Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Thực trạng kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước theo trình tự đầu tư xây dựng

3 Thực trạng kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước theo trình tự đầu tư xây dựng

Tải bản đầy đủ - 0trang

72



- Dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến

Thành-Tham Lương được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại

Quyết định số 447/QĐ-UB ngày 11/10/2010 với tổng vốn đầu tư 1.374,5 triệu USD

[6], trong đó sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á(ADB) là 540 triệu USD,

Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) là 313 triệu USD, Ngân hàng Đầu tư Châu Âu (EIB) là

195 triệu USD và vốn đối ứng trong nước là 326,5 triệu USD (1USD=19.000 đồng VN).

Ngày 19/7/2016 Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định số

3684/QĐ-UBND điều chỉnh TMĐT lên 2152,366 triệu USD (1USD = 22.117 đồng

VNĐ). Cho thấy TMĐT đã điều chỉnh tăng 777,86 triệu USD.

- Dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội tuyến 2, đoạn Nam

Thăng Long- Trần Hưng Đạo, theo TMĐT đã được phê duyệt tại Quyết định

2054/QĐ-TTg ngày 13/11/2008 của UBND thành phố Hà Nội là 19.555 t đồng Việt Nam

tương đương 131.023 triệu Yên (quy đổi theo t giá 01VNĐ = 0,0067 Yên Nhật) [5].

Tại thời điểm hiện tại chủ đầu tư đã tiến hành lập hồ sơ điều chỉnh TMĐT. Dự

kiến TMĐT điều chỉnh là 35.578,632 t đồng Việt Nam tương đương 195.365 triệu

Yên. Trường hợp phải điều chỉnh thì giá trị TMĐT đã tăng 64.342 triệu Yên. (quy đổi

theo t giá 01VNĐ = 0,00557 Yên Nhật).

- Dự án xây dựng đường 5 kéo dài được phê duyệt tại Quyết định số 1881/QĐUB ngày 15/4/2005 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây

dựng đường 5 kéo dài (Từ cầu Chui-cầu Đông Trù-Phương Trạch-Bắc Thăng Long)

với tổng mức đầu tư là 3.352,270 t đồng. Thời điểm điều chỉnh vào tháng 9 năm 2012

sau khi đã thẩm tra giá trị TMĐT là 6.843,552 t đồng tăng 3.491,282 đồng [4].

Những số liệu trên cho thấy có nhiều yếu tố dẫn tới phải điều chỉnh TMĐT xây

dựng cơng trình nhưng có một yếu tố rất quan trọng là TMĐT được lập khơng chính

xác, chưa bảo đảm việc tính đúng, tính đủ khi xác định TMĐT. Phân tích yếu tố này

cho thấy có thể do các nguyên nhân sau đây:

- Đối với chủ đầu tư: Chủ đầu tư muốn giá trị TMĐT thấp để dự án thuận lợi khi

các cấp có thẩm quyền chấp thuận, phê duyệt và trong quá trình thực hiện sẽ xin điều

chỉnh, bổ sung. Chủ đầu tư thường chưa có đủ trình độ chun mơn để có thể kiểm tra,

đánh giá về tính đầy đủ, chính xác của TMĐT do tư vấn lập TMĐT.

- Đối với tổ chức tư vấn lập TMĐT: Do năng lực của cá nhân, tổ chức tư vấn đầu

tư xây dựng tham gia việc xác định TMĐT chưa cao, chưa nhận thức đầy đủ về tầm



73



quan trọng của TMĐT để kiểm sốt chi phí, chưa bao quát hết các đặc điểm, đặc thù

của mỗi dự án để có thể đáp ứng được u cầu tính đúng, tính đủ khi xác định TMĐT.

Ngồi ra các hệ cơng cụ (phục vụ thu thập và xử lý thông tin và hệ thống ngân hàng dữ

liệu về chi phí đầu tư xây dựng) để xác định chi phí phù hợp với giai đoạn lập dự án

(chi phí các cơng trình tương tự, suất vốn đầu tư, chi phí theo bộ phận kết cấu cơng

trình...) chưa có đầy đủ.

