Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Thực trạng quản lý và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng qua tổng hợp báo cáo của các Bộ Ngành địa phương

4 Thực trạng quản lý và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng qua tổng hợp báo cáo của các Bộ Ngành địa phương

Tải bản đầy đủ - 0trang

83



thống thang bảng lương, hệ số cấp bậc công nhân xây dựng và phương pháp tính tốn,

xác định… [63], [67].

- Việc tổ chức xác định đơn giá xây dựng công trình của chủ đầu tư rất yếu, thiếu

chủ động; thiếu cơ chế quy định vai trò, trách nhiệm của cơ quan chức năng về giá vật

liệu, thiết bị; khái niệm về giá mặt bằng thị trường phù hợp với các giai đoạn đầu tư

xây dựng [9].

- Quy định về trách nhiệm chủ đầu tư trong quản lý định mức, đơn giá chưa cụ

thể; cơ chế quản lý, thẩm định đơn giá nhằm bảo đảm thống nhất, hiệu quả chưa rõ

ràng; đơn giá xây dựng lập trên cơ sở giá thị trường và cách thức quản lý thiếu chặt

chẽ… [54].

- Thiếu hướng dẫn về việc áp dụng chỉ số giá xây dựng trong việc điều chỉnh

tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng cơng trình; phân loại chỉ số giá xây dựng chưa rõ;

thẩm quyền, ý kiến thỏa thuận đối với áp dụng chỉ số giá chưa cụ thể [7], [12].

3.4.2 Thực trạng thực hiện các nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng

Điều 3 tại Nghị định [19] đã đưa ra nguyên tắc trong việc xác định, thực hiện

quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, trong thực tế quản lý, một số các nguyên

tắc này còn bị hạn chế tác dụng khi thực hiện. Cụ thể:

- Nghị định hướng dẫn còn thiếu về cơ sở để tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư xây

dựng cho từng dự án, cơng trình, gói thầu xây dựng do việc xác định giá thầu phải gắn

với điều kiện xây dựng, yêu cầu kỹ thuật cụ thể của từng cơng trình, kế hoạch thực

hiện của từng dự án xây dựng, công nghệ thi công xây dựng được sử dụng, mặt bằng

giá thị trường tại khu vực xây dựng.

- Nguyên tắc quản lý chi phí trong Nghị định chỉ đề cập với quản lý dự án truyền

thống mà chưa đề cập tới các phương thức thực hiện dự án khác: Dự án theo phương

pháp chìa khóa trao tay, phương thức hợp đồng để thực hiện các công việc từ thiết kế,

mua sắm thiết bị và thi công xây dựng công trình...gây nhiều bất cập trong thực tiễn.

3.4.3 Thực trạng về kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng

Việc đánh giá thực trạng về kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng cơng trình sử

dụng vốn nhà nước cho thấy một ngun nhân chủ yếu sau:

3.4.3.1 Kiểm sốt chi phí khi xác định TMĐT

u cầu đối với TMĐT dựng cơng trình là một mặt bảo đảm tính hiệu quả đầu tư

nhưng mặt khác phải bảo đảm là mức trần cho toàn bộ chi phí đầu tư xây dựng.



84



Thực tế tồn tại trong thời gian qua là TMĐT của một số dự án thường phải điều

chỉnh làm ảnh hưởng đến hiệu quả ban đầu của dự án, kéo dài thời gian thực hiện dự

án do các thủ tục thực hiện điều chỉnh vốn đầu tư.

Nguyên nhân của tình trạng trên là TMĐT xây dựng cơng trình có độ tin cậy

khơng cao, nhiều trường hợp chưa được tính đúng tính đủ. Điều này xảy ra có thể do

quy trình lập TMĐT khơng phù hợp với đặc điểm cơng trình, thiếu những thơng tin đủ

độ tin cậy về chi phí khi xác định TMĐT và có cả ngun nhân chủ quan về năng lực,

trình độ của người lập tổng mức đầu tư.

Nghị định [19] của Chính phủ về quản lý chí phí đầu tư xây dựng cơng trình đã

quy định về việc thẩm định TMĐT trước khi phê duyệt. Tuy nhiên, điều cần thiết

chính là TMĐT phải đáp ứng yêu cầu tính đúng, tính đủ cũng như khả năng nguồn vốn

của chủ đầu tư trước khi tiến hành việc thẩm định bởi những điều chỉnh, thay đổi (nếu

có) từ kết luận thẩm định sẽ làm chủ đầu tư phải kéo dài thời gian chuẩn bị dự án và

đôi khi mất luôn cả cơ hội đầu tư.

