tạo nên từ ghép có thể phân chia từ ghép

thành ba loại lớn: từ ghép nghĩa, từ láy, và từ ghép t do. Để phân biệt từ ghép với

từ láy, chúng tôi l a chọn phân biệt từ ghép nghĩa và từ láy.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

-Theo quan điểm của GS. Đỗ Hữu Châu: “ Căn cứ vào

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×