- Đối với cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt TMĐT: TMĐT chỉ là một nội

dung trong dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) và được xem xét trong quá trình thẩm

tra, thẩm định phê duyệt dự án. Việc TMĐT chưa được thẩm tra, thẩm định riêng,

chuyên sâu cũng như những bất cập về trình độ chun mơn và cơng cụ thực hiện (hệ

thống bảng biểu ghi chép thông tin cần thu thập trong q trình kiểm sốt chi phí, quy

trình kiểm sốt chi phí và hệ thống ngân hàng dữ liệu về chi phí đầu tư xây dựng) nên

việc kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của TMĐT khi thẩm tra, thẩm định phê duyệt dự

án thường chưa hiệu quả. Thực tế các đề xuất TMĐT của dự án đều được chấp thuận

khi thẩm tra, thẩm định phê duyệt dự án.

Như vậy có thể thấy rằng việc kiểm sốt chi phí trong giai đoạn chuẩn bị dự án

đầu tư xây dựng chỉ được kiểm soát khi thẩm tra, thẩm định dự án đầu tư xây dựng.

Với việc ban hành Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về quản lý chi

phí đầu tư xây dựng đã quy định 4 phương pháp xác định TMĐT xây dựng, tạo sự linh

hoạt cho việc xác định TMĐT phù hợp với điều kiện cụ thể của dự án và yêu cầu quản

lý chi phí. Nghị định này cũng đưa ra quy định về việc thẩm tra TMĐT và việc thẩm

tra này được chủ đầu tư lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ năng lực quản lý chi phí đầu

tư xây dựng theo quy định về Nghị định quản lý dự án đầu tư xây dựng. Đây là một

bước tiến trong việc đáp ứng yêu cầu xác định TMĐT theo cơng trình cụ thể, phù hợp

với cơ chế thị trường cũng như bảo đảm cho TMĐT được tính đúng, tính đủ thơng qua

việc thẩm tra của tổ chức đủ điều kiện năng lực, hoặc các cơ quan chuyên môn và chịu

trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm tra, thẩm định. Tuy nhiên biện pháp kiểm

soát chi phí (thơng qua việc thẩm tra, thẩm định) vẫn mang tính thụ động như là một

biện pháp hành chính, không tạo sự chủ động và gắn trách nhiệm của chủ đầu tư ngay

khi hình thành ý tưởng dự án đến khi giá trị TMĐT được thẩm tra, thẩm định và phê

duyệt. Đôi khi sự điều chỉnh, bổ sung TMĐT sau khi thẩm tra, thẩm định đã làm cho

thay đổi các mục tiêu đầu tư cũng như giải pháp thiết kế kèm theo và kết quả là dự án bị



74



kéo dài do thực hiện việc điều chỉnh.

Để làm rõ hơn các quan điểm trên, tham khảo một số ý kiến của các Bộ ngành,

Sở xây dựng của các địa phương về TMĐT xây dựng cơng trình với các ý kiến sau:

- Việc thẩm định xác định TMĐT dự án thường căn cứ theo quy định suất vốn

đầu tư xây dựng cơng trình được Bộ Xây dựng cơng bố. Đối với một số dự án đầu tư

xây dựng, do bị khống chế bởi TMĐT được phê duyệt (theo suất vốn đầu tư) nên ảnh

hưởng đến cơng tác hồn thiện, lựa chọn chất lượng chủng loại vật tư hồn thiện cơng

trình thỏa mãn yêu cầu chất lượng cao cần thiết cho nhu cầu thực tế sử dụng [10], [68].

- Cơ cấu khoản mục chi phí trong TMĐT, dự tốn chưa phù hợp như trường hợp

chi phí hạng mục chung có tính chất thuộc thành phần chi phí gián tiếp trong chi phí

xây dựng nhưng quy định hiện nay [19] lại quy định khoản chi phí này ở khoản mục

chi phí khác trong TMĐT [66], [67].

- Quy định về điều chỉnh TMĐT hiện nay [19] còn một số nội dung thiếu chặt chẽ

dễ gây thất thốt lãng phí thiếu linh hoạt. Chủ đầu tư không dám quyết định (trong

trường hợp điều chỉnh chi phí nhân cơng, chi phí máy do nhà nước thay đổi về mức

lương cơ sở đầu vào) do chưa bao hàm hết khó khăn trong kiểm sốt, kiểm tra TMĐT

[66].

- Quy định, hướng dẫn về thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh TMĐT, quy trình

thẩm định TMĐT điều chỉnh chưa được quy định rõ ràng. Phương pháp xác định TMĐT

phù hợp với hình thức đầu tư và phương thức thực hiện của dự án để tính đúng, tính đủ và

đảm bảo cơ sở để xác định giá gói thầu, dẫn đến trong thực tế các đơn vị tư vấn thường áp

dụng phương pháp xác định TMĐT theo suất vốn đầu tư xây dựng cơng trình, hoặc xác

định theo dữ liệu về chi phí các cơng trình tương tự làm cho TMĐT của nhiều dự án (đặc

biệt các dự án án có quy mô lớn, sử dụng công nghệ phức tạp, dự án ODA…) khơng

được tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư xây dựng, không phù hợp với các yêu cầu kỹ

thuật, điều kiện xây dựng và kế hoạch thực hiện của dự án, giá gói thầu trên cơ sở thiếu

chính xác, nên phải điều chỉnh TMĐT của dự án gây ách tắc trong quản lý [68].

3.3.2 Kiểm sốt chi phí giai đoạn thực hiện dự án

3.3.2.1 Xác định dự toán xây dựng

Thực tế cho thấy dự toán của nhiều dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước

khi xác định vượt TMĐT xây dựng. Quay trở lại ví dụ trước đây về Dự án xây dựng

tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành-Tham Lương cho

thấy:

+ Dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến



75



Thành-Tham Lương được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại

Quyết định số 447/QĐ-UB ngày 11/10/2010 với tổng vốn đầu tư 1.374,5 triệu USD. Dự

toán, tổng dự toán được lập và chủ đầu tư đề nghị thẩm tra có giá trị 2.164,36 triệu

USD.

+ Dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội tuyến 2, đoạn Nam

Thăng Long- Trần Hưng Đạo, với TMĐT đã được phê duyệt tại Quyết định 2054/QĐTTg ngày 13/11/2008 của UBND thành phố Hà Nội là 19.555 t đồng Việt Nam

tương đương 131.023 triệu Yên. Dự toán, tổng dự toán được lập dự tính là 198.598

triệu Yên và sau khi hiệu chỉnh còn khoảng 195.365 triệu USD.

Những ví dụ thực tế về việc dự toán, tổng dự toán vượt TMĐT còn rất nhiều nếu

khơng muốn nói rằng nó còn khá phổ biến khi xác lập chi phí tại các dự án đầu tư xây

dựng sử dụng vốn nhà nước. Điều này cho thấy có hai vấn đề: Thứ nhất, TMĐT lập

thiếu chính xác, chưa tính đúng, tính đủ. Thứ hai, dự tốn, tổng dự tốn được lập còn

thiếu cơ sở. Nếu ngoại trừ nguyên nhân TMĐT tính chưa đúng, chưa đủ thì có nghĩa là

dự tốn, tổng dự tốn chưa được xác định đúng. Thông qua thực tế quản lý chi phí đầu

tư xây dựng cơng trình, có thể đưa ra một số ngun nhân sau:

- Một là, khơng có một quá trình liên tục và kế thừa trong việc xác định chi

phí. Tổng mức đầu tư ở giai đoạn lập dự án và dự toán ở giai đoạn thực hiện dự án

được xác định bằng các tổ chức hoặc bộ phận khác nhau. Như vậy việc xác định và

quản lý chi phí đã bị cắt khúc.

- Hai là, dự toán được lập căn cứ theo thiết kế và đi sau thiết kế. Khi thiết kế

được hoàn chỉnh, chấp thuận thường mới xác định dự tốn do vậy khơng có khả năng

so sánh chi phí của các phương án thiết kế khác nhau để lựa chọn phương án có thiết kế

khơng những đáp ứng u cầu mà còn thấp hơn tổng mức đầu tư được duyệt.

- Ba là, do những sai sót về mặt chủ quan của người lập dự tốn như: người

xác định chi phí khơng đủ trình độ chuyên môn yêu cầu (một số tổ chức tư vấn thiết kế

sử dụng người đo bóc khối lượng, lập dự tốn là người mới vào nghề, người khơng

quan trọng ở các bộ phận khác) dẫn tới việc đo bóc thiếu khối lượng, định giá không

đúng, không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật cơng trình. Ví dụ tại dự án xây dựng tuyến

tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành-Tham Lương sẽ phải bổ

sung do tính thiếu khối lượng trong TMĐT đã phê duyệt làm chi phí xây dựng và chi

phí mua sắm tăng thêm 228,95 triệu USD.

- Bốn là, do những nguyên nhân khách quan như: hệ thống giá xây dựng vừa



76



thiếu về bề rộng để có thể bao phủ hết loại hình sản phẩm, cơng trình lại vừa thiếu độ

chính xác phù hợp với đặc điểm từng cơng trình do mang tính bình quân, cứng nhắc

không đáp ứng những thay đổi, biến động của thị trường. Ví dụ cũng tại dự án xây

dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành-Tham

Lương do áp dụng định mức, đơn giá mới, làm giảm chi phí xây dựng và mua sắm

136,59 triệu USD.

- Vai trò của chủ đầu tư là người kiểm sốt chi phí chưa được thể hiện rõ và chưa

hiệu quả. Hầu như khơng có sự xem xét, khống chế chi phí của chủ đầu tư trong q

trình xác định dự toán của các tổ chức tư vấn thiết kế. Hiện tại đã có cơ chế thẩm tra,

thẩm định nhưng việc thẩm tra, thẩm định dự toán chỉ có tác dụng kiểm tra sự tuân thủ

các quy định về quản lý chi phí và sau đó sự chính xác của dự toán đề nghị thẩm tra,

thẩm định mà ít có tác dụng khống chế chi phí đầu tư xây dựng cơng trình.

Các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản lý chi phí đầu tư xây dựng với

cơ chế xác định dự tốn theo cơng trình và phù hợp với thị trường đã khắc phục phần

nào tính thiếu chính xác của dự tốn. Tuy nhiên để dự tốn có thể là một mức khống

chế chi phí ở các giai đoạn tiếp theo đòi hỏi dự tốn phải được tính chuẩn xác, đầy đủ.

Để đáp ứng điều này phải có quy trình kiểm sốt đầu tư xây dựng khi xác định dự toán ở

giai đoạn thực hiện dự án mà hiện nay vẫn chưa được giải quyết.

*Tham khảo thêm một số ý kiến về các quy định quản lý dự toán xây dựng của

các Bộ ngành, địa phương:

- Các hướng dẫn hiện hành quy định các phương pháp lập dự tốn xây dựng cơng

trình nhưng một số phương pháp lập dự tốn xây dựng cơng trình khơng rõ, rất khó

cho q trình thẩm tra, thẩm định, đánh giá hồ sơ dự thầu; phương pháp, hướng dẫn

xác định chi phí xây dựng (vật liệu, nhân cơng, máy thi cơng), chi phí thiết bị, chi phí

khác còn thiếu cụ thể, chi tiết [7], [9], [11], [52], [58], [41].

- Nhiều chủ đầu tư, đơn vị tư vấn không đủ năng lực thực hiện việc thẩm định,

thẩm tra dự toán nên dẫn tới cơng trình bị chậm tiến độ, lãng phí vốn đầu tư; quy định

về thẩm quyền thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự

toán xây dựng chưa hợp lý [57].

- Quy định về trường hợp thẩm định từng phần của dự toán xây dựng đối với dự

án có quy mơ lớn, thời gian thực hiện dự án qua nhiều năm, tiến độ gấp, phải tổ chức

triển khai thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi cơng cho từng cơng trình, gói thầu



77



xây dựng theo từng giai đoạn, do đó gây khó khăn lúng túng khi triển khai [11].

3.3.2.2 Kiểm sốt chi phí khi xác định giá gói thầu, giá ký kết hợp đồng

a) Giai đoạn đấu thầu:

Đấu thầu là việc lựa chọn nhà thầu thực hiện các phần việc của cơng trình. Để

thực hiện đấu thầu điều kiện cần thiết là phải có kế hoạch đấu thầu trong đó giá từng

gói thầu đã xác định phải được phê duyệt.

Giá gói thầu được duyệt có vai trò rất quan trọng trong quá trình lựa chọn nhà

thầu. Theo quy định hiện hành, chủ đầu tư chỉ có thể trao thầu cho nhà thầu có giá đề

nghị trúng thầu thấp hơn giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được phê duyệt. Giá gói

thầu cần được xác định chuẩn xác bởi nếu xác định thấp có thể dẫn tới việc khơng nhà

thầu nào có thể đáp ứng yêu cầu về giá, gây lãng phí thời gian do việc phải tổ chức

đấu thầu lại; ngược lại giá thầu xác định cao không phản ánh sát giá trị thực có thể gây

lãng phí cho chủ đầu tư và ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư xây dựng cơng trình. Ngồi

u cầu tính đúng, tính đủ giá gói thầu cần phải đáp ứng yêu cầu làm trần khống chế

chi phí gói thầu và trong một chừng mực nào đó có thể nói giá gói thầu là chi phí tối

đa mà chủ đầu tư có thể chi trả cho nhà thầu khi thực hiện đấu thầu [7], [66].

Tuy nhiên, thực tế đấu thầu trong thời gian qua cho thấy thường có sự sai lệch

giữa giá gói thầu và giá dự thầu của nhà thầu. Có thể xem xét ví dụ sau đây:

Dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến

Thành-Tham Lương. Tại Quyết định số 5944/QĐ-UBND ngày 01/11/2013 và Quyết

định số 4253/QĐ-UBND ngày 17/8/2016 thì phần cơng việc thuộc kế hoạch lựa chọn

nhà thầu: vốn đối ứng là 1.563.328.241.000 đồng do khơng thực hiện gói thầu tư vấn

khảo sát, thiết kế bản vẽ thi cơng-dự tốn di dời, tái lập hệ thống các cơng trình hạ tầng

kỹ thuật thay bằng cách bổ sung thêm 04 gói thầu làm tăng 888,878 t đồng.

Phân tích việc phải bổ sung giá gói thầu trên do những nguyên nhân chủ yếu sau:

- Giá gói thầu được xác định căn cứ trên dự tốn gói thầu được thẩm tra, phê

duyệt. Một khi dự tốn được xác định khơng chính xác dẫn tới giá gói thầu không phù

hợp [7]. Nguyên nhân gây ra việc dự tốn xác định thiếu chính xác đã được nêu ở phần

trên.

- Thiếu sự đồng nhất về một số cơ sở xác định giá dự thầu của nhà thầu và dự

toán dùng để làm giá gói thầu [62], [7], [53], [40]. Trong khi dự tốn dùng làm giá

gói thầu chỉ căn cứ theo bản vẽ thiết kế, hệ thống đơn giá xây dựng tỉnh, thành phố,

các quy định về lợi nhuận định mức và chi phí chung cứng nhắc thì nhà thầu lập giá



78



dự thầu ngồi u cầu thiết kế còn phải đáp ứng các yêu cầu, chỉ dẫn trong hồ sơ mời

thầu, giá xây dựng phù hợp với thời điểm thị trường và điều kiện cụ thể của cơng

trình... Giá gói thầu xác định theo dự tốn khơng hề tính đến những yếu tố quy định

trong hồ sơ mời thầu mà các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định giá dự

thầu như:

Bảng 3.5: Tổng mức đầu tư dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố

Hồ Chí Minh tuyến Bến Thành-Tham Lương

TT



Khoản mục chi phí



1



Chi phí khác



2



Dự phòng phí



3



Chi phí thuế



4



Giá trị điều chỉnh

(T đồng)

7,182

126,924

70,359



Chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng và di dời cơng

trình hạ tầng kỹ thuật

Tổng cộng



684,413

888,878



(Nguồn: Quyết định số 6199/QĐ-UBND ngày 25/11/2016)

+ Loại hợp đồng sử dụng để ký kết. Đối với hợp đồng trọn gói khơng điều

chỉnh giá, nhà thầu đương nhiên phải tính các yếu tố trượt giá vào đơn giá dự thầu

(không phản ánh đúng giá tại thời điểm đấu thầu), ngược lại nếu hợp đồng có điều

chỉnh giá thì giá dự thầu có thể phản ánh giá tại thời điểm đấu thầu nhưng lại phải

tính đến các yếu tố trượt giá khi thanh tốn [11].