Để làm được điều này chính là phải có sự tham gia của các cá nhân có trình độ

chun môn thuộc chủ đầu tư (sau đây gọi là Người kiểm sốt chi phí) ngay từ khi lập

dự án đầu tư. Người kiểm sốt chi phí với các biện pháp cần thiết có thể thực hiện

kiểm sốt chi phí theo quy trình kiểm sốt khi xác định TMĐT để bảo đảm TMĐT

được tính đúng, tính đủ trước khi thực hiện cơng tác thẩm định, làm cơ sở để kiểm

sốt chi phí ở các quy trình tiếp theo.

3.4.3.2 Kiểm sốt chi phí khi xác định dự tốn

u cầu đối của việc kiểm sốt chi phí trong giai đoạn này là dự tốn xây dựng

cơng trình lập ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công phải thấp hơn

TMĐT đã được phê duyệt ở giai đoạn trước.

Thực tế đang tồn tại là dự tốn của rất nhiều cơng trình xây dựng vượt TMĐT đã

được phê duyệt. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là:

- Khơng có một quá trình liên tục và kế thừa trong việc lập dự toán xây dựng.

- Dự toán được lập căn cứ theo thiết kế và đi sau thiết kế.

- Do người xác định chi phí chưa có đủ trình độ chun môn yêu cầu.

- Do thiếu hệ thống thông tin dữ liệu về chi phí đủ độ tin cậy và phù hợp với điều

kiện, đặc thù cơng trình.

Tình trạng phổ biến là tổ chức tư vấn lập dự án (lập tổng TMĐT) và tổ chức tư



85



vấn thiết kế (lập dự toán) là những tổ chức độc lập (đã được quy định tại khoản 1 Điều

11 của Luật Đấu thầu [46]) do vậy để giải quyết khâu nối giữa TMĐT và dự tốn cũng

như bảo đảm q trình xác định chi phí có tính liên tục, kế thừa thì biện pháp tốt nhất

chính là việc sử dụng Người kiểm sốt chi phí.

Người kiểm sốt chi phí với cơ sở kiểm sốt chi phí được thiết lập ở bước trước

và những biện pháp, cơng cụ cần thiết hồn tồn có thể khống chế giá trị dự toán lập

thấp hơn TMĐT đã được phê duyệt. Việc tham gia ngay vào quá trình thiết kế kỹ thuật,

thiết kế bản vẽ thi công cho phép Người kiểm sốt chi phí thực hiện các kiến nghị về lựa

chọn giải pháp thiết kế, điều chỉnh thiết kế cũng như kiểm tra, hạn chế các sai sót kể cả

việc áp dụng giá xây dựng phù hợp thị trường, đặc điểm cơng trình trước khi dự tốn

cuối cùng được đưa ra để thẩm tra, thẩm định.

Theo quy định hiện hành, dự toán đều phải được thẩm tra trước khi phê duyệt. Đây

có thể coi hành động kiểm sốt chi phí nhưng là kiểm sốt có tính thụ động bởi vì nó chỉ

thực hiện khi các cơng việc thiết kế đã xong. Một khi dự toán sau khi lập theo thiết kế

vượt TMĐT thì những biện pháp giải quyết để đáp ứng yêu cầu phải thấp hơn TMĐT

sẽ mất nhiều thời gian và đi theo đó là những ảnh hưởng do thay đổi tiến độ, thậm chí cả

chi phí.

3.4.3.3 Kiểm sốt chi phí khi đấu thầu, ký kết hợp đồng và thanh toán hợp đồng

a) Khi đấu thầu

Yêu cầu của việc kiểm sốt chi phí trong giai đoạn này là lựa chọn được nhà thầu

có giá đánh giá thấp hơn giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt. Điều này

bảo đảm cho tổng chi phí cho các gói thầu trong kế hoạch đấu thầu thấp hơn tổng các

dự toán cho các cơng việc, hạng mục xây dựng cơng trình được đấu thầu đó (mà các

dự tốn này chính là cơ sở để xác định giá gói thầu).

Tuy nhiên, thực tế đấu thầu trong thời gian qua cho thấy thường có sự sai lệch

giữa giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu và giá dự thầu của nhà thầu (giá này làm cơ

sở để xác định giá đánh giá). Việc xác định giá gói thầu khơng chuẩn xác dẫn tới tình

trạng phải tổ chức đấu thầu lại làm lãng phí cả về thời gian và chi phí.

Việc giá dự thầu của nhà thầu thường cao hơn giá gói thầu cho thấy có mấy

nguyên nhân chủ yếu sau:

- Giá gói thầu được xác định căn cứ trên dự toán được thẩm tra, phê duyệt nhưng

hồ sơ mời thầu thường do một tổ chức tư vấn nào đó lập, mà tổ chức này thường

không chú ý tới việc làm thế nào để chi chi phí cho gói thầu này có thể đáp ứng yêu



86



cầu thấp hơn giá gói thầu được duyệt.

- Thiếu sự đồng nhất về một số cơ sở xác định giá dự thầu của nhà thầu và dự

toán dùng để làm giá gói thầu. Trong khi dự tốn dùng làm giá gói thầu chỉ căn cứ

theo bản vẽ thiết kế, hệ thống đơn giá xây dựng tỉnh, thành phố, các quy định về lợi

nhuận định mức và chi phí chung cứng nhắc thì nhà thầu lập giá dự thầu ngồi yêu cầu

thiết kế còn phải đáp ứng các yêu cầu, chỉ dẫn trong hồ sơ mời thầu, giá xây dựng phù

hợp với thời điểm thị trường và điều kiện cụ thể của cơng trình...

- Giá gói thầu xác định theo dự tốn khơng hề tính đến những yếu tố quy định

trong hồ sơ mời thầu mà các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định giá dự

thầu như: Hình thức hợp đồng sử dụng để ký kết, phương thức thanh toán, yêu cầu bảo

hiểm, điều kiện giao hàng...

Theo quy định hiện tại, biện pháp kiểm soát chi phí duy nhất có thể thấy trong

giai đoạn này chính là yêu cầu giá đánh giá của nhà thầu phải thấp hơn giá gói thầu

trong kế hoạch được duyệt. Như phân tích ở trên có nhiều ngun nhân dẫn đến việc

giá đề nghị trúng thầu của các nhà thầu vượt giá gói thầu và khi đó chủ đầu tư phải

yêu cầu nhà thầu chào lại giá (thậm chí đấu thầu lại), xem xét lại hồ sơ mời thầu và giá

gói thầu dẫn đến làm tiến độ thực hiện dự án phải kéo dài, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu

tư xây dựng cơng trình và phát sinh thêm chi phí. Tuy nhiên vấn đề này có thể hạn chế

tới mức thấp nhất nếu có sự tham gia của Người kiểm sốt chi phí. Với việc tham gia

ngay từ khi hình thành giá gói thầu và giai đoạn chuẩn bị hồ sơ mời thầu, với biện

pháp cần thiết Người kiểm soát chi phí có thể hạn chế tới mức thấp nhất các nguyên

nhân dẫn tới giá dự thầu cao hơn giá gói thầu cũng như kế hoạch kiểm sốt chi phí ở

các giai đoạn tiếp theo.

b) Khi ký kết hợp đồng, tạm ứng và thanh toán hợp đồng

Yêu cầu kiểm soát chi phí trong giai đoạn này chính là kiểm sốt các điều kiện,

khả năng có thể dẫn tới phát sinh chi phí trong q trình thực hiện hợp đồng và bảo

đảm các khoản tạm ứng, thanh toán cho nhà thầu được theo đúng các quy định trong

hợp đồng. Trên thực tế, việc kiểm sốt chi phí ở giai đoạn này ít được chú ý bởi do

một số nguyên nhân sau đây:

- Các vấn đề có thể dẫn tới chi phí phát sinh phải thanh toán, các rủi ro về điều

kiện thương mại, tài chính trong hợp đồng có thể xảy ra khi hợp đồng được ký kết, các

biện pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro cần thương thảo đưa vào hợp đồng ...không được



87



chuẩn bị trước khi đàm phán hợp đồng.

- Việc thương thảo hợp đồng thường chỉ chú ý tới việc giải quyết các vấn đề về

mặt kỹ thuật mà ít chú ý tới các vấn đề liên quan tới giá hợp đồng và các điều kiện

thương mại, tài chính có thể ảnh hưởng tới việc thanh tốn hợp đồng.

- Thiếu những cá nhân thuộc chủ đầu tư có trình độ chuyên môn đủ khả năng

đánh giá về những rủi ro có thể gặp phải khi chuẩn bị ký kết hợp đồng.

- Việc kiểm sốt, khống chế các chi phí có khả năng phát sinh trong q trình

thực hiện hợp đồng cũng thực hiện không tốt do không được cảnh báo hoặc khơng có

biện pháp hạn chế.

Thực tế quản lý và các phân tích ở phần đánh giá thực trạng kiểm sốt chi phí đã

chỉ ra rằng, ngun nhân dẫn tới chi phí quyết tốn vượt giá trị dự tốn phê duyệt ban

đầu chính là những thay đổi, bổ sung, phát sinh chi phí trong q trình thanh tốn hợp

đồng. Ngồi những yếu tố khách quan trong q trình thực hiện mà ngay cả những

người có kinh nghiệm nhất cũng khơng lường trước được thì yếu tố chủ quan là những

khiếm khuyết trong việc chuẩn bị hợp đồng mà chính những khiếm khuyết này chủ

đầu tư phải tăng thêm chi phí để thanh tốn hợp đồng. Điều này có thể hạn chế được

nếu có người đủ năng lực, chun mơn (Người kiểm sốt chi phí) để kiểm sốt từ việc

chuẩn bị hợp đồng, đánh giá các rủi ro có thể gặp phải về mặt chi phí, cảnh báo chủ

đầu tư về những khả năng làm tăng chi phí hợp đồng cũng như kiến nghị các biện

pháp xử lý chi phí trong q trình thanh tốn, thực hiện hợp đồng.

3.4.3.4 Kiểm sốt chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa cơng trình của dự án vào

khai thác sử dụng

u cầu kiểm sốt chi phí trong giai đoạn này là bảo đảm vốn đầu tư được quyết

toán phải nằm trong giới hạn TMĐT được duyệt.

Tồn tại trong vấn đề này là nhiều cơng trình đã đưa vào khai thác, sử dụng

nhưng chưa thể quyết toán vốn đầu tư. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên:

- Chủ đầu tư chưa xác định được giá trị quyết toán cuối cùng của các hợp đồng đối

với các nhà thầu do chưa thống nhất được quy trình giải quyết các chi phí bổ sung, phát

sinh trong việc thực hiện hợp đồng do vậy chưa thể thực hiện việc quyết toán hợp đồng.

- Chủ đầu tư và nhà thầu chưa giải quyết các trách nhiệm, nghĩa vụ cần thực hiện

theo hợp đồng (thưởng, phạt, bảo hành sửa chữa...).

Để giải quyết yêu cầu trên cũng cần có người có trình độ chun mơn, đủ năng



88



lực với những biện pháp thích hợp giúp chủ đầu tư đáp ứng u cầu kiểm sốt chi phí

trong giai đoạn này là vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn TMĐT

được duyệt.

Thông qua đánh giá thực trạng về kiểm sốt chi phí cho thấy chưa có một hướng

dẫn về quy trình kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước. Do vậy cần

thiết phaỉ có quy trình kiểm sốt chi phí từ xác định tổng mức đầu tư, dự tốn, trong

q trình đấu thầu, thực hiện hợp đồng cho đến khi kết thúc xây dựng đưa cơng trình

của dự án vào khai thác sử dụng,

3.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng dự án sử dụng

vốn nhà nước

Trên cơ sở khái niệm, nội dung và phương pháp, mục tiêu và điều kiện kiểm sốt

chi phí đầu tư xây dựng cơng trình. Từ thực trạng kiểm sốt chi phí qua các văn bản

hướng dẫn, kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng đối với cơng trình sử dụng vốn nhà

nước, kiểm sốt chi phí theo trình tự đầu tư xây dựng cho thấy khả năng thu thập và xử

lý thông tin của chủ đầu tư dự án sử dụng vốn nhà nước trong kiểm sốt chi phí có vai

trò quan trọng đối với cơng tác kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng của chủ đầu tư trong

suốt q trình hình thành chi phí ở các giai đoạn đầu tư xây dựng. Cụ thể, ở giai đoạn

chuẩn bị dự án khả năng thu thập và xử lý thông tin được thông qua việc xác định sơ

bộ TMĐT đối với dự án phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và xác định TMĐT ở

giai đoạn lập báo cáo khả thi. Trong giai đoạn thực hiện dự án, khả năng thu thập và

xử lý thông tin của chủ đầu tư thể hiện ở việc kiểm soát chi phí qua việc khảo sát thiết

kế, lựa chọn nhà thầu thi cơng xây dựng chi phí thực tế phải trả cho nhà thầu (so với

dự toán và TMĐT được duyệt). Khả năng thu thập và xử lý thông tin của chủ đầu tư

còn được thể hiện ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa cơng trình vào khai thác sử dụng

thơng qua việc kiểm sốt các chi phí để nghiệm thu bàn giao cơng trình đưa cơng trình

vào khai thác sử dụng, chi phí quyết tốn vốn đầu tư dự án hồn thành sau đó so sánh

với TMĐT được duyệt. Việc kiểm sốt chi phí chính là q trình đo lường, đánh giá

q trình hình thành chi phí thơng việc thu thập và xử lý thông tin của chủ đầu tư, các

bảng biểu ghi chép (cơng cụ để kiểm sốt chi phí), các cơng cụ để xử lý thơng tin (định

mức, đơn giá…) trong các giai đoạn đầu tư xây dựng (quy trình kiểm sốt chi phí).

Thu thập và xử lý thơng tin tốt giúp chủ đầu tư có các quyết định kịp thời để đạt mục

tiêu của kiểm soát.



89



3.5.1 Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng cơng

trình sử dụng vốn nhà nước

Xuất phát từ nội dung nghiên cứu đã đề cập ở các phần trên và kinh nghiệm trong

công việc tác giả, trao đổi với các chuyên gia, những nhà quản lý có kinh nghiệm trong

quản lý và kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng cơng trình sử dụng vốn nhà nước, tác giả

đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thu thập và xử lý thông tin của chủ

đầu tư sử dụng vốn nhà nước trong kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng.

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thu thập và xử lý thông tin của

chủ đầu tư dự án sử dụng vốn nhà nước trong kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng để

đánh giá mức độ cần thiết và tầm quan trọng của từng nhân tố, đồng thời xem xét mối

liên hệ giữa các nhân tố này với các cơng cụ kiểm sốt chi phí.

Có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng theo nhóm nhân tố chủ quan và khách

quan như sau:

- Nhóm nhân tố chủ quan gồm các nhân tố sau:

+ Nhân tố thứ nhất: Tính chính xác của tổng mức đầu tư do chủ đầu tư lập/thuê

tư vấn lập.

+ Nhân tố thứ hai: Tính chính xác của dự toán do chủ đầu tư lập/thuê tư vấn lập

+ Nhân tố thứ ba: Số lượng nhân viên của đội ngũ kiểm sốt chi phí thuộc đơn vị

chủ đầu tư.

+ Nhân tố thứ tư: Trình độ chun mơn của người kiểm soát thuộc đơn vị của

chủ đầu tư.

+ Nhân tố thứ năm:Tinh thần trách nhiệm của đội ngũ kiểm sốt chi phí thuộc

đơn vị chủ đầu tư.

+ Nhân tố thứ sáu: Sự hợp lý của quy trình kiểm sốt chi phí đầu tư xây dựng do

chủ đầu tư lập và áp dụng.

+ Nhân tố thứ bảy: Các biểu mẫu thu thập thơng tin chi phí đầu tư xây dựng do

chủ đầu tư lập s n để sử dụng cho việc ghi chép thơng tin trong kiểm sốt chi phí.

- Nhóm nhân tố khách quan gồm các nhân tố sau:

+ Nhân tố thứ nhất: Tính phù hợp của hệ thống định mức do nhà nước quy định

+ Nhân tố thứ hai: Các quy định pháp luật của nhà nước có liên quan

+ Nhân tố thứ ba: Nguồn vốn của dự án

+ Nhân tố thứ tư: Quy mô của dự án, loại dự án, tính chất của dự án



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Thực trạng quản lý và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng qua tổng hợp báo cáo của các Bộ Ngành địa phương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×