Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Chẩn đoán hình ảnh u máu xương

6 Chẩn đoán hình ảnh u máu xương

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Ở thân đốt sống, u máu thường nhỏ, khó có thể quan sát trên X quang quy ước.

Hình ảnh đặc trưng là các thớ xương dọc song song đều đặn thường được gọi là hình ảnh

“nhà tù” (jailhouse), hoặc “vải nhung kẻ” (corduroy cloth). Tổn thương thân đốt sống

khơng hồn tồn. Hình ảnh này tạo thành do sự tiêu các thớ xương nằm ngang bởi mạch

máu xâm lấn vào các thớ xương. Dấu hiệu này có thể phân biệt với bệnh Paget trong đó

khung xương nhơ lên khỏi các thớ xương ngang. Dấu hiệu tương tự có thể gặp trong bệnh

lymphoma và di căn xương. Vỏ xương, cung sau, mô mềm thường bình thường. 18



Hình 5. Hình ảnh X quang nhìn bên với dấu hiệu kẻ sọc điển hình [18].

Ở các xương dài, dấu hiệu X quang điển hình ít đặc hiệu hơn với tổn thương hủy

xương hình ảnh bọt xà phòng, dạng gai hoặc mắt cáo . Cấu trúc tổ ong cũng có thể tạo

thành từ hủy xương dạng bóng. Sự hủy xương khơng đều cũng thể xảy ra báo hiệu tổn

thương ác tính. Phản ứng xơ hóa có thể quan sát thấy quanh bờ tổn thương dễ nhầm với u

xương dạng xương.

Hình ảnh X quang của u máu có thể rất đặc trưng đặc biệt với u máu đốt sống và

xương sọ nhưng trong các trường hợp không điển hình CT và MRI giúp khẳng định chẩn

đốn.



8



2.6.2 Chụp cắt lớp vi tính (CT scans)

CT scans là phương tiện chẩn đoán u máu xương tốt nhất. U máu đốt sống được

đặc trưng bởi các chấm tăng tỷ trọng tập trung tại vùng xương tổn thương quan sát thấy

trên mặt cắt ngang tạo thành hình ảnh “hạt Polka”. Dấu hiệu này được tạo ra do sự tăng

cường của mạng lưới thớ xương bên cạnh các kênh mạch máu làm tiêu xương khiến thớ

xương dày lên. Quá trình này xảy ra trong tủy mỡ.



[9]



Trên mặt cắt dọc cũng có thể quan



sát được các sọc tăng tỷ trọng dày và thẳng đứng trên thân đốt sống bị tổn thương.



Hình 6. Hình ảnh CT minh họa đặc điểm điển hình của u máu đốt sống ở T12 và L5. (a)

và (b), các sọc tăng tỷ trọng trên T12 và L5. (c), dấu hiệu “hạt Polka”. 19

Dấu hiệu này có thể khơng xuất hiện ở những bệnh nhân mang tổn thương có triệu

chứng. Sự nhơ ra phía sau vỏ và xâm lấn các mơ mềm cạnh đốt sống khi cấu trúc xương

bị phá hủy do u máu xâm lấn có thể được đánh giá trên CT scans.



9



Hình 7. U máu xương gần như tồn bộ thân đốt sống L3 và hơi nhơ ra phía sau với

thành sau của thân đốt sống vẫn còn nguyên vẹn. [20]

Do các thớ xương trong đốt sống bị mạch máu xâm lấn tiêu hủy thớ xương nên tạo

thành hình ảnh giảm tỷ trọng của u máu, đồng thời đốt sống vốn đã suy giảm cấu trúc bị

chèn ép bởi sự hình thành các thớ xương mới cùng với các thớ xương bị xơ hóa dày lên

tạo điều kiện cho hiện tượng xẹp đốt sống có thể xảy ra. [21]



10



Hình 8. Hình ảnh CT scan xẹp đốt sống L1 do u máu. [21]

Ở những trường hợp khơng điển hình, CT scans rất hữu dụng nhờ tính nhạy cảm

với cấu trúc mơ xương. Bệnh Paget cột sống có thể có hình ảnh tương tự nhưng có đặc

điểm đặc trưng là phần vỏ thân đốt sống nhơ ra dày có thể quan sát trên CT và đặc điểm

“khung tranh” (picture frame) thân đốt sống trên X quang. [22]

Các dấu hiệu CT trên các u máu không thuộc đốt sống củng cố thêm kết quả X

quang và đưa thêm nhiều đánh giá chi tiết về các tổn thương của xương cũng như các

phần xung quanh xương, đặc biệt là trong trường hợp xương xâm lấn vào trong sọ [2]. U



11



máu xương sọ thường có dạng một khối tỷ trọng cao khơng có hình dạng nhất định và

xen lẫn nhiều thớ xương có thể nhầm lần với loạn sản sợi [23].



Hình 9. CT scan cửa sổ xương minh họa một khối hủy xương trong xương xốp

kích thước 3×3.5×1.5 cm gần xoang trán trái và vòm ổ mắt [12].



12



Hình 10. CT scan cho thấy tổn thương hủy xương từ xương trán tăng tín hiệu.

Chuỗi hình cửa sổ xương (từ trước ra sau) (a-d) cho thấy tổn thương hình cầu ăn mòn bản

ngồi của xương sọ (a) và tiến triển vào phía sau giữa ăn mòn cả bản trong (b { mũi

nên}). Trong khối u, các thớ xương tỏa ra xung quanh từ trung tâm tổn thương tạo thành

hình ảnh “tia mặt trời” (c). Tổn thương có một bờ xơ mỏng nhơ vào giữa tại nơi chúng

tựa lên màng cứng gây chèn ép lên thùy trán nhưng khơng có bất kỳ dấu hiệu chèn ép

đường giữa nào (c,d). [24]



13



2.6.3 Chụp cộng hưởng từ (MRI)

MRI có thể phát hiện được các kênh mạch máu ngoằn ngoèo gợi ý tổn thương

mạch máu và có thể đánh giá rõ ràng sự xâm lấn của tổn thương và mối tương quan của

nó với các cấu trúc xung quanh. [25]

MRI u máu có tín hiệu cao trên T1W và T2W, nhưng mức độ tín hiệu phụ thuộc

vào tỷ lệ của mỡ và mạch trong tổn thương. Với MRI T1-weighted, đặc biệt là ở u máu

đốt sống các vùng có thành phần mỡ cao tương đương với vùng giảm tín hiệu, ở não sẽ

tạo thành hình ảnh giảm tín hiệu khơng đồng đều giống với chất xám. Ở T2-weighted,

vùng tăng tín hiệu tương ứng với vùng mạch của u máu do có nước và dòng máu chảy

chậm trong u. Trong trường hợp có xuất huyết, tín hiệu sẽ phụ thuộc vào mức độ phân

hủy của hemoglobin. [11]

Giảm tín hiệu ở hình ảnh T1W cho thấy sự suy giảm của tủy vàng hoặc thành

phần mạch nhiều hơn, dấu hiệu này có thể tỷ lệ với nguy cơ xâm lấn nhiều hơn và cũng

liên quan với những trường hợp xẹp đốt sống. [21]



14



Hình 11. Hình ảnh cắt dọc với thân đốt sống L1 giảm tín hiệu ở T1W và tăng tín

hiệu ở T2W với các thành phần mơ ngồi màng cứng đáng chú ý. [26]



15



Hình 12. U máu xương trán ở bệnh nhân nam, 36 tuổi. A. CT axial biểu thị một

tổn thương hủy xương trong xương xốp rõ chứa các thớ xương nhô ra ở xương trán trái.

Tổn thương xâm lấn vào bản ngoài nhiều hơn là bản trong. B. MRI axial T2W cho thấy

tổn thương tăng tín hiệu khơng đồng đều. Khơng có phù nề xung quanh và mơ mềm xung

quanh. [27]

Thớ xương dày tạo thành hình ảnh giảm tín hiệu trên MRI ở tất cả các chuỗi. Các

thành phần ngoài xương có xu hướng khơng tăng tín hiệu trên hình ảnh T1W cho thấy sự

giảm sút hoặc thiếu chất béo nhưng sự tăng ngấm thuốc khi đưa thêm gadolinium vào

cho thấy tổn thương mạch máu. Xâm lấn ngoài màng cứng và các tổn thương thần kinh

liên quan cũng được thể hiện rất rõ trên MRI. [28]



16



Hình 13. Hình ảnh T1W axial A. Trước tiêm thuốc cản quang và B. sau tiêm

thuốc cản quang cho thấy sự tăng sinh mạch máu ở xương hàm trên phải (mũi tên thẳng),

trán (đầu mũi tên) và tổn thương vùng sau ổ mắt (mũi tên cong). Khơng có tăng tín hiệu

trên T1W thứ phát do thiếu chất béo là một dấu hiệu điển hình trong u máu.[28]

2.6.4 Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA)

Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) đánh giá sự tăng sinh mạch ở những vùng tổn

thương liên quan đến mạch máu nuôi dưỡng nhưng khơng phải lúc nào cũng có thể cho

thấy kích thước thực sự của tổn thương do thuốc cản quang có thể ngấm qua các khe hở

của u. DSA giúp cho thấy các nhánh động mạch cấp máu cho khối u nên đóng vai trò

quan trọng trong lập kế hoạch trước mổ ở những u máu xương nhỏ và trong nút mạch

chọn lọc ở những khối u xương lớn.[29]



17



Hình 14. Động mạch giữa vỏ ở T9 được đặt catheter và tiêm thuốc cản quang, T9

tăng cản quang. Sau khi nút động mạch giữa vỏ, chụp mạch chọn lọc không còn thấy

ngấm thuốc cản quang. [30]

Nhờ có DSA phát hiện ra các động mạch chủ yếu cấp máu cho u máu xương sọ là

động mạch màng não giữa và động mạch thái dương trên. Kỹ thuật nút mạch chọn lọc

qua DSA có thể giảm thiểu nguy cơ xuất huyết trong cuộc mổ[31].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Chẩn đoán hình ảnh u máu xương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×