+ Phương thức thanh toán: t lệ tạm ứng, lần thanh toán, khoản tiền giữ lại khi

thanh toán, yêu cầu bảo hiểm, điều kiện giao hàng...đều có tác động đến giá gói thầu

và nhà thầu dự thầu đều phải tính tốn và phản ánh vào giá gói thầu.

b) Giai đoạn ký kết hợp đồng và thanh toán hợp đồng

Kiểm soát hợp đồng và giá ký kết hợp đồng là quan trọng, nó khơng chỉ phản

ánh giá tại thời điểm ký kết mà còn ảnh hưởng tới chi phí thực phải trả cho nhà thầu

thực hiện hợp đồng và khả năng kiểm sốt được chi phí trong q trình thực hiện. Trên

thực tế việc kiểm sốt chi phí ở giai đoạn này ít được chú ý bởi do một số nguyên

nhân sau đây:

- Việc đánh giá lựa chọn nhà thầu được thực hiện bởi tổ chuyên gia giúp việc

đấu thầu mà các chuyên gia này đôi khi không phải của chủ đầu tư. Điều này có nghĩa



79



là trách nhiệm với các phát sinh có thể có sau này ít được xem xét một cách kỹ càng hơn.

- Việc thương thảo hợp đồng thường chỉ chú ý tới việc giải quyết các vấn đề về

mặt kỹ thuật mà ít chú ý tới các vấn đề liên quan tới giá hợp đồng và các điều kiện

thương mại, tài chính có thể ảnh hưởng tới việc thanh toán hợp đồng.

- Thiếu những cá nhân thuộc chủ đầu tư có trình độ chun mơn đủ khả năng

đánh giá về những rủi ro có thể gặp phải khi chuẩn bị ký kết hợp đồng (các phát sinh

và điều kiện để giải quyết, thời điểm bắt đầu tính trượt giá và các hệ số sử dụng khi

tính trượt giá ...) ảnh hưởng lớn tới giá thanh toán cuối cùng và hơn cả là khả năng có

thể kiểm sốt được chi phí thanh tốn trong q trình thực hiện hợp đồng [8].

- Mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng chưa được các bên

thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Mức tạm ứng và số lần tạm ứng hợp đồng xây dựng

không ghi cụ thể trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu hoặc trong dự thảo hợp đồng xây

dựng gửi cho bên nhận thầu để bên nhận thầu làm cơ sở tính tốn giá dự thầu, giá đề

xuất [13].

- Việc kiểm soát thanh toán chưa được chú trọng đúng mức. Việc đối chiếu

các điều kiện thanh toán, kiểm tra khối lượng thực hiện để thanh toán, xác định giá trị

thanh toán hầu như phụ thuộc vào sự xác nhận của tư vấn giám sát hoặc tư vấn quản lý

xây dựng, những người này thường ít chú ý tới chi phí cuối cùng của hợp đồng cũng

như trách nhiệm khống chế chi phí thực hiện hợp đồng trong giá hợp đồng đã ký kết.

- Việc kiểm sốt, khống chế các chi phí có khả năng phát sinh trong q trình

thực hiện hợp đồng cũng thực hiện khơng tốt. Thường khơng có cảnh báo nào hoặc

biện pháp nào được đưa ra để hạn chế khả năng này do vậy chủ đầu tư thường bị động

với các vấn đề về chi phí phát sinh và hầu như các hợp đồng đều có chi phí phát sinh

do vậy giá thanh lý hợp đồng thường cao hơn giá ký kết hợp đồng ban đầu.

- Chưa có quy định về tạm thanh toán do đặc thù của sản phẩm xây dựng và

sản xuất xây dựng, hầu hết q trình thanh tốn hợp đồng xây dựng là thanh toán sản

phẩm dở dang, nhiều trường hợp chưa đủ điều kiện thanh tốn, trong khi đó giá trị

khối lượng cơng việc của bên nhận thầu thực hiện rất lớn [13].

3.3.3 Kiểm sốt chi phí giai đoạn kết thúc xây dựng đưa cơng trình của dự án vào khai

thác sử dụng

Số liệu tại Bảng 3.6 cho thấy, giá trị quyết toán của các khoản mục chi phí đã

thay đổi so với giá trị được duyệt ban đầu và có những khoản mục chi phí thay đổi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Thực trạng kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước theo trình tự đầu tư xây dựng